Thông tin

ĐỨC PHẬT THỊ HIỆN YAMAKAPĀṬITHĀRIYA

 NHIẾP PHỤC DÒNG HỌ SĀKYA

 

VŨ ĐÌNH LÂM

 


 

Ngài Đại Đức Kāḷudāyī đảnh lễ Đức Phật, tán dương ân đức của Đức Phật với 64 câu kệ rồi thưa: "Nay, đúng lúc hợp thời xin kính thỉnh Đức Phật ngự trở về kinh thành Kapilavatthu, để Đức vua Suddhodana, Đức Phụ vương của Ngài chiêm bái, đảnh lễ Ngài, tha thiết muốn nghe Ngài thuyết pháp tế độ dòng tộc Sakya".

Nhận lời thỉnh mời của Ngài Đại Đức Kāḷudāyī, từ ngày 16 tháng 2, Đức Phật Gotama bắt đầu khởi hành từ ngôi chùa Veḷuvana, kinh thành Rājagaha ngự trở về kinh thành Kapilavatthu, cùng với đoàn chư Đại Đức Tăng 20.000 vị, cứ mỗi ngày đi được một do tuần, từ kinh thành Rājagaha đến kinh thành Kapilavatthu cách xa khoảng 60 do tuần. Như vậy, thời gian 2 tháng mới đến kinh thành Kapilavatthu.

Ngài Đại Đức Kāḷudāyī, bậc Thánh A-ra-hán sử dụng thần thông bay trở về kinh thành Kapilavatthu trước, để báo cho Đức vua Suddhodana biết Đức Phật Gotama đang trên đường ngự trở về kinh thành Kapilavatthu.

Nghe tin lành như vậy, Đức vua Suddhodana vô cùng vui mừng hoan hỷ truyền lệnh cho các quan sửa soạn trang hoàng khu vườn Nigrodhārāma của dòng tộc Sakya cho thật trang nghiêm, để chuẩn bị đón tiếp Đức Phật Gotama cùng 20.000 chư Đại Đức Tăng.

Vào ngày 16 tháng 4 (âm lịch), sau khi đã chứng đắc thành Đức Phật Chánh Đẳng Chánh Giác có danh hiệu là Đức Phật Gotama (được 1 năm lẻ 1 ngày), Đức Phật cùng với 20.000 chư Đại Đức Tăng ngự trở về kinh thành Kapilavatthu. Sau 6 năm 10 tháng lẻ 1 ngày xa cách, kể từ khi Ngài còn là Thái tử Siddhattha rời bỏ kinh thành Kapilavatthu trốn đi xuất gia vào đêm rằm tháng 6 năm xưa cho đến nay.

Đức vua Suddhodana cùng tất cả hoàng tộc Sakya, dân chúng đón rước Đức Phật Gotama cùng chư Đại Đức Tăng rất trọng thể. Đức Phật cùng 20.000 chư Đại Đức Tăng ngự đến khu vườn Nigrodhārāma. Một số bậc bô lão trong dòng tộc Sakya có tính ngã mạn nên suy nghĩ rằng: "Đức Phật còn trẻ tuổi cũng như hàng con cháu, còn chúng ta là những bậc bô lão trong dòng tộc Sakya, không nên đảnh lễ Thái tử Siddhattha, nhưng nếu như thế thì sự long trọng không được thể hiện. Vậy chúng ta hãy cho các công nương cùng vương tử trẻ tuổi đứng phía trước để đảnh lễ Thái tử Siddhattha, còn chúng ta sẽ đứng phía sau những công nương cùng các vương tử ấy. Như thế chúng ta không phải đảnh lễ, đồng thời sự long trọng của lễ chào đón Thái tử Siddhattha trở về quê hương sẽ không bị giảm sút”.

Khi Đức Thế Tôn đến thành Kapilavatthu, Ngài cùng 20.000 vị Tỳ khưu đến thẳng vườn Nigrodha. Khi ấy cư dân thành Kapilavatthu đã chuẩn bị sẵn sàng, họ đi đến vườn Nigrodha thành từng đoàn, trên tay cầm hương hoa để cúng dường đến Đức Thế Tôn và Tăng chúng.

Hội đồng bộ tộc sắp xếp cung đón Đức Thế Tôn và Tăng chúng như sau:

Vòng đai đầu tiên là những thanh niên thiếu nữ con của những gia tộc trưởng giả trong thành Kapilavatthu, tiếp theo là vòng đai của các thanh niên thanh nữ con của các quan đại thần, vòng đai thứ ba là các công nương và vương tử trẻ tuổi, sau cùng là các trưởng lão trong bộ tộc. Tất cả đều cầm hương hoa cùng vật thơm dùng những cánh hoa nhúng vào những chậu hương thơm cúng dường đến Đức Thế Tôn và Tăng chúng.

Khi đến vườn Nigrodha, Đức Thế Tôn ngồi vào chỗ đã được soạn sẵn, các vị Tỳ khưu ngồi phía sau Ngài tuỳ theo hạ lạp. Các vương tử cùng các công nương trẻ tuổi đảnh lễ Đức Thế Tôn cùng Tăng chúng, riêng các vị bô lão trong tộc họ Sākya vẫn đứng yên lặng phía sau các vương tử trẻ tuổi.

Trông thấy hiện cảnh này, Đức Thế Tôn suy nghĩ: “Dòng họ Sākya rất tự hào về dòng dõi Khattiya của mình. Hiện họ đang tự hào về tuổi tác, không bày tỏ sự cung kính Đấng Như Lai, chính vì không hiểu biết uy lực của vị Chánh Giác nên họ tự kiêu về dòng tộc cùng tuổi tác một cách vô ích như thế. Vậy Như Lai sẽ cho quyến thuộc của Như Lai biết rõ uy lực của Đấng Chánh Giác, có thế mới nhiếp phục được tính tự kiêu về dòng tộc cùng tuổi tác của họ; Như Lai sẽ thể hiện Song thông lực tại nơi này”.

Ý định thể hiện Song thông lực của Đức Thế Tôn đã làm cho trái đất rung động, các vị Phạm thiên cùng thiên nhân thấy quả đất chuyển động, đưa tâm quán xét biết được ý định của Đức Thế Tôn nên hân hoan tán thán rằng: “Lành thay, lành thay” lan rộng khắp 10 ngàn thế giới.

Đức Thế Tôn an trú tâm vào Tứ thiền với Odātakasina (màu trắng trong sạch hay còn gọi là đề mục trắng), khi xuất khỏi Tứ thiền, Đức Thế Tôn quyết định: “Cả 10 ngàn thế giới này sáng rực lên, tất cả chúng sinh đều có thể thấy rõ từ cõi Phạm thiên Akaniṭṭha (Sắc Cứu cánh) đến tận cõi Avīciniraya (Atỳ điạ ngục)”, Đức Thế Tôn lại nhập vào Tứ thiền với đề mục trắng, rồi xuất khỏi Tứ thiền, lập tức 10 ngàn thế giới xuất hiện rõ ràng trước mắt của nhân loại, chư thiên và Phạm thiên. Trông thấy cảnh tượng này chúng sinh nhân loại, chư thiên cùng Phạm thiên tán thán vang dội: “Lành thay, lành thay”.

Trong khi chúng sinh đang hân hoan, Đức Thế Tôn lại an trú tâm vào Tứ thiền với đề mục pathavīkasina (đề mục đất), xuất ra khỏi Tứ thiền, Đức Thế Tôn quyết định: “Hư không hãy trở nên rắn chắc như đất”, sau khi quyết định, Đức Thế Tôn nhập vào Tứ thiền với đề mục đất, rồi xuất khỏi Tứ thiền, hư không trở nên rắn chắc, từ chỗ ngồi Đức Thế Tôn đứng dậy đi vào hư không như đi trên đất bằng.

Từ trên hư không, Đức Thế Tôn lại an trú tâm vào Tứ thiền cùng một lúc với hai đề mục: Lửa (tejo) và nước (āpo), khi xuất khỏi Tứ thiền, Đức Thế Tôn quyết định: “Nước và lửa hãy phún ra từ thân của Đấng Như Lai”, rồi Đức Thế Tôn lại nhập vào Tứ thiền với hai đề mục trên, xuất khỏi Tứ thiền, điều quyết định của Đức Thế tôn trở thành hiện thực (diễn đạt thì lâu như thế, nhưng diễn tiến những sự kiện này chỉ xảy ra trong cái duỗi tay).

Nước và lửa cùng một lúc phún ra từ thân của Đức Thế Tôn theo 12 nơi như sau:

1 - Phần trên thân và phần dưới thân (nghĩa là phần trên thân của Đức Thế Tôn phún ra nước thì phần dưới thân phún ra lửa hay phần trên thân phún ra lửa thì phần dưới thân phún ra nước. Cứ như thế mà xoay vòng, những tia lửa không trộn lẫn vào nước, những tia nước không trộn lẫn vào lửa).

2 - Phía trước thân và phía sau thân (nghĩa là phía trước thân phún ra lửa thì phía sau thân phún ra nước, hay phía trước thân phún ra nước thì phía sau thân phún ra lửa, cứ thế mà xoay vòng. Những phần sau cũng tương tự như thế, xin độc giả hiểu theo mô thức tương tự như thế).

3 - Ở mắt phải và mắt trái.

4 - Ở lỗ tai phải và lỗ tai trái.

5 - Ở lỗ mũi phải và ở lỗ mũi trái.

6 - Ở vai phải và vai trái.

7 - Ở tay phải và tay trái.

8 - Ở cạnh sườn phải và cạnh sườn trái.

9 - Ở chân phải và chân trái.

10 - Ở các ngón tay, kẽ tay, ngón chân và kẽ chân (như ngón tay phún ra lửa thì ngón chân phún ra nước rồi ngược lại; hoặc ngón tay phún ra lửa thì kẽ tay phún ra nước rồi ngược lại; hoặc ngón chân phún ra lửa thì kẽ chân phún ra nước rồi ngược lại; hoặc kẽ tay phún ra lửa thì kẽ chân phún ra nước rồi ngược lại).

11 - Ở mỗi sợi lông.

12 - Ở các lỗ chân lông.

Nước và lửa ấy tựa như đám bụi từ thân Đức Thế Tôn rơi xuống đại chúng rồi tan biến ngay, hào quang toả ra từ nước và lửa xen lẫn vào với nhau rất xinh đẹp tựa như hàng vạn tinh tú rơi xuống bất tận.

Tiếp theo, Đức Thế Tôn thể hiện song thông lực bằng cách khác: Hào quang xanh và đỏ từ thân của Ngài phún ra (cũng từ 12 nơi như nước và lửa), hào quang vàng và trắng từ thân Ngài phún ra…

Trên đường kinh hành lại xuất hiện một vị hoá Phật giống như Đức Thế Tôn, không một chúng sinh nào có thể phân biệt: Đây là hiện Phật, đây là hoá Phật. Khi hiện Phật đi thì hoá Phật ngồi hay nằm hoặc đứng; khi hiện Phật đứng thì hóa Phật ngồi hay nằm … Rồi hào quang sáu màu từ Phật thân rực chiếu: Sáu màu đó là: Màu xanh (da trời), vàng, đỏ, trắng, cam và màu chói sáng do 5 sắc hoà lại với nhau.

Nhìn thấy uy lực của Bậc Chánh Giác, vua Suddhodana kính cẩn cúi mình xuống đảnh lễ Đức Thế Tôn, nói rằng:

"- Kính bạch Thế Tôn, khi Ngài sinh ra được ba ngày, vị Đại tiên Kāḷadevila đến viếng thăm, trong lúc ta chắp tay hướng về Đạo sĩ Kāḷadevila để tỏ sự tôn kính vị ấy. Bấy giờ, bàn chân của Ngài đã duỗi ra đặt lên búi tóc của Đạo sĩ Kāḷadevila, Đạo sĩ Kāḷadevila đã đảnh lễ Ngài, theo đó ta cũng đã đảnh lễ Ngài. Đó là lần thứ nhất ta đảnh lễ Ngài.

Khi Ngài được 7 tuổi, vào buổi lễ Hạ điền của dòng tộc Sākya, Ngài được đặt ngồi nơi gốc cây trâm, trong khi chúng dân vui chơi lễ hội, Ngài trầm tư trong thiền tịnh. Những cây cao khác bóng ngả về chiều, riêng bóng cây trâm nơi Ngài ngự vẫn đứng thẳng như che mát cho Ngài, thấy thế, ta đã đảnh lễ Ngài. Đó lần thứ hai ta đảnh lễ Ngài. Giờ đây, được chứng kiến uy lực của Đấng Chánh giác, ta kính đảnh lễ Ngài lần thứ ba".

Khi vua Suddhodana đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn, tất cả những người trong bộ tộc Sākya đều quỳ xuống đảnh lễ Đức Thế Tôn.

Bấy giờ, Đại Phạm thiên Sahampati chấp tay đảnh lễ Đức Thế Tôn, thỉnh cầu rằng: “Ở đây có những chúng sinh có bản chất ít ô nhiễm, xin Ngài hãy vì lòng bi mẫn thuyết giảng Giáo pháp đến các chúng sinh này”.

Đức Thế Tôn nhập vào Tứ thiền, khi xuất ra khỏi Tứ thiền, Đức Thế Tôn quyết định: “Một con đường kinh hành bằng ngọc báu bắt từ Đông sang Tây giữa 10 ngàn thế giới hãy khởi lên”.

Ngài lại nhập vào Tứ thiền rồi xuất khỏi Tứ thiền, lập tức một con đường kinh hành bằng ngọc báu xuất hiện đúng theo ý của Đức Thế Tôn.

Đức Thế Tôn từ chỗ ngồi đứng dậy, Ngài bước lên con đường kinh hành làm bằng ngọc báu và đi kinh hành trên con đường ấy.

Ngài Buddhadatta trong tập Sớ giải Phật sử (Buddhavaṃsa - Atthakathā) có mô tả “Con đường kinh hành châu báu” như sau:

Con đường kinh hành châu báu lấy thế giới này là trung tâm, điểm giữa con đường kinh hành chính là đỉnh núi Sineru (TuDi) của luân vi (cakkavāla) này, trên đỉnh núi Sineru là một cột bằng vàng chống đỡ con đường kinh hành. Từ điểm giữa này chạy thẳng về hướng Đông, trên những đỉnh núi Sineru của các luân vi khác là những trụ cột bằng vàng chống đỡ con đường kinh hành. Tương tự như thế về phương Tây.

Con đường kinh hành châu báu này có hai tầng: Tầng trên gọi là “trên đường kinh hành”, tầng dưới gọi là “dưới đường kinh hành”.

Ở hai bên (trên hay dưới đường kinh hành) được giới hạn bởi lan can bằng vàng thuần chất với những hoa văn trang trí rất mỹ thuật và xinh đẹp, các mối nối kết giữa hai tầng được chạm trổ hoa văn xinh đẹp.

Sàn đường là những tấm ván bằng vàng, trên sàn đường được khảm vô số châu ngọc, ngọc maṇi, ngọc trai được nghiền nhỏ như cát mịn trải lên trên mặt đường Đức Thế Tôn đi trên lớp châu báu rất êm chân.

Ánh sáng phát ra từ những loại ngọc báu liên kết với nhau từng cặp rất sinh động tuyệt đẹp.

Ánh sáng từ con đường kinh hành châu báu toả lan rộng khắp 10 phương, Đấng Như Lai đi kinh hành trên đường châu báu tựa như toàn thân của Ngài phát ra ánh sáng cùng khắp 10 phương hướng.

Tất cả Phạm thiên (trừ Phạm thiên cõi Vô sắc và cõi Vô tưởng) trong 10.000 thế giới vận y phục trắng tinh khiết đứng chắp tay qua khỏi đầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, tán thán rằng:

Đức Thế Tôn, Ngài là bậc đã chiến thắng ngũ ma.

Đức Thế Tôn, Ngài là bậc mang lại hạnh phúc cho tất cả chúng sinh.

Đức Thế Tôn, Ngài là bậc bảo vệ hạnh phúc cho tất cả chúng sinh.

Đức Thế Tôn là bậc có lòng bi mẫn đối với tất cả chúng sinh”.

Các thiên nhân trong 10.000 thế giới hân hoan đi đến con đường kinh hành cúng dường hương hoa. Những thiên nhân không đến được con đường kinh hành do uy lực thấp kém thì ở nơi trong thiên cung của mình, chắp tay đảnh lễ Đức Thế Tôn.

Thiên nhân mang những cánh hoa trời như Mandārava (Mạnđàla), hoa Paricchattaka (hoa San hô) cúng dường, ngoài ra còn có các loài rồng, Kim xí điểu (Garuda) cùng đến đảnh lễ cúng dường hương hoa đến Đức Thế Tôn. Con đường kinh hành châu báu ngập tràn mọi hương hoa của 10 ngàn thế giới. Các Thiên thần nhạc sĩ cùng nhau tấu lên những khúc thiên âm thù diệu bằng các loại nhạc cụ như: Trống da, trống con, tù và, đàn vinā, đàn 7 dây… để cúng dường Đức Thế Tôn, các thiên nữ vũ công với thiên y sặc sỡ múa hát bằng những vũ khúc điêu luyện, trên không trung những cờ phướn chư thiên tung bay khắp nơi cúng dường đến Đức Thế Tôn.

Dù con đường kinh hành trải dài khắp 10 ngàn thế giới, nhưng Đức Thế Tôn đi đến hết con đường (khi đi chưa hết con đường, Đức Thế Tôn không hề quay lại) rồi quay trở lại với thời gian nhanh chóng như đi trên con đường dài 4 hắc tay.

Tuy con đường kinh hành rộng lớn nhưng Đức Thế Tôn đi kinh hành trên con đường ấy, tựa như đang đi trên con lộ nhỏ. Do năng lực không thể luận bàn cho hết được của một vị Phật, nên chúng sinh từ cõi Phạm thiên Akaniṭṭha (Sắc cứu cánh) cho đến cõi thấp nhất là Avīciniraya (A-tỳ địa ngục) đều thông suốt, không bị bất kỳ vật gì ngăn che tựa như một dải đất bằng phẳng, nhân loại có thể nhìn thấy chư Thiên, Phạm thiên và ngược lại.

Tất cả nhìn thấy Đức Thế Tôn đang đi kinh hành trên con đường kinh hành bằng châu báu như nhìn thấy vị Samôn đang đi trên đường trước nhà của mình.

Đức Thế Tôn đi kinh hành trong tư thế tự tại, tâm Ngài an trú vào Thánh quả định (phalasamāpatti). Chư thiên, Phạm thiên, nhân loại tán thán “Sādhu, sādhu: Lành thay, lành thay” vang dội.

Bình luận bài viết

    Tin sinh hoạt phật sự

    Video bài giảng

    Pháp âm

    • Mẹ ơi - Thơ: Thích Phước Hạnh - Nhạc: Hoàng Lan
    • Khúc ca Tịnh Độ - Lời: Thích Phước Hạnh - Nhạc: An Sơn
    • Nụ cười da cam - Nhạc: Trần Đức Tâm - Thơ: Nguyễn Ngọc Mai
    Pháp âm khác...

    Thống kê truy cập

    • Online: 18
    • Số lượt truy cập : 3739676