Thông tin

QUẢ LÀNH CÓ 5 GIÁC QUAN KỲ DIỆU (tt)

QUẢ LÀNH CÓ 5 GIÁC QUAN KỲ DIỆU (tt)

(Kusalaphalànam pañca savimhaya dvàrà)

 

TUỆ LẠC - NGUYỄN ĐIỀU

 

III. CƠ QUAN THÍNH GIÁC (LỖ TAI)

 

 

Phật giáo gọi cơ quan này là “nhĩ căn”(Sota dvàra hay cửa giác quan nhận âm thanh), và gọi cái biết qua cơ quan này là “nhĩ thức” (Sota viññàna).

Nhĩ căn (hay nhĩ quan) của một con người là “cửa” để những tiếng động lớn nhỏ, xa gần, của ngoại giới đập vào trí óc. Tất cả những tiếng động ấy (gồm đủ các loại, từ nhạc điệu du dương êm dịu, trầm bỗng…cho đến những ồn ào náo nhiệt, chói tai nhức óc), đuợc nhà Phật gọi chung bằng một cái tên rất Phật học, là thanh trần.

Tinh tế hơn nữa, nhĩ thức đối với nhà Phật không phải là khả năng chỉ hiểu biết, phân biệt những thanh trần từ bên ngoài, mà nó còn có thể “nghe được” những “ba động tinh thần” hay âm thanh từ bên trong nữa.

Ðức Phật đã khám phá ra cái diệu năng này của nhĩ thức phối hợp với thân thức, qua công phu hành thiền tức quán (niệm hơi thở = Ànàpànasati), để cảm nhận được sự sinh diệt nơi chính nội thân mình, trong từng sát-na). Nhờ môn “Như Lai Thiền” này mà sau 49 ngày tĩnh tọa, “đạo sĩ” Sĩ-đạt-ta (Siddhatta) đã trở thành Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni, dưới tàng cây Bồ-đề (Bodhirukkha), bên giòng sông Ni-liên, cách nay hơn 25 thế kỷ. Và giáo lý của Ngài đã được các “Thanh văn Đệ tử” lưu truyền trong nhân gian cho đến ngày nay.

Dĩ nhiên, không có nhĩ căn thì nhĩ thức thiếu yếu tố để biểu lộ. Vì vậy, tìm hiểu “nhĩ căn” theo phân tích khoa học, cũng là một việc rất bổ ích, vì nó soi sáng cho kiến thức, về phương diện cấu tạo sinh vật nhân thể (Biologie).

Nhĩ căn (hay cơ quan thính giác) gồm ba phần:

1 / Phần ngoài: Vành tai, bộ phận dễ nhìn thấy nhất (cũng gọi là “loa tai”=Le Pavillon). Nó dùng để “hứng” và “khuếch đại” những tiếng động ở ngoài. Bên dưới loa tai có một “mảnh thịt” nhỏ bằng đốt ngón tay, gọi là “hoa tai” (=Globe). Hoa tai là một “dụng cụ” nhạy tiếng động, vì bên trong tập trung nhiều “tiểu trượng cảm giác” (Batonnets de sensibilité). Ở giữa vành tai có lỗ tai hình xoáy, trên mặt mọc nhiều lông thẳng, xếp thành hình một cái phểu (Filtre), để giữ hơi ấm, và ngăn bụi, không cho xâm nhập vô trong. Những lông thẳng này cũng có tác dụng vô hiệu hóa các luồng “ác khí” (hơi độc), không để tự do nhiễm độc vào đầu não con người. Tuy nhiên, vành tai không phải là thành phần tối cần thiết. Vì một người bị tai nạn chẳng còn vành tai, thì trên phương diện thẩm mỹ, họ chỉ kém vẻ đẹp thôi, nhưng họ vẫn nghe được. Sự nghe không vì vậy mà biến mất.

2/ Phần giữa gọi là “vùng lông mi” (partie ciliée). Ðây là một “thông quan” hình xoắn, có mọc đầy lông nhỏ (cils), mà rễ lông cắm vào lớp tế bào cảm giác (cellules sensorielles). “Thông quan” hình xoắn này nằm tiếp giáp với bộ phận chính của nhĩ căn. Nó giống hình một ốc sên (appareil cochlaire). Vai trò của “thông quan” là thường trực làm vật “dẫn đường” cho những “làn sóng âm thanh” loang tới, và dội vào trung ương của nhĩ căn, để trung ương nhĩ căn “cô đọng” thành một thọ uẩn (Formation d’agglomération) mà nhà Phật gọi là nhĩ thức. Thọ uẩn là một trong năm uẩn tạo thành sự sống cảm giác linh động của con người.

Như trên đã nói: “Nhĩ thức không phải chỉ phân biệt, hiểu biết những âm thanh từ bên ngoài, mà nó còn có khả năng nghe được những ba động tự tạo từ trong thân nữa”. Ðây là một quán xuyến kỳ diệu của nhĩ thức con người qua bộ óc. Và căn cứ vào đó nhà Phật đã chỉ ra một pháp tu, gọi là “quán thọ niệm xứ qua nhĩ thức” (Sotavedanàviññànaṃ satipatthàna) (Tạm dịch là thanh tịnh tự biết về mình qua nghe biết).

Tưởng cũng nên nói rõ ở đây một chút, rằng thiền pháp trong Phật giáo vốn có hai là “thiền chỉ tịnh”(= ĐỊNH) và “thiền minh sát” (=QUÁN). Thiền chỉ tịnh làm cho tâm hành giả an trú vào một đề mục. Thiền minh sát giúp tâm hành giả tỉnh táo quan sát chính mình. Riêng “phép quán thọ niệm xứ” là một chi thiền trong Tứ Niệm Xứ (Catu Saṭipatthàna), gồm niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, và niệm pháp. Bốn phép quán niệm này thuộc về “nội thân minh sát” (Vipassanà) hay “thực tại cảm quán”. Nó đương nhiên thuộc về “minh sát”. Nhưng Thiền Tức Quan, theo dõi hơi thở (Anàpànasati), có thể xem là tổng hợp hiệu quả của cả hai môn chỉ tịnh (ĐỊNH
= Samàdhi) và minh Ssát (QUÁN = Vipassanà).

Nghĩa là hành giả cần định tâm trước khi quan sát. Chưa định tâm mà quan sát thì thấy không đến nơi đến chốn!

Trở lại sự quan sát khoa học qua nhĩ căn: Khi bên ngoài không tiếng động, mà chúng ta vẫn nghe có âm thanh nơi thính giác. Ðó là do “hóa ứng” của bộ phận “ốc sên” kích thích (oto-émission). Những “tế bào ngoại my” (cellules ciliées externes) của bộ phận này có tính tự động co dãn, tùy theo nhịp độ tri thức của hệ thống thần kinh, khiến cho các vi mao của nó rung chuyển, làm ra những “âm ba” (hóa ứng) trong lỗ tai. Những âm ba (ondes) này đương nhiên cũng được thọ ký vào não bộ (Tonocopie).

3/ Phần trong cùng gọi là “trung ương” của thính giác. Trung ương thính giác nằm phía sau bộ phận ốc sên. Những công trình nghiên cứu để biết rõ trung ương thính giác này hiện nay đã mang lại nhiều kết quả soi sáng khả quan. Ðó là việc xác nghiệm được “hệ tế bào thần kinh” nằm trong tiến trình “hóa tin” của bộ phận ốc sên (neurochimie cochlaire) hoạt động như thế nào. Mục đích là xác định cách chuyển các tín hiệu âm thanh vào não bộ. Nhờ kết quả sự soi sáng này mà các nhà nghiên cứu bệnh lý học (pathologie) mới tìm ra được nguyên nhân của bệnh điếc.

Về phương diện tác dụng, tuy phần ngoài (vành tai) chỉ là phần thuần túy vật chất (thể xác) kém quan trọng, nhưng phần giữa (ốc sên) và phần trong cùng (trung ương thính giác) lại chính là hai bộ phận rất quyền biến. Hai bộ phận ấy khi phối hợp thì có cả cơ năng lẫn linh năng. Cơ năng chủ về điều chỉnh và quân bình sự hoạt động của thính quan. Còn linh năng chủ về đem lại sự giao cảm hiểu biết trong cái nghe.

Như đã nói qua ở trên, phần giữa (ốc sên) lại có một cái ống gọi là “thông quản” (la trompe d’eutache) nối liền với cổ họng, để cho không khí được lưu thông bên trong. Nhờ đó mà có sự quân bình sức ép (cơ năng) của hai “màng tang” (hay hai thái dương), khi nhĩ căn hoạt động. Còn phần trong cùng (trung ương) chỉ lớn bằng hạt giẻ, mà nó lại chứa được vô số “tuyến truyền tin”, nhiều bằng số dây trong một trung tâm điện thoại của một thành phố cỡ lớn. Phần trong cùng này thật vô cùng kỳ diệu. Nó chủ về sự điều chỉnh cái nghe và chuyển ra sự hiểu biết (Linh năng của nhĩ thức).

Các hiền nhân trong Phật đạo xưa nay thường ví nhĩ căn phàm tình như con dao hai lưỡi, bên nào cũng sắc bén cả. Nếu dùng nó bên phía công cụ nghe của tham sân si, thì tâm thức sẽ bị nó chém cho bầm dập, tàn tật. Nhưng nếu dùng nó bên phía hướng về những pháp âm chân thật, lành mạnh, hướng nội, cao thượng thì tâm thức lại được thường xuyên an lạc, sáng suốt, vuông tròn.

Vì trong pháp âm chân thật, lành mạnh, hướng nội, cao thượng ấy không có kiến chấp, nên tánh nghe, tánh biết vẫn tinh anh thường trụ. Thường trụ có nghĩa là thông qua tất cả, vô ngăn ngại, “không vì có âm thanh mới có tánh nghe, tánh biết” hoặc “chẳng vì không có âm thanh mà tánh nghe, tánh biết biến mất”. Bậc đại từ đại bi, chánh đẳng chánh giác hằng nghe biết tất cả, nhưng không câu chấp, nên các Ngài chẳng bị pháp ác làm tổn thương. Nhờ vậy, các Ngài mới ung dung trong các cõi ta bà khổ đau, cứu độ muôn loài mà tâm thức hoàn toàn không chứa đựng phiền não.

Trong kinh “Thủ Lăng Nghiêm”, đức Bồ tát Quán Thế Âm có đoạn đã nói “... Phải biết tự nghe (trong bản linh thường trụ vô ngại vượt qua mình) thì mới nghe nổi tiếng kêu của chúng sinh (bất hạnh), để dung thông thấu hiểu được tâm thành của họ (mà từ bi cứ độ)…”.

Thử nêu một chuyện lạ thường: Khi lấy một vỏ ốc lớn áp vào lỗ tai, thì người ta nghe được “âm thanh” từ đại dương, như tiếng sóng vỗ ầm ì của biển cả. Những người không hiểu thì cho rằng đây là hiện tượng “bí mật” của vũ trụ. Nhưng kỳ thật đó không phải là tiếng động của biển cả, mà là “tiếng dội” của phần giữa nhĩ căn, khi các vi mao trong bộ phận ốc sên thường xuyên hoạt động, “cọ xác”…!

Con người lúc về già thì cái nghe tự nhiên giảm đi, vì cái màng “cổ mạc” (còn gọi là “mặt trống” hay lá nhĩ) nằm giữa “bộ phận ốc sên” và trung ương thính giác bị dùn lại. Người bị bệnh tê liệt bán thân hay toàn thân cũng bị giảm cái nghe.

Xin nói sơ về đơn vị đo âm thanh. Khoa học gọi đơn vị này là “Décibele”, tương đương vớí một phần mười tiếng gõ lên bản đồng. Và âm giai thông thường đủ để cho tai nghe là 10 décibeles. Còn sức mạnh cao thấp giữa các bậc âm giai thì lại gấp nhau 10 lần nhiều hơn hay ít hơn. Ví dụ, một vật có âm giai 30 décibeles thì mạnh hơn một vật có âm giai 20 décibeles đến 10 lần, hay một vật có âm giai 40 décibeles thì mạnh hơn một vật có âm giai 30 décibeles đến 10 lần…

Và cái màng “cổ mạc” (lá nhĩ) trong trung ương lỗ tai chỉ chịu nổi một âm giai cao nhất là 80 décibeles trong một thời gian ngắn. Nếu kéo dài âm giai 80 décibeles này bên lỗ tai một người hơi lâu, thì họ sẽ bị điếc. Ðây chính là lý do những nạn nhân chiến tranh
bị kẹt trong vùng dội bom, về sau mang bệnh điếc. Lớp “lông mi” trong bộ ốc sên rất “ghét” tiếng động lớn.

Bình luận bài viết

    Tin sinh hoạt phật sự

    Video bài giảng

    Pháp âm

    • The Chant of Metta (GS Nguyễn Điều)
    • Namotassa UNESCO (GS Nguyễn Điều)
    • Kinh Vô lượng thọ (phần 1) - Tỳ kheo Thích Trí Thoát
    Pháp âm khác...

    Thống kê truy cập

    • Online: 25
    • Số lượt truy cập : 1620896