TỊNH ĐỘ ĐẠI KINH GIẢI DIỄN NGHĨA - TẬP 72

Chủ giảng: LÃO PHÁP SƯ TỊNH KHÔNG
*****
Trưởng ban biên dịch:
TK. Thích Đồng Bổn
QUYỂN 8
(Tập 71-80)
TẬP 72
Giảng ngày 07 tháng 7 năm 2010
Tại Phật Đà Giáo Dục Hiệp Hội HongKong
Chuyển ngữ: Nguyên Thanh - Biên tập: Bình Minh
Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin mời ngồi xuống. Mời quý vị xem “Đại thừa Vô Lượng Thọ Kinh Giải”, 2 dòng cuối cùng trang 62.
Ất, Đồng loại, phàm xương đạo ức niệm Di Đà nguyện sinh Cực Lạc chi kinh điển quân thuộc đồng loại, kỳ trung diệc hữu thân sơ, dĩ trì danh niệm Phật vi thân, kỳ tha vi sơ (Hai, Nói về đồng loại: Phàm các kinh điển nào hướng dẫn việc nhớ niệm Di Đà nguyện sinh Cực Lạc, đều thuộc là đồng loại. Trong đó cũng có thân, sơ. Lấy Trì danh Niệm Phật là thân, còn các tu tập khác là sơ).
Trước nói rõ, cùng một bản kinh ngoài đồng bộ ra còn có đồng loại. Dưới đây Hoàng lão cư sĩ nêu ra cho chúng ta thấy.
Đồng loại:
Một là Phật thuyết quán Vô Lượng Thọ Kinh, cùng với hai kinh Đại bản, Tiểu bản ở trên gọi chung là Tịnh độ Tam Kinh.
Nãi Tịnh Tông cơ bản kinh điển cụ đàm thập lục diệu môn (Chính là kinh điển cơ bản của Tịnh tông nói đầy đủ 16 diệu môn), tức là 16 pháp quán.
Khuyến đạo quán tưởng niệm Phật dữ trì danh niệm Phật (Khuyên tu Quán tưởng Niệm Phật và Trì danh Niệm Phật). ‘Thập Lục Quán kinh’ là một bộ kinh quan trọng nhất của Tịnh Độ tông, chúng ta có thể nhận định như vậy. Đại thừa Vô Lượng Thọ Kinh là khái luận Tịnh Độ tông, từ các phương diện đến giới thiệu pháp môn này. Kinh A Di Đà tiểu bản, rất tiện để thọ trì, cho nên hơn một ngàn năm nay, người tu Tịnh độ đều đem bản kinh này làm thành khóa tụng buổi sáng và tối, vô cùng giản đơn, đây là từ bi vô lượng của đức Thế Tôn, đích thực cho chúng ta một pháp môn, một phương pháp rất dễ tu học.
‘Thập Lục Quán kinh’ tức là Vô Lượng Thọ Phật Kinh, trong kinh giảng về 16 pháp quán, trong đó có Quán tưởng Niệm Phật, có Quán tượng Niệm Phật, có Trì danh Niệm Phật. Cuối cùng, quán thứ 16 là Trì danh Niệm Phật, càng ở sau cùng, pháp môn này càng quan trọng. Thời xưa, Trung Quốc và Ấn Độ đều có quan điểm này, cái tốt nhất, cái thù thắng nhất là đặt ở sau cùng. Trong biểu diễn văn nghệ như tuồng hát, vở kịch hay nhất thường xếp ở sau cùng, khiến khán giả càng xem càng có hứng thú. Nếu như vở kịch hay nhất diễn trước, xem xong rồi, vở sau không bằng vở trước thì mọi người không xem mà bỏ đi. Cái hay nhất nên xếp ở sau cùng.
Vậy chúng ta hiểu rằng trong 16 quán, đem Trì danh Niệm Phật xếp ở sau cùng, như thế biết được phương pháp tu học của Tịnh Độ tông, trên thực tế Trì danh thù thắng hơn Quán tưởng và Quán tượng. Vì sao vậy? Những kinh này trước đây tôi đã giảng qua rồi. Khi tôi học Quán Kinh, đã từng hỏi thầy Lý, hỏi ông ấy về Quán tưởng, Quán tượng trong 16 quán, còn Thật tướng Niệm Phật thì chưa đề cập đến.
Quán tưởng có 14 loại. Trí Giả Đại sư đời nhà Đường tu Quán tưởng Niệm Phật mà được vãng sinh, cho nên pháp môn này cũng được truyền đến Hàn Quốc và Nhật Bản. Ở Trung Quốc, tu pháp môn Quán tưởng không nhiều, tôi hỏi thầy tại sao như vậy? Thầy nói với tôi rằng, vì Quán tưởng không dễ thành tựu! Ví dụ quán thứ nhất, quán tưởng mặt trời, cái gì gọi là thành tựu? Quý vị mở mắt nhìn buổi hoàng hôn mặt trời xuống núi, vậy thì mặt trời ở trước mặt quý vị, quý vị thật sự nhìn thấy được. Khi nhắm mắt lại, cảnh tượng này cũng ở trước mặt quý vị, thử xem đến lúc nào quý vị mới quán thành được? Thật sự quán thành rồi vãng sinh đến thế giới Cực Lạc Tây Phương, thì phải đem các thứ này bỏ đi. Không đem nó bỏ đi, thì ta chấp tướng rồi. “Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng”, quý vị phải bỏ nó đi. Bỏ các thứ này đi thành tựu hơn quán tưởng, khỏi phải mất công, khỏi phải khó khăn.
Thầy nói, niệm Phật tốt, niệm Phật chỉ cần một câu danh hiệu, muốn buông bỏ thì rất đơn giản. Buông bỏ dễ hơn quán tưởng nhiều.Thiết nghĩ cũng có lý, cho nên cần ghi nhớ, câu nói này trong kinh là nguyên tắc chung, cương lãnh chung: Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng.
Tại sao bảo ta phải tu quán? Nghĩa là bảo ta phải đem các tạp niệm khác trừ bỏ đi, giống như chúng ta Nhất tâm xưng niệm. Nhất tâm này mới có thể vãng sinh, nhưng không phải nói là Nhất tâm bất loạn. Nhất tâm bất loạn đương nhiên là phẩm vị cao rồi. Sự Nhất tâm bất loạn sinh Phương Tiện Độ, Lý Nhất tâm bất loạn sinh Thật Báo Độ. Chúng ta ngày nay là người mới học đạo, có thể sinh Phàm Thánh Đồng Cư Độ đã là thành công rồi. Vì thế, trong Yếu Giải, Đại sư Ngẫu Ích khuyên chúng ta, qua bản thân mình: Tôi một đời cầu sinh Tịnh độ chỉ hi vọng được vãng sinh Phàm Thánh Đồng Cư Độ hạ hạ phẩm, thì tôi đã rất hài lòng rồi. Đây là Ngài thị hiện cho chúng ta xem, vãng sinh Phàm Thánh Đồng Cư Độ hạ hạ phẩm không khó. Đại sư Thiện Đạo nói “vạn tu vạn nhân khứ”, một người cũng không rớt lại.
Pháp Niệm như thế nào? Vẫn là cần Nhất tâm xưng niệm. Điều này cũng rất quan trọng, tức là khi niệm Phật không để vọng tưởng xen lẫn, không thể có vọng niệm. Đây gọi là nhất tâm. Khi đạt được nhất tâm, không nghi ngờ, không xen lẫn, gọi là nhất tâm. Vì thế, thật sự muốn cầu sinh về thế giới Tây Phương Cực Lạc, chúng ta nhất định phải biết thế giới này. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di Đà khuyên chúng ta, hết thảy chư Phật trong mười phương ba đời đều dị khẩu đồng âm khuyên chúng ta, nếu không phải hết sức thù thắng, thì Phật có khuyên chúng ta không? Cơ hội khó gặp! Chúng sinh ngu si cho rằng pháp môn này đơn giản, đại khái không cao siêu lắm, cần cầu pháp môn khác, cho rằng pháp môn khác cao siêu hơn pháp môn này, vậy là sai rồi. Càng thù thắng càng đơn giản, cổ kim trong ngoài đều không ngoại lệ. Đơn giản nhất là tối thắng nhất.
Ở trước, trong phần khái yếu, tôi đã giảng tường tận rồi. Trì danh niệm Phật là xứng tính khởi tu. Lấy quả địa giác của Như Lai làm nhân địa tâm của chúng ta. Nhân quả không hai, điều này quá thù thắng. Chúng ta nhất tâm hướng đến, thì có thể buông bỏ thế gian. Danh văn, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần trong thế gian này, như người xưa đã nói, đây là mùi vị của thế gian, thông thường mọi người tham luyến, vị thế gian không đậm bằng vị pháp! Đậm nhất trong vị pháp là trì danh niệm Phật. Tại sao quý vị niệm không được? Trì danh mà không thưởng thức được mùi vị của pháp, vì thế quý vị thoái tâm. Tại sao không thưởng thức được mùi vị của pháp? Vì khi niệm Phật có nghi ngờ có xen tạp, nghi ngờ pháp môn này có phải là thù thắng nhất hay không? Pháp môn này có thật hay không? Tôi có thật được vãng sinh không? Thật có thế giới Cực Lạc không? Do nghi ngờ, hoài nghi.
Điều thứ hai là tham luyến danh văn, lợi dưỡng của thế gian không bỏ được. Vì thế, quý vị siêng năng niệm Phật. Nếu niệm bao nhiêu năm mà không đạt được pháp hỷ, mà không nếm được pháp vị, thì nguyên nhân ở chỗ này.
Đề kinh của “Vô Lượng Thọ Kinh” rất hay, nửa đoạn trên là nói về quả báo, nửa đoạn dưới nói về tu nhân. Ta tu như thế nào? Tu nhân nói đến 5 từ “Thanh tịnh, Bình đẳng, Giác”. Người học Phật chúng ta tu gì? Tu thanh tịnh tâm. Dùng phương pháp nào? 84.000 pháp môn đều là tu thanh tịnh tâm, đều là tu bình đẳng tâm, đều là tu giác. Đạt được thanh tịnh tâm, thì quý vị chứng được quả vị A La Hán. Đạt được bình đẳng tâm là thành Bồ tát rồi. Đại triệt đại ngộ, đó tức là giác, nghĩa là đã thành Phật.
Quý vị tu nhân, quả báo đạt được là gì? Đại thừa. Đại thừa là trí tuệ. “Hoa Nghiêm Kinh” nói: ‘Hết thảy chúng sinh đều có đức tướng, trí tuệ của Như Lai’. Đại thừa là trí tuệ, vô lượng thọ là đức, trang nghiêm là tướng, ta hoàn toàn đạt được. Đạt được thanh tịnh tâm, vãng sinh thế giới Tây Phương Cực Lạc là ở Phương Tiện Hữu Dư Độ. Thanh tịnh tâm không dễ gì đạt được. Đạt được bình đẳng tâm, thì phá được một màn vô minh, chứng được một phần pháp thân, sinh về thế giới Cực Lạc Thật Báo Trang Nghiêm Độ. Trong Hoa Nghiêm Kinh, Bồ tát Sơ Trụ trở lên, pháp thân đại sĩ, giống như thành Phật rồi. Điều này khó, đây điều cần phải niệm đến Nhất tâm bất loạn.
Sự thù thắng nhất của Tịnh Độ tông là Phàm Thánh Đồng Cư Độ, vô cùng thù thắng. Nếu chúng ta thật sự muốn cầu vãng sinh đến Phàm Thánh Đồng Cư Độ, thì mỗi người quyết định đều có thể đạt được, thù thắng nhất là chỗ này.
Thế giới Cực Lạc và các thế giới khác không giống nhau, thật giống Hoa Nghiêm Kinh nói “Một tức hết thảy, hết thảy tức một”, sinh đến Đồng Cư Độ đồng thời cũng giống như sinh đến Phương Tiện Độ và Thật Báo Độ. Vì sao? Vì ở nơi ấy không có không gian duy thứ, không giống các quốc độ của chư Phật khác. Các quốc độ của của chư Phật khác thực sự có không gian duy thứ. Không đồng không gian duy thứ, thì quý vị nhìn không thấy, thế giới Cực Lạc không có. Vì thế, mặc dù chúng ta sinh đến Đồng Cư Độ hạ hạ phẩm vãng sinh đến thế giới Cực Lạc, ta cũng có thể nhìn thấy Bồ tát Quan Âm và Bồ tát Thế Chí, ta cũng có thể nhìn thấy Bồ tát Văn Thù và Bồ tát Phổ Hiền. Các vị ấy ở đâu? Họ ở Thật Báo Độ.
Các vị đại Bồ tát này ở Thật Báo Độ cùng với Phàm Thánh Đồng Cư Độ hạ hạ phẩm, cũng luôn luôn ở chung một chỗ, nhân duyên này khó có được lắm! Ta thường thân cận các Ngài, thường nghe các Ngài dạy bảo thì tiến bộ rất nhanh, sẽ không thối lui, không có nguyên nhân thối lui, chỉ có hướng lên cao thêm mà thôi. Chư Phật Như Lai là thầy giáo, chư đại Bồ tát là học trò, quý vị đi đâu tìm cho ra môi trường tu học như thế này được?
Sinh đến thế giới Cực Lạc quyết định một đời thành Phật, thọ mạng dài - vô lượng thọ, quý vị nghĩ xem nhân duyên này thù thắng quá. Không gặp được là không có phương pháp. Sau khi gặp rồi mà ta còn luyến tiếc thế gian này, thì sai rồi. Ở thế gian này chỉ cần một việc không buông bỏ thôi, thì cơ duyên một đời này luống qua vô ích. Vì thế, chúng ta phải triệt để buông xả, một mảy may cũng không luyến tiếc.
Chúng ta sống ở thế gian này, điều quan trọng nhất là cầu được vãng sinh, trước khi chết, thân thể vẫn chỗ này. Cần học Bồ tát, cố gắng, cố gắng khuyên bảo người khác. Phật độ người có duyên. Quý vị khuyên người, họ chịu tin tưởng, chịu phát nguyện, thì người này được độ rồi, quý vị đã giúp họ thành Phật. Quý vị đã thành tựu cũng giúp được người khác thành tựu. Quý vị giúp người khác càng nhiều càng tốt. Bồ tát Đại Từ dạy chúng ta rằng: Ta có thể thật sự khuyên được hai người vãng sinh, mạnh hơn tự mình niệm Phật. Nếu quý vị có thể khuyên 10 người, 20 người, quý vị đến thế giới Cực Lạc, Phật A Di Đà cần lời nói của người nhân gian chúng ta, nhất định khen ngợi quý vị. Mang theo càng nhiều càng tốt, đây là trong kinh Phật nói không giả chút nào.
Ngoài việc tự mình niệm Phật cầu vãng sinh ra, hãy cố gắng giúp người khác, khuyên bảo người khác, khuyên như thế nào? Phải hiện thân thuyết pháp, khi chết không bệnh hoạn, biết trước giờ chết, không bị đau đớn, mình vãng sinh như vậy, mọi người nhìn thấy như vậy.
Hồi trẻ, trước khi tôi còn chưa đến Đài Loan, Ở Hong Kong, mẫu thân của Hà Thế Lễ, niệm Phật cầu sinh Tịnh độ. Phụ thân tước sĩ Hà Đông ở Hong Kong rất có địa vị, toàn bộ gia đình họ là tín đồ Cơ Đốc giáo thuần thành, nhưng dẫu sao họ còn chịu ảnh hưởng nền văn hóa truyền thống xưa, cho nên đối với mẫu thân rất hiếu thảo. Trong nhà có lập bàn Phật, người nào tu người đó. Người mẹ hằng ngày niệm Phật, họ thì ngày chủ nhật đến giáo đường. Gia đình này rất hòa thuận, có sự giáo dục của truyền thống xưa, khiến họ sống với nhau hòa thuận vui vẻ. Khi người mẹ qua đời, liền mở một đại hội vãng sinh. Bà lão biết trước giờ chết. Khi chết, bà chết trong tư thế ngồi, báo cho giới báo chí Hong Kong những tin tức này. Ngày bà chết, ai cũng đến xem, thật đã chết rồi, cho nên các đài phát thanh đều phát tin.
Thời đó chưa có TV như bây giờ, đó là hơn 30 năm về trước. Bà ấy chết đi, cả gia đình Hà Thế Lễ niệm Phật. Quý vị thấy đó, không cần nói năng biểu diễn cho họ xem, quý vị thấy đây là thật chứ không phải giả. Sau đó, họ đem nhà cửa của mình hiến dâng, tức là Đông Liên Giác Uyển ngày nay. Đông Liên Giác Uyển là nhà của tước sĩ Hà Đông hiến cúng làm đạo tràng Phật giáo. Cả đời bà lão không giảng kinh thuyết pháp, nhưng lần biểu diễn này độ được nhiều người, vì đã giúp cho nhiều người niệm Phật nhìn thấy sinh khởi lòng tin, không giả chút nào. Giống như loại phương pháp này, tự mình thành tựu cũng thành tựu người khác, đâu đâu cũng như vậy.
Đây là khoảng hơn 40 năm trước, tôi dạy học ở Phật Quang Sơn. Ở đó có một công nhân, công trình của họ là kết thúc trong một năm không gián đoạn. Công nhân này làm việc ở Phật Quang Sơn là người bản xứ. Một hôm buổi tối, chúng tôi dẫn theo mấy học trò, ánh trăng rất đẹp, chúng tôi ngồi trên bãi cỏ thảo luận Phật pháp. Người công nhân này đến chỗ chúng tôi, cũng đến nghe pháp. Nghe một lúc, anh ta nói với chúng tôi, khuyên chúng tôi niệm Phật. Anh ta nói niệm Phật là thật, không giả chút nào. Anh ta đã tận mắt nhìn thấy láng giềng của anh ta, là một bà lão niệm Phật 3 năm, vãng sinh trong tư thế đứng. Bà lão rất từ bi, có lòng quan tâm, vui vẻ giúp đỡ người khác, bà ấy không đi học, không biết chữ, bà lạy Phật, lạy Bồ tát, cũng lạy thần, bà lạy hết cả, thường thường đi miếu hội. 3 năm trước, bà cưới về đứa con dâu. Người con dâu này có hiểu đôi chút Phật pháp, liền khuyên mẹ chồng chuyên tâm niệm A Di Đà Phật, không cần đi đâu lễ lạy cả. Bà mẹ chồng có thiện căn, nên nghe theo lời khuyên của con dâu, liền thiết lập bàn Phật ở trong nhà, mỗi ngày đều niệm A Di Đà Phật. Niệm “A Di Đà Phật”, không tham gia các miếu hội nữa, chuyên tu Tịnh độ 3 năm.
Bà mất vào buổi tối. Khi ăn cơm, bà lão nói với những trong nhà rằng, các con ăn cơm trước, đừng đợi mẹ nghe, rồi bà đi tắm. Bà thật sự đã đi tắm, nhưng con trai và con dâu rất hiếu thuận nên vẫn đợi bà. Đợi rất lâu mà không thấy bà ra, liền đi vào xem sao. Thấy mẹ đã tắm xong rồi, gọi thì không nghe tiếng trả lời nên đi tìm bà. Cuối cùng, thấy bà đứng trước bàn Phật, mặc áo tràng ngay ngắn, trên tay cầm tràng hạt, mặt đối trước tượng Phật, gọi bà không trả lời liền đến bên cạnh nhìn kỹ, bà đã mất. Người công nhân này nói với chúng tôi là tận mắt nhìn thấy, không chút giả dối, khuyên chúng tôi phải niệm Phật, phải cầu sinh Tịnh độ.
Ở Đài Nam, người ở làng Tướng Quân, bây giờ chúng tôi nhắc đến sự việc này, vẫn còn rất nhiều người biết, còn nhớ rất rõ ràng. Vì thế, tự mình làm là cảm hóa người khác, quyết định không để bỏ lỡ cơ hội. Trì danh niệm Phật là quán thứ 16 trong kinh Thập Lục Quán, khuyên chúng ta Trì danh niệm Phật, cho nên thù thắng hơn Quán tưởng và Quán tượng niệm Phật. Dễ dàng mà vẫn thù thắng.
A Di Đà Phật Cổ Âm Thanh Vương Đà La Ni kinh, khuyến đạo trì danh (Hai là, kinh A Di Đà Phật Cổ Âm Thanh Đà La Ni khuyên nên trì danh). Trong kinh này cũng dạy người trì chú. Chú này là Chú Vãng sinh. Lúc trẻ, tôi giảng kinh ở Đài Bắc, có một cư sĩ, tuổi trẻ đã học Phật. Lúc đó, tôi ra giảng kinh là khoảng trên 30 chưa đến 40 tuổi. Cư sĩ này khoảng hơn 15 tuổi. Cậu ta nhìn thấy trong kinh giảng đọc đủ 300.000 biến chú vãng sinh là có thể thấy được Phật A Di Đà. Cậu ta làm thật.
Mất một khoảng thời gian rất dài, đọc đủ 300.000 biến, cậu ta đến nói với tôi rằng, Pháp sư Tịnh Không, trong kinh nói đọc 300.000 biến thì có thể nhìn thấy Phật A Di Đà, tôi đọc đủ 300.000 biến rồi, sao vẫn chưa thấy Phật?
Cậu ta đã khởi sinh vấn đề, phương pháp đọc 300.000 biến như thế nào. Điểm này quý vị phải chú ý, niệm Phật, đọc chú, đọc kinh đều là một tiêu chuẩn.
Bồ tát Đại Thế Chí nói “Đều nhiếp sáu căn, tịnh niệm nối nhau”, đây gọi là niệm Phật. Ta niệm 300.000 biến Chú Vãng sinh, khi niệm chú vẫn còn vọng tưởng, còn nghĩ xem có linh hay không linh. Như vậy là có vấn đề rồi, làm hỏng hết công phu niệm chú của quý vị rồi, cho nên người xưa nói: Đọc kinh không bằng đọc chú. Đọc chú không bằng niệm Phật. Vì sao? Càng đơn giản càng dễ nhiếp tâm. Kinh văn rất dài, niệm một biến từ đầu đến cuối có thể không khởi vọng niệm được không? Thật sự không khởi vọng niệm mới gọi là công phu. Trong khi đọc bộ kinh này có rất nhiều tạp niệm trong đó, làm hỏng hết công đức của quý vị, không phải hoàn toàn không có giảm từ từ, cho nên lời chú ngắn, dễ dàng nhiếp tâm, nhưng danh hiệu Phật ngắn nhất, chỉ 4 từ A Di Đà Phật. Hy vọng trong 4 từ này không có tạp niệm, cái này dễ hơn Chú Vãng sinh nhiều. Chúng ta hiểu rõ đạo lý này, nhất định phải yêu cầu chính mình, thời khóa sáng chiều cũng tốt, ngày thường tán niệm cũng cần chú ý không xen tạp, phải chú ý điều này.
Khi suy nghĩ vấn đề gì nên dừng niệm Phật. Sau khi suy nghĩ xong rồi, thì niệm danh hiệu Phật trở lại. Không thể vừa niệm Phật vừa nghĩ đến sự việc, vừa niệm Phật vừa làm việc. Nếu công việc đó không cần trí óc thì được, không trở ngại gì, nếu phải suy nghĩ thì ảnh hưởng đến việc niệm Phật, điều này chẳng thể không biết được.
Tuyệt đối không được nói: pháp môn có vấn đề, kinh chú có vấn đề. Cái đó không có vấn đề, mà là chính chúng ta dụng tâm không đúng. Vấn đề phát sinh là ở chỗ này. Đây là nói đến trì chú, trên thực tế người xưa nói rất hay, 4 từ A Di Đà Phật này là tiếng Phạn, không có dịch ra, giống như chú vậy! Đạo lý này không thể không biết được.
Hoa Nghiêm kinh Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm”, thập đại nguyện vương, đạo quy cực lạc (Ba là, Mười đại nguyện vương trong Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện của kinh Hoa Nghiêm nói trở về Cực Lạc). Vì thế, hậu sinh là Ngụy Nguyên, tức là Ngụy Mặc Thâm đem quyển Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm
- quyển cuối cùng, rút ra từ “Kinh Hoa Nghiêm” phụ ở phía sau Tịnh Độ Tam Kinh, gọi là Tịnh Độ Tứ Kinh. Nếu như sau này quý vị ở đâu đó thấy Tịnh Độ Tứ Kinh thì biết rằng vì sao có thêm một kinh, có thêm phẩm Hạnh Nguyện. Niên hiệu Hàm Phong, cư sĩ Ngụy Mặc Thâm đã thêm vào trong đó.
“Hậu Xuất A Di Đà Phật Kệ kinh” (Bốn là, Hậu xuất A Di Đà Phật Kệ Kinh). Bộ này toàn là kệ tụng, gồm có 56 câu, trong ấy có 2 câu thế này: Phát nguyện du chư Phật. Thệ nhị thập tứ chương. Phát nguyện này là Phật A Di Đà phát nguyện, báo cáo với hết thảy chư Phật Như Lai. Trên thực tế, tức là hôm nay chúng ta nói Ngài làm báo cáo, báo cáo với chư Phật. Ngài phát nguyện lớn, 24 nguyện.
Dữ bản kinh Hán Ngô lưỡng dịch trung, A Di Đà nhị thập tứ nguyện tương đồng (Tương đồng với 24 nguyện A Di Đà của 2 bản dịch Hán- Ngô).
Thủ Lăng Nghiêm Đại Thế Chí Bồ tát Niệm Phật Viên Thông chương, khuyến đạo chúng sinh ức Phật niệm Phật, hiện tiền đương lai tất định kiến Phật, dĩ niệm Phật tâm, nhập vô sinh nhẫn (Năm là, chương Đại Thế Chí Niệm Phật Viên Thông trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, khuyên chúng sinh nhớ Phật, niệm Phật, hiện tiền đương lai nhất định thấy Phật, dùng tâm niệm Phật vào Vô sinh nhẫn). Ngài dạy chúng ta phương pháp niệm Phật “đô nhiếp lục căn, tịnh niệm tương tục”, đều là trong chương Đại Thế Chí Bồ tát Viên Thông dạy.
Ban Châu Tam Muội kinh, hậu Hán Nhục Chi Tam tạng Chi Lâu Ca Sấm dịch (Sáu là, kinh Ban Châu Tam Muội, đời Hậu Hán, nước Nhục Chi, Tam Tạng Pháp sư Chi Lâu Ca Sấm dịch). Kinh này còn có một tên khác gọi là “Đại Phương Đẳng Đại Tập Hiền Hộ kinh”. Đây là bản dịch khác, cũng là đồng một bản tiếng Phạn, nhưng khác bản dịch thôi.
Kinh chủ cửu thập nhật vi nhất kỳ, bất tọa bất ngọa, tu Phật lập Tam muội (Kinh chủ trương 90 ngày là một kỳ, không ngồi, không nằm, tu Phật lập Tam muội). Pháp môn này không dễ tu, vì sao vậy? Một kỳ là 90 ngày tức là 3 tháng. 3 tháng không ngủ, không được ngồi, chỉ đi, nhiễu Phật, được đi, được đứng, không ngồi, không nằm. Tu pháp môn này phải có sức khỏe tốt, trẻ tuổi có thể được, tuổi lớn rồi thì rất khó khăn, khoảng dưới 40 tuổi thì được. 40 tuổi trở lên thể lực không tốt, quý vị sẽ không tu được.
Chúng ta thấy trong kinh Hoa Nghiêm, Thiện Tài đồng tử 53 lần tham vấn, vị thứ nhất là Tỷ khiêu Cát Tường Vân, Ngài tu pháp môn này, gọi là “Phật lập Tam muội”, chuyên niệm Phật A Di Đà cầu sinh Tây Phương Tịnh Độ. Vì thế, xem 53 lần tham vấn này dụng ý rất sâu! Trung Quốc và Ấn Độ đều có khái niệm như vậy, vào trước là chủ. Thiện Tài trong hội Văn Thù Bồ tát thành tựu trí tuệ căn bản. Thành tựu trí tuệ căn bản như thế nào? Chấp trước được buông xả, đắc tâm thanh tịnh. Phân biệt được buông xả, đắc tâm bình đẳng, vọng tưởng được buông xả, khởi tâm động niệm được buông xả, thành Vô Thượng Chính Đẳng Giác.
Trên đề kinh này, Ngài đạt đã được Thanh tịnh, Bình đẳng, Giác. Người xưa nói: Đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tính. Trong hội Hoa Nghiêm đây là Sơ Trụ Bồ tát, pháp thân đại sĩ. Thiện Tài đồng tử trong hội Bồ tát Văn Thù chứng được quả vị này, là Sơ Trụ của Viên giáo, cho nên thầy giáo biểu ông đi tham học. Quý vị phải biết, điều kiện chân chính tham học là chỗ này, chưa kiến tính thì không có tư cách để tham học. Minh tâm kiến tính mới có tư cách tham học.
Dụng ý tham học ở chỗ nào? Tham học là phá trừ tập khí vô minh. Vô minh được phá rồi, khởi tâm động niệm được buông xả rồi, vẫn còn tập khí. Tập khí phải làm sao? Trong tham học phải đoạn trừ tập khí, cho nên tham học gọi là trải sự luyện tâm, lúc đó phải chịu được sự khảo nghiệm. Không kể thuận cảnh hay nghịch cảnh, thầy giáo khích lệ quý vị đi tiếp xúc, cảnh giới bên ngoài không ảnh hưởng quý vị. Ở trong hết thảy cảnh giới, có thể đem tập khí vô thỉ vô minh của quý vị tự nhiên loại bỏ đi. Thành tựu Phật quả cứu cánh viên mãn.
Vì thế, 53 lần tham vấn, 53 vị đó đều là Bồ tát, là Phật cả. Vậy thiện tri thức không phải một người bình thường, là chư Phật Như Lai hóa thân đến. Hóa thân thế nào? Nam nữ lớn nhỏ, các ngành, các nghề. Trong đó, có thiện có ác. Trên thực tế thì xã hội ngày nay, chúng ta bước vào xã hội, từ sáng đến tối tiếp xúc với những người này, đó là 53 lần tham vấn. Mắt chúng ta thấy sắc, tai nghe tiếng, có thể không động tâm chăng? Nếu có thể không động tâm, không khởi tâm, không động niệm thì mới có tư cách tham học. Nếu một khi khởi tâm động niệm, lúc đó bị cảnh giới chuyển rồi. Vì thế, tham học không phải là chuyện đơn giản. Tham học thành tựu Hậu đắc trí,
Căn bản trí là Bát nhã vô tri, đó là gì? Đó là định công, đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tính, Căn bản trí. Tham học thì sao? Tham học là Hậu đắc trí, không cái gì mà không biết. Có phải học, không cái gì mà không biết ở trong cảnh giới hay không? Không phải vậy, cảnh giới hiện tiền, trí tuệ ta sinh khởi. Không có cảnh giới, tâm địa trong sạch, một chút suy nghĩ cũng không có.
Không phải học từ bên ngoài, không phải vậy, cái này không được nghĩ sai. Khi đối diện với hết thảy các cảnh giới, tự nhiên ta phát sinh trí tuệ để đối ứng nó. Nhất quyết không sinh phiền não. Phiền não là gì? Là thất tình ngũ dục. Thuận cảnh sinh tham ái, nghịch cảnh sinh oán hận. Không sinh cái này, nó sinh trí tuệ, chúng ta không thể không biết những đạo lý này.
Ngày nay, chúng ta có tham học chăng? Không có, chúng ta tùy duyên tùy biến. Thiện Tài đồng tử tức là trong “Hoàn Nguyên Quán”, trong tứ đức nói tùy duyên diệu dụng. Diệu dụng là sinh trí tuệ, nhất quyết không sinh phiền não. Vì thế, lần cuối cùng trong 53 tham vấn là Đạo sư Cực Lạc, Thập đại nguyện vương Bồ tát Phổ Hiền.
Chúng ta xem biểu pháp của Ngài - thỉ chung. Đây nói rõ, Thiện Tài đồng tử học pháp môn gì? Từ đầu đến cuối, tu pháp môn Niệm Phật, giống như thầy giáo niệm A Di Đà Phật cầu sinh Tịnh độ, nói cho chúng ta sự việc như vậy. Tiếp xúc với hết thảy thế giới, Ngài mới có thể rộng độ chúng sinh, không có pháp môn nào mà Ngài không biết, chỉ cần tiếp xúc là hiểu rõ. Sinh trí tuệ không sinh phiền não.
“Thiên Thai xưng chi vi thường hành tam muội” (Tổ Thiên Thai gọi đó là Thường hành Tam muội). Đây là lời Trí Giả Đại sư xưng tán họ. “Xướng danh quán niệm”. Xướng danh tức là niệm Phật, quán niệm Phật A Di Đà.
Vãng Sinh Luận, Bồ tát Thiên Thân tạo, xướng Ngũ Niệm pháp môn, cầu sinh Tịnh độ, Tịnh độ tông Tam kinh nhất luận (Bảy là, Vãng Sinh Luận của Bồ tát Thiên Thân tạo. Ngài đề xướng pháp môn Ngũ niệm, cầu sinh Tịnh độ. Trở thành ba Kinh một Luận của Tịnh Độ tông). Một Luận là bộ này, ba Kinh là kinh điển cơ bản của Tịnh Độ tông.
Trong “Vãng Sinh luận” nói rằng: Tu ngũ niệm môn thành tựu giả tất cánh đắc sinh An Lạc quốc độ (Người nào tu thành tựu pháp môn Ngũ niệm, nhất định được sinh quốc độ An Lạc). Quốc độ An Lạc này tức là thế giới Cực Lạc, “kiến bỉ A Di Đà Phật” (thấy Phật A Di Đà).
Ngũ niệm là gì?
Thứ nhất là “lễ bái”. Lễ bái là tu tâm cung kính, cho nên phải biết rằng cung kính tâm là Tính đức. Cùng một ý nghĩa với lễ kính chư Phật trong mười đại nguyện vương Bồ tát Phổ Hiền. Trong lễ kính chư Phật giảng tam thế, Phật quá khứ, Phật hiện tại và Phật vị lai. Phật quá khứ, Phật Thích Ca Mâu Ni đã giới thiệu cho chúng ta, có “Quá khứ Thiên Phật Danh kinh”. Phật hiện tại, như Phật Lô Xá Na.
Trong kinh Hoa Nghiêm nói, Phật A Di Đà của thế giới Cực Lạc là Phật hiện tại. Thế Tôn cũng giới thiệu cho chúng ta Tam Thiên Tôn Phật danh, Phật hiện tại, Phật vị lai. Những vị nào là Phật vị lai? Hết thảy chúng sinh đều là Phật vị lai. Chúng ta phải dùng thái độ như thế nào để đối đãi với hết thảy chúng sinh? Chúng ta dùng thái độ như thế nào để đối với Phật A Di Đà, thì nên dùng tâm thái đó đối đãi với hết thảy chúng sinh. Đây gọi là lễ kính chư Phật. Chúng ta nhìn người này không thuận mắt, nhìn người khác thấy ghét, thì nhìn thấy Phật chúng ta thấy ghét. Nhất định phải biết họ vốn là Phật. Hiện tại thì sao? Hiện tại họ vẫn là Phật, chẵng qua họ còn điên đảo mê hoặc mà thôi.
Chúng ta không nên nhìn cái mê hoặc điên đảo của họ, phải nhìn tự tính của họ. Họ vốn là Phật, điểm này vô cùng quan trọng, làm cho cái tâm cung kính này của chúng ta sinh khởi. Tâm cung kính là Tính đức. Chúng ta mê thất tự tính cho nên mới phân các loại sai biệt. Giác ngộ rồi là bình đẳng.
Thứ hai là “xưng tán”. Quý vị xem giống với Hoa Nghiêm Kinh Thập Đại Nguyện Vương. Xưng tán Như Lai, lễ kính không phân biệt, cung kính tất cả. Tán thán thì khác, tương ưng với Tính đức thì tán thán, không tương ưng với tính đức thì không tán thán. Vì thế, trong 53 lần tham vấn của Thiện Tài, có vài vị thiện hữu hành vi không tốt, tham, sân, si, quý vị xem Thiện Tài cung kính, có cúng dường nhưng không tán thán. Thiện pháp tương ưng với Tính đức, ông có lễ kính, có tán thán, có cúng dường, khác biệt nhau ở chỗ này, vì vậy chúng ta phải tu tập.
Người này là người xấu, nhưng làm việc tốt. Việc là việc tốt thì nên tán thán họ, tán thán họ một công việc. Họ làm là việc xấu, không tán thán, không nói, không phê bình, nếp sống xã hội mới có thể đoan chính. Người làm những việc bất thiện này, họ sẽ hổ thẹn. Quý vị xem tôi làm chút việc tốt, mọi người tán thán tôi, nhưng khi làm việc xấu thì họ không nói gì cả, họ đều có thể bao dung, có thể tha thứ cho tôi, thì sẽ quay đầu.
Nhất định phải có thiện tâm thiện nguyện giúp đỡ người khác. Quay đầu là bờ, không nên chỉ trích. Khi bị chỉ trích, họ sẽ khởi ác cảm. Chẳng những không thể tiếp nhận mà càng sinh khởi tâm oán hận. Việc đó phiền phức rồi, mình đã gây oán kết với họ, sau này ở trong lục đạo oan oan tương báo không bao giờ dứt. Tuyệt đối không được gây oán kết với người khác. Nếu bị hại, bị hại cũng không nên oan kết.
Hai ngày trước, tôi ở Indonesia, có mội vị đồng học hỏi tôi, đại khái là có người lừa gạt anh ta, đã gạt anh ta không ít tiền, anh ta muốn tìm luật sư tố cáo để đòi tiền lại. Anh ta hỏi tôi: Con làm như vậy đúng không? Tôi nhìn anh ta. Anh ta là một doanh nghiệp rất giàu có. Tôi nói chút tiền đó đối với anh thì không là bao, anh sử dụng hay họ sử dụng đều như nhau cả, hà tất phải tính toán? Đây mới gọi là học Phật. Nếu thật sự anh không có tiền mà bị người ta lừa gạt, có chút ảnh hưởng đến cuộc sống của anh, tôi thấy anh không giống vậy. Anh là trưởng giả đại phú, gạt anh vài trăm vạn không bao nhiêu cả, thôi đi, đừng truy cứu nữa. Nếu thật sự anh không bỏ được, thì kiếp sau họ cũng sẽ trả lại cho anh. Vì thế, chân chính hiểu được nghiệp nhân quả báo, tâm của mình sẽ buông bỏ hết. Người thế gian có chịu thiệt thòi không? Không có, một cái thiệt thòi cũng không có. Có bị lợi dụng không? Một người cũng không lợi dụng được. Không bị lợi dụng cũng không bị thiệt thòi. Đời này, mình lợi dụng họ, đời sau phải trả lại cho họ, phải trả thêm lợi tức nữa, nên làm gì có bị lợi dụng! Hiểu rõ đạo lý này thì tâm anh sẽ định, không bị ảnh hưởng cảnh giới bên ngoài, anh sẽ sống vui vẻ hạnh phúc. Khi nhìn thấy họ, anh hỏi họ dạo này có khỏe không, việc lừa gạt số tiền đó, một câu cũng không nhắc đến giống như không có chuyện gì cả, là anh đã có chút trí tuệ. Nhìn thấy liền nổi giận, là anh chưa bỏ được phân biệt, chấp trước. Cảnh giới này đang khảo nghiệm công phu của anh, anh không đạt tiêu chuẩn, anh còn nhớ mãi cái chuyện này, không đạt tiêu chuẩn.
Thứ ba là “phát nguyện”. Phát nguyện sinh về thế giới Cực Lạc.
Thứ tư là “quán sát”.
Thứ năm là “hồi hướng”.
Ngũ niệm môn. Quán sát tức là tác quán trong chỉ quán, cũng là thông thường chúng ta nói. Chúng ta đã hiểu rõ sự thật chân tướng rồi, hết thảy nhân, hết thảy sự, hết thảy vật, Tính, Tướng, Lý, Sự, Nhân, Quả, đều rõ ràng, đều tường tận. Đây gọi là đã khai mở trí tuệ, đem công đức tu tập của mình, hồi hướng cho hết thảy chúng sinh. Hôm nay, đặc biệt hồi hướng các chúng sinh khổ nạn trên toàn thế giới, hóa giải thiên tai, bất luận tín ngưỡng tôn giáo nào cũng tốt. Pháp môn bình đẳng không có cao thấp, nên đem tích lũy công đức tu hành của mình hồi hướng, cầu nguyện. Trong tôn giáo nói cầu nguyện, cầu nguyện thế giới hòa bình, cầu nguyện hóa giải thiên tai.
Tám là “Vãng Sinh Luận Chú”, đây là bản Chú giải cổ. Đại sư Đàm Loan thời Bắc Ngụy sau thời Nam Bắc triều viết. Hiện tại, đều thu thập trong sách Tịnh Độ Tùng Thư. Học Vãng Sinh Luận, chú giải này là tham khảo vô cùng quan trọng. Trước kia, tôi giảng Vãng Sinh Luận cũng xem bộ chú giải này.
Chín là Du Tâm An Lạc Tập, đây cũng là Đường triều Đạo Xước đại sư đích trước tác (Đại sư Đạo Xước, đời Đường trước tác), cũng đồng loại với bộ kinh này của chúng ta.
Tiếp nói đến các loại Đới Thuyết Tịnh độ Kinh Luận (Kinh Luận có nói kèm thêm về Tịnh Độ). Đây là bổ sung thêm. Thật ra, khoảng hơn 100 loại, ở đây lão cư sĩ lược ra 12 loại. Các Kinh, Luận này khá nổi tiếng, các đại đức tổ sư của Tịnh Độ tông cũng thường lấy trích dẫn khi giảng kinh thuyết pháp.
Phục hữu chư kinh luận, tuy bất chuyên luận Tịnh độ, đãn diệc đới nhiếp xưng tán Cực lạc, khuyến đạo vãng sinh, kỳ trung chiếu trước giả (Lại có các Kinh, Luận, tuy không chuyên luận Tịnh Độ, nhưng cũng kèm thêm xưng tán Cực Lạc, khuyến tu Vãng sinh, các trước tác nổi bật), như “Pháp Hoa Kinh”, “Bi Hoa Kinh”, “Tùy Nguyện Vãng Sinh Kinh”, “Văn Thù Thuyết Bát Nhã Kinh”, “Mục Liên Sở Vấn Kinh”, “Thập Vãng Sinh Kinh”, “Quán Phật Tam Muội Kinh”, Phật ký Văn Thù đương sinh Cực Lạc, “Văn Thù Phát Nguyện Kinh” cầu sinh Cực Lạc thế giới, “Nhập Lăng Nghiêm Kinh”, Phật ký Long Thọ, sinh Cực Lạc quốc. Long Thọ Bồ tát cũng vãng sinh thế giới Cực Lạc. “Tỳ Bà Sa Luận” là tác phẩm của Long Thọ Đại sư, “Đại Trí Độ Luận” cũng là Bồ tát Long Thọ trước tác. “Đại thừa Khởi Tín Luận” do Mã Minh Bồ tát trước tác v.v…
Lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ viết quyển chú giải này, trích dẫn 83 loại kinh, 110 loại luận, tổng cộng là 193 bộ. Vì thế, chúng ta phát tâm học chú giải này, cũng bằng học 193 loại kinh, luận, không dễ chút nào! Lão cư sĩ viết bộ chú giải này, được làm tài liệu tham khảo rất nhiều. Tôi nghĩ đó cũng là nhờ Phật, Bồ tát gia trì, chứ thật quá khó! Cần phải có rất nhiều người sưu tập tài liệu tham khảo khắp nơi tặng cho ông ta. Tôi đến nhà của ông ta, nhìn vào trong phòng sách nhỏ, thấy chất đầy sách, rất nhiều sách đều là sách cổ xưa, tôi nói ông từ đâu đến ông ta cũng không biết, thật là Tam bảo gia trì.
Tịnh độ Kinh Luận ước bách số thập bộ (Kinh Luận Tịnh Độ ước khoảng hơn 100 bộ). Ở đây, ông ta trích dẫn từ 193 bộ.
“Dĩ thượng tựu bản kinh bộ loại” (Các đồng loại, đồng bộ của kinh này nêu trên). “Dữ đới thuyết Tịnh tông kinh luận lược cử kỳ yếu, chí ư mật bộ hữu quan tịnh tông chi điển tịch, vi số thượng đa, quân vị liệt nhập” (Cùng với các Kinh, Luận nói kèm về Tịnh Độ tóm lược nghĩa trọng yếu, cho đến các điển tịch của Mật bộ có liên quan đến Tịnh Độ tông, cũng rất nhiều, đều chưa liệt kê vào đây). Lão cư sĩ Hoàng là Kim Cương Thượng sư của Mật tông. Trong Mật tông có tu Tịnh độ, ở đây không trích dẫn.
Đoạn thứ tám: Dịch hội hiệu thích. Trong này nói 4 việc. ‘Dịch’ là phiên dịch, “chỉ cho bản dịch gốc ”. “Hội” là hội tập, chỉ cho căn cứ các bản dịch gốc mà hội tập. Đây gọi là bản hội tập. “Hiệu” là hiệu đính, có một loại là của cư sĩ Bành Tế Thanh. “Thích” là giải thích, tức là chú giải. Chỉ cho các bản chú thích của kinh này, tức là chú giải.
Giáp, bản kinh dịch bản (Một, bản dịch của kinh này).
Kinh nãi ngã Phật lũ thuyết. Chư sư cạnh dịch. Đông lai tối tảo. Dịch bản độc đa (Kinh này chính là Phật nói nhiều lần. Các sư đua nhau dịch. Từ phương Đông đến sớm nhất. Riêng kinh này bản dịch nhiều nhất). 4 câu này là cư sĩ Mai Quang Hy nói trong lời Tựa. Phật Thích Ca Mâu Ni không phải một lần mà nhiều lần tuyên giảng, về sau giới thiệu cho chúng ta. Sau khi lưu truyền đến Trung Quốc, pháp sư dịch các kinh này nhìn thấy đều rất hoan hỉ, đều làm công việc này. Do đó, từ nhà Hán đến nhà Tống 8 triều đại, cũng khoảng 800 năm, gồm có 12 loại phiên dịch, có thể nói phiên dịch Vô Lượng Thọ Kinh nhiều nhất. Có 12 loại gọi là ‘đông lai tối tảo’, truyền đến Trung Quốc vào triều đại nhà Hán. ‘Dịch bản độc đa’ là riêng mình nó có rất nhiều bản dịch. Có thể nói Vô Lượng Thọ Kinh là thứ nhất.
Tự Hán ngật Tống, phàm thập nhị dịch, Tống Nguyên nhi giáng, cẩn tồn ngũ chủng (Từ đời Hán đến Tống gồm 12 bản dịch. Từ đời Tống, Nguyên về sau chỉ còn 5 bản), cũng tức là nói trong 12 bản đó, có 7 bản thất truyền. Người Trung Quốc biên dịch “Đại Tạng Kinh”, biên dịch kinh sách Phật giáo bắt đầu từ triều Tống mới thu thập lại một chỗ. Trước đó không có thu thập, cho nên rất dễ thất lạc, bởi vì quá ít bản. Lúc đó, kinh bản toàn là sao chép bằng tay, không có máy in.
Nay sẽ giới thiệu về 5 bản dịch hiện còn:
Một là Vô Lượng Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh. Hậu Hán Nguyệt Chi (Kinh Vô Lượng Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác. Đời Hậu Hán, nước Nguyệt Chi). Nguyệt Chi là tên của một nước, tức Tân Cương bây giờ.
Sa môn là người xuất gia.
Chi Lâu Ca Sấm dịch ư Lạc Dương, dĩ hạ giản xưng Hán dịch (Chi Lâu Ca Sấm dịch ở Lạc Dương, sau gọi tắt là bản Hán dịch). Bộ kinh này bây giờ có trong Đại Tạng Kinh. Căn cứ thuận theo thứ tự triều đại, bản dịch kinh này xếp thứ nhất trong 5 bản.
Hai là Phật Thuyết A Di Đà Tam Da Tam Phật Tát Lầu Phật Đàn Quá Độ Nhân Đạo Kinh’, nhất danh ‘Vô Lượng Thọ Kinh’, nhất danh ‘A Di Đà Kinh' (Kinh Phật Thuyết A Di Đà Tam Da Tam Phật Tát Lầu Phật Đàn Quá Độ Nhân Đạo, còn gọi ‘Vô Lượng Thọ Kinh’. ‘A Di Đà Kinh').
Ngô (nước Ngô) là thời Tam Quốc Ngụy-Thục-Ngô. Nước Ngô thời Tam Quốc, cũng là một cư sĩ tại gia.
Ưu bà tắc (cư sĩ) ông cũng là người nước Nguyệt Chi, là Tây Vực.
Chi Khiêm tự Cung Minh phiên dịch. Dĩ hạ giản xưng Ngô dịch (Chi Khiêm tự là Cung Minh phiên dịch. Sau đây gọi tắt là bản Ngô dịch). Đề kinh của bộ kinh này, đều là dịch âm tiếng Phạn.
‘Phật thuyết chư Phật A Di Đà’. Trên “A Di Đà” còn thêm “chư Phật”. Đây là có ý nghĩa. Vì sao?
A Di Đà thị nhất thiết Phật đích tổng danh hiệu (A Di Đà là danh hiệu tổng của hết thảy Phật). Quý vị nghĩ xem, A Di Đà không phải không thể dịch, có thể dịch được. A dịch là Vô, Di Đà dịch là Lượng, Phật dịch là Giác, Vô Lượng Giác. Quý vị nói xem, có vị Phật nào không phải là Vô Lượng Giác chăng? Hiểu rõ rồi, niệm một câu A Di Đà Phật này là niệm đầy đủ đến hết thảy chư Phật, một vị cũng không sót, không những Phật quá khứ mà Phật hiện tại và cũng ở vị lai; là danh xưng tổng mười phương ba đời hết thảy chư Phật Như Lai, lại là danh xưng của tự tính.
‘Tam Da Tam Phật Tát Lầu Phật Đàn’. Đây là một trong mười hiệu của Như Lai, mười hiệu này phần sau trong kinh văn sẽ giảng đến. Trong mười hiệu có Chính biến tri. Chính là chính xác, không sai chút nào. Biến là biến tri, biết khắp cả, cũng chính là cái ý nghĩa chúng ta nói là Hậu đắc trí trong trí tuệ, Bát nhã không biết, mà không có cái gì không biết. (Vô tri, Vô sở bất tri) cũng có nghĩa Chính Đẳng Giác mà trên thực tế chúng ta thường nói là Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác vậy.
Hai từ ‘quá độ’ là ý nghĩa tự độ độ tha. Mình tự độ mình rồi cần phải độ người. Vì thế, nói ‘Quá Độ Nhân Đạo Kinh’. Nói cách khác, kinh này là một bộ kinh điển nói về A Di Đà Như Lai tế độ. Cứu tế, độ hóa chúng sinh, đây là đại ý của đề kinh.
Ba là Vô Lượng Thọ Kinh Tào Ngụy (Kinh Vô Lượng Thọ, đời Tào Ngụy). Đây cũng là thời Tam Quốc, thời Tam Quốc nước Ngụy.
Ấn Độ, Sa môn Khương Tăng Khải dịch ư Lạc Dương Bạch Mã tự, dĩ hạ giản xưng Ngụy dịch (Ấn Độ, Sa môn Khương Tăng Khải dịch ở Bạch Mã tự, Lạc Dương. Sau đây, gọi tắt là bản Ngụy dịch). Trong 5 loại bản dịch gốc hiện còn, bản này lưu hành rộng nhất, dịch rất tốt.
Bốn là Vô Lượng Thọ Như Lai Hội, Đường triều Nam Ấn Độ Tam Tạng Pháp sư Bồ Đề Lưu Chí phiên dịch (Vô Lượng Thọ Như Lai Hội, đời Đường, Tam Tạng pháp sư Bồ Đề Lưu Chí, người Nam Ấn Độ phiên dịch). Bản này trích từ một hội trong kinh Bảo Tích, là Vô Lượng Thọ Như Lai. “Dĩ hạ giản xưng ‘Đường dịch’ ” (Sau gọi tắt là bản Đường dịch). Sau giảng nói đến Đường dịch đều là nói bộ này.
Năm là Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Kinh Tống triều thời hầu, Tây Vực Sa Môn Pháp Hiền dịch, dĩ hạ giản xưng Tống dịch (Kinh Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm, thời nhà Tống, Sa môn Pháp Hiền, người Tây Vực dịch. Sau, gọi tắt là bản Tống dịch).
Trên đây là 5 bản hiện còn, chúng ta có thể xem đủ 5 loại bản dịch gốc “Vô Lượng Thọ Kinh”.
Chí ư dật chi thất chủng, cứ "Khai nguyên thích giáo lục” (Cho đến 7 bản dịch thất truyền, là căn cứ ở sách Khai NguyênThíchGiáoLục). KhaiNguyênThíchGiáoLục,‘Thích’ là Thích Ca Mâu Ni. ‘Thích Giáo’ tức là lời Phật dạy, là mục lục của kinh tạng. Đây là mục lục kinh tạng sớm nhất. Trong mục lục có, nhưng sách không có, không tìm thấy sách, cho nên trong mục lục thu lại vẫn còn 7 bản.
7 bản thất truyền như sau:
Một là Vô Lượng Thọ Kinh, nhị quyển. Hán An Tức quốc Sa môn An Thế Cao dịch (Kinh Vô Lượng Thọ 2 quyển, đời Hán, nước An Tức, Sa môn An Thế Cao dịch). Bộ kinh này thất truyền thật đáng tiếc. Vì sao? An Thế Cao dịch rất tuyệt vời! Thời kỳ đầu khi dịch kinh, Ngài giỏi nhất, dịch rất hay. Người ngoại quốc đem kinh Phật dịch thành chữ Hán, khiến người Trung Quốc thấy vô cùng hoan hỉ, trước kia là An Thế Cao. Sau này là Cưu Ma La Thập. Kinh này mất đi thật đáng tiếc.
Loại thứ hai là “Vô Lượng Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh’ nhị quyển, Tào Ngụy, Tam Quốc thời đại, Sa môn Bạch Diên dịch ư Lạc Dương Bạch Mã Tự” (Vô Lượng Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh, 2 quyển, đời Tào Ngụy thời Tam Quốc, Sa môn Bạch Diên dịch ở Bạch Mã tự, Lạc Dương).
Loại thứ ba là “Vô Lượng Thọ Kinh’ nhị quyển, Tấn triều, sa môn Trúc Đàm Ma La Đa” (Vô Lượng Thọ Kinh, 2 quyển, đời Tấn, Sa môn Trúc Đàm Ma La Đa). Tiếng Trung Quốc gọi là Pháp Hộ, là Ngài dịch vậy.
Loại thứ tư “‘Vô Lượng Thọ Chí Chân Đẳng Chính Giác Kinh’ nhị quyển” (Vô Lượng Thọ Chí Chân Đẳng Chính Giác Kinh, 2 quyển có tên gọi khác là “Lạc Phật Độ Lạc Kinh”. “Nhất danh ‘Cực Lạc Phật Độ Kinh’. Đông Tấn Tây Vức Sa môn Trúc Pháp Lực dịch” (Một tên khác là Cựu Lạc Phật Độ Kinh, đời Đông Tấn, Sa môn Trúc Pháp Lực, người Tây Vực phiên dịch).
Loại thứ năm “Tân Vô Lượng Thọ Kinh, hai quyển, đời Đông Tấn, nước Ca La Vệ La Sa môn Phật Đà Bạt Đà La (đây là người Ấn Độ), đời Tấn nói Ngài Giác Hiền dịch ở Đạo Tràng tự”. Các vị pháp sư này ở Trung Quốc dịch rất nhiều kinh, nhưng Vô Lượng Thọ Kinh đã bị thất truyền.
Loại thứ sáu cũng là “Tân Vô Lượng Thọ Kinh, hai quyển, đời Tống nước Lương Châu, Sa môn Bảo Đàm dịch ở Đạo Tràng tự”.
Loại thứ bảy cũng là “Tân Vô Lượng Thọ Kinh, hai quyển đời Tống, nước Kế Tân (tức là Tân Cương ngày nay). Sa môn Đàm Ma la Mật Đa, Pháp Tú dịch thành chữ Hán.
“Dĩ thượng khuyết thất giả thất” (Trên đây là 7 loại thất truyền vậy).
Liên tiền tồn thế dĩ ngũ, thế xương thập nhị đại dịch, thật tắc bát đại (Nối tiếp trước, hiện tồn tại 5 bản, đời nay hiện rõ 12 đời dịch, thật ra là 8 triều đại).
Phía dưới Ngài nói, “Kế Hán đại, hậu Hán nhị chủng. Tam Quốc, Ngô hữu nhất chủng, Ngụy hữu nhị chủng, Tây Tấn hữu nhất chủng, Đông hữu nhị chủng, Lưu Tống nhị chủng. Đường Triều nhất chủng, Triệu Tống hữu nhất chủng. Cái dịch thời, phân tại bát đại, dịch bản tắc vi thập nhị chủng” (Kế tiếp đời Hán, hậu Hán có 2 loại, Tam Quốc-Ngô có 1 loại. Đời Ngụy có 2 loại. Tây Tấn có 1 loại. Đông Tấn có 2 loại. Lưu Tống có 2 loại. Đời Đường có 1 loại. Đời Triệu Tống có 1 loại. Bởi vì thời đại dịch có 8, nhưng bản dịch gồm 12 loại vậy). Đây là đem bản dịch Vô Lượng Thọ Kinh, giới thiệu sơ lược.
“‘ChânGiảivân”,“ChânGiải”là pháp sư Đạo Ẩn, người Nhật Bản, làm chú giải “Vô Lượng Thọ Kinh”, tên là “Chân Giải”. Trong đây có mấy câu như thế này: “Phàm ư chư kinh trung truyền dịch. Thạnh vô như kim kinh. Tư nãi dĩ xuất thế chính ý, lợi ích vô biên cố dã” (Phàm trong các kinh truyền dịch nêu trên. Thịnh hành không bản nào bằng bản này. Đây là bản thể hiện ý chính của Phật ra đời, nên có lợi ích vô biên).
Các vị pháp sư người Nhật, họ dùng bản kinh Vô Lượng Thọ, phần lớn đều là bản của Khương Tăng Khải, cho nên Ngài nói ‘kim kinh’ (bản này) đều là chỉ bản dịch của Khương Tăng Khải. Ở Nhật Bản rất thịnh hành. Hai câu trong này vô cùng quan trọng: “Xuất thế chính ý. Lợi ích vô biên”. Đây là nói pháp môn Tịnh Độ hết sức thù thắng.
“Hội Sớ dã thuyết” (Hội Sơ cũng nói). ‘Hội Sớ’ là pháp sư Tuấn Đế, người Nhật Bản, cũng chú giải tương tự “Phàm ư chư kinh trung truyền dịch thạnh nhiên vô như kim kinh, tư nãi đạo lý u thúy lợi ích tối thượng cố dã” (Phàm trong các kinh truyền dịch nêu trên, thịnh hành không bản nào bằng bản này. Đây chính là đạo lý thâm sâu, lợi ích hơn hết vậy).
“Lưỡng sớ đồng nhất trác kiến” (Cả 2 Sớ giải đồng một ý kiến trác tuyệt). Câu nói này là lời bình của thầy Hoàng Niệm Tổ. 2 loại chú giải Nhật Bản có cùng một nhận định ‘Lợi ích tối thượng, lợi ích vô biên’ .
“Tồn thế ngũ chủng, sai dị giảo trước” (Hiện tại trong Đại Tạng Kinh, có 5 loại bản dịch gốc, nội dung sai biệt rất rõ).
“Bất tợ A Di Đà kinh chi lưỡng dịch dữ Kim Cương Kinh chi lục dịch, kỳ văn chi tường lược tuy sảo hữu dị nhi nội dung thật thị tương đồng” (Không giống 2 bản dịch kinh A Di Đà và 6 bản dịch kinh Kim Cương, văn chúng rõ ràng tóm lược hơi có chút khác, nhưng nội dung thật là tương đồng).
Lấy ví dụ, kinh Kim Cương trong Đại Tạng Kinh có 6 bản dịch, hiện tại lưu hành rất rộng rãi. Mọi người rất hoan hỉ đọc là bản của Đại sư Cưu Ma La Thập dịch. Ngài dịch ý rất hay, không phải trực tiếp chiếu theo văn tự dịch, lấy ý nghĩa của kinh văn, dùng ngôn ngữ của mình, cũng chính là dùng ngữ khí của người bản địa để dịch. Vì thế, chúng ta xem đặc biệt lưu loát, không khác gì văn của mình viết vậy.
“Kim kinh ngũ dịch” (5 loại bản dịch này), “bất đản văn tự tường lược sai biệt huyền thù, thả nội dung thâm quảng diệc phục hữu dị. Liệt như Di Đà Nhân Địa Đại Nguyện” (Không những văn tự rõ ràng, tóm lược sai biệt rất nhiều, mà nội dung sâu rộng cũng lại có khác. Ví như là Nhân địa đại nguyện của Phật Di Đà). Đây là điều vô cùng quan trọng.
“Hán Ngô lưỡng dịch nhị thập tứ nguyện. Tống dịch vi tam thập lục nguyện. Ngụy Đường lưỡng dịch thì vi tứ thập bát nguyên” (Hai bản Hán, Ngô dịch ghi, 24 nguyện; bản Tống dịch, ghi 36 nguyện; 2 bản Ngụy- Đường dịch, ghi 48 nguyện). Sai biệt lớn như vậy.
“Thả nguyện chi nội dung, các dịch diệc phục bất đồng, khả kiến xuất nhập chi cự” (Hơn nữa, nội dung các nguyện mỗi bản dịch cũng lại không đồng, có thể thấy sự sai biệt khá lớn).
“Hiện thế lưu truyền, Ngụy dịch giảo quảng” (Hiện tại lưu truyền bản Ngụy dịch rất rộng). Bản này của Khương Tăng Khải dịch.
“‘Chân Giải’ chỉ xuất, dĩ Hán Ngô lưỡng dịch, đối chiếu Ngụy bản, thô cử đại giả, kế hữu bát dị” (Sách ChânGiảichỉ ra, tạm nêu lên 8 điều khác biệt lớn giữa 2 bản Hán-Ngô dịch và bản Ngụy dịch).
“Như dữ Đường bản đối kiệm lược hữu thất dị, kim bất tường lục” (Nếu so với bản Đường dịch, ít nhất có 7 điều khác, nay không ghi ra đây).
“Chí ư Tống dịch, dữ chư dịch sai dị cách đại” (Đến như bản Tống dịch, thì càng sai biệt nhiều so với các bản dịch khác). Đây là vấn đề lớn, nếu như bản gốc tiếng Phạn là một loại, người phiên dịch phải là đại thể tương đồng, không khác nhau nhiều. Có khác nhau nhiều, vấn đề này ở đâu? “Chư dịch hà dĩ bất đồng” (Các bản dịch vì sao không đồng?). Tức là 5 loại bản dịch hiện còn của chúng ta, vì sao không đồng?
“Thanh Trầm Thiện Đăng cư sĩ Báo Ân Luận viết” (Báo Ân Luận của cư sĩ Trầm Thiện Đăng đời Thanh, trước tác có nói:). Đây là luận văn học Phật của ông. Trong đó có một đoạn như sau: “Kỳ sở dĩ bất đồng chi cố, lược khảo chư kinh, ước hữu tam đoan” (Nói về lý do các bản dịch không đồng, qua lược khảo các kinh, ước tính có 3 nguyên do:). Khảo là khảo sát 5 bản kinh này.
Thứ nhất, “Dịch thủ xảo chuyết bất đồng” (Thủ pháp dịch khéo vụng không đồng). Đây là nói người phiên dịch.
Thứ hai, “Phạn bản truyền tả bất đồng” (Bản tiếng Phạn truyền ghi không đồng). Đó tức là không phải một bản tiếng Phạn.
Thứ ba, “Bản sư tiền hậu đa thứ tuyên thuyết bất đồng” (Đức Phật trước sau nhiều lần tuyên thuyết không đồng). Điều này, vô cùng quan trọng.
Bản sư tam bách dư hội pháp, ký đa chỉ quy Tịnh Độ, tắc tự nhiên lũ thuyết bất nhất thuyết. Nhi diệc tùy thời tùy cơ, khai thông đại ý, y nghĩa bất y ngữ, hiển nhiên khả tri. Cố tri Vô Lượng Thọ Kinh nãi Phật đa thứ tuyên thuyết, Phạn bản bất nhất, dịch giả sở cứ bất đồng, thả dịch bút chi xảo chuyết hữu sai, ư thị dịch văn tự nhiên sai dị dã (Đức Phật chúng ta thuyết pháp hơn 300 hội, đã phần nhiều chỉ về Tịnh Độ, thì tự nhiên phải nói nhiều lần không thể một lần, và cũng tùy thời tùy cơ khai thông đạt ý. Chúng ta phải dựa vào nghĩa không dựa vào lời nói, rõ ràng có thể biết, cho nên biết, kinh Vô Lượng Thọ chính là Phật tuyên thuyết nhiều lần, không thể là một bản Phạn, dịch giả y cứ tất nhiên không đồng. Hơn nữa, khả năng dịch thuật còn có hay dở không đồng, nên văn dịch tự nhiên có sai biệt thôi). Đây là quan điểm của cư sĩ Trầm Thiện Đăng, trong này ông nói điểm thứ ba vô cùng quan trọng. Là người phiên dịch căn cứ bản gốc tiếng Phạn khác nhau, cho nên mới có sai lầm lớn như vậy. Nếu như là một bản tiếng Phạn, thì có lẽ không có hiện tượng này.
Phía trên nêu kinh Kim Cương có 6 bản phiên dịch, nhưng chỉ 1 loại bản gốc. Quý vị xem, hiện tại 6 bản đó nội dung đại thể tương đồng, không có sai khác lớn. Đây là nói khi Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế, giảng kinh thuyết pháp đều là giảng một lần, không có giảng lại lần thứ hai. 4 bản Vô Lượng Thọ Kinh này, trong đó khác nhau rất nhiều, cho nên phán đoán ít nhất 3 bản không giống nhau. Như vậy, đức Phật phải giảng ít nhất hơn 3 lần. Nếu kể luôn 7 bản thất truyền, thì sự sai khác còn nhiều nữa. Đó biểu thị tính quan trọng của bộ kinh này, có thể độ khắp hết thảy chúng sinh. Đệ nhất pháp trong hết thảy pháp môn, hết sức thù thắng.
Vì thế, thường nói mỗi một lần giảng không thể hoàn toàn tương đồng, giống như chúng ta học Vô Lượng Thọ Kinh. Tôi học bản này tức là bản hội tập của lão cư sĩ Hạ Liên Cư. Tôi dùng bản này giảng bộ kinh này. Trước đây đã giảng qua 10 lần, mỗi một lần không giống nhau. Vì thế, có học trò đến nói với tôi, cần đem những điều trước đây tôi giảng viết thành giảng ký. Tôi nói được, tốt nhất là hội tập, đem 10 loại bản của tôi trước đây. Mọi người đều xem xem, chỗ không giống nhau đều trích ra, vậy thì viên mãn hơn. Lần này là lần thứ 11, chúng tôi thay đổi phương pháp. Giảng chú giải, giảng chú giải của lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ, cũng là kỷ niệm trước đây ngày chúng tôi quen nhau. Rất không dễ dàng! Khi đó, ở trong nước giảng bản này chỉ một mình ông, không có người thứ hai.
Ở hải ngoại, giảng bản hội tập này chỉ có một mình tôi, cũng không có người thứ hai. Chúng tôi gặp mặt nhau vô cùng hoan hỉ. Chúng tôi trao đổi tâm đắc về tu học, giảng thuật, tôi biết ông khổ cực chú giải bộ kinh này, thân mang trọng bệnh ngày đêm không nghỉ, đem bộ kinh này chú giải hoàn thành. Sau khi hoàn thành không bao lâu thì ông mất. Ở trong hoàn cảnh như thế quả thật không dễ. Đây là oai thần Tam bảo gia trì.
Bản Hội Tập này, bộ chú giải này, khẳng định lưu hành đến cùng khi Phật pháp trên thế gian này mất hẳn.
Ở trong kinh Pháp Diệt Tận Phật, bảo chúng ta, pháp vận của Phật 12.000 năm, tính từ ngày Phật Thích Ca Mâu Ni diệt độ. Chiếu theo sự ghi chép của người Trung Quốc đại đức ngày xưa, Phật Thích Ca Mâu Ni diệt độ đến năm nay là 3.037 năm, với người ngoại quốc nói không giống nhau. Người ngoại quốc nói là hơn 2.500 năm. Năm nay 2010 là 2.554 năm, chư tổ sư của chúng ta ghi lại là 3.037 năm, chênh lệch nhau xấp xỉ năm đến 600 năm. Tuy nhiên, những sai biệt này không cần khảo chứng, bởi ai cũng nói không đúng, trừ khi tìm lại Phật Thích Ca Mâu Ni!
Chúng ta nghĩ đến truyền thừa của pháp môn này, lợi ích vô biên. Từ thời đại hiện nay về sau, chân chính học Phật có thể đắc độ. Tiêu chuẩn đắc độ này, vượt qua luân hồi lục đạo, vượt qua mười pháp giới, chỉ có pháp môn này. Nói cách khác, chỉ có bộ kinh này, chú giải này, những kinh luận khác tuy nhiều, pháp môn tuy nhiều, không đoạn được phiền não. Đây là sự thật. Không cần nói phiền não vi tế, phiền não thô trọng nhất, 88 phẩm kiến hoặc, quý vị có thể đoạn trừ được không? Có thể đoạn chúng mới chứng quả Tu Đà Hoàn. Chưa ra khỏi luân hồi lục đạo, nhưng quyết định không đọa vào 3 ác đạo. Tu Đà Hoàn, 7 lần trở lại cõi Trời, Người. Đây nói tu hành phải trải qua thời gian dài như vậy. Chứng quả A La Hán mới được vượt qua lục đạo, còn chưa được vượt qua mười pháp giới. Vượt qua mười pháp giới, thì còn phải thời gian rất dài.
Chúng ta thấy trong kinh Hoa Nghiêm, Tiểu thừa Tu Đà Hoàn đoạn phiền não. Tầng này với trong kinh Hoa Nghiêm, bằng Thập Tín vị Bồ tát Sơ Tín đoạn chứng. Quý vị thấy đó, không dễ dàng đâu. Cái đầu tiên trong kiến hoặc là thân kiến. Thân kiến lấy gì làm tượng trưng? Nói rất đơn giản, tự tư tự lợi. Có người nào có thể đoạn được cái này? Không chấp trước thân này là ta nữa?
Thứ hai, đoạn biên kiến. Biên kiến là gì? Đối lập, cái này mọi người dễ hiểu, quý vị có thể không đối lập với người, không đối lập với việc, không đối lập với hết thảy vạn vật.
Thứ ba là thành kiến. Hôm nay, chúng ta giảng không theo quan niệm chủ quan, đã buông bỏ thành kiến, có thể hằng thuận chúng sinh. Không đơn giản! Một điều cũng rất khó.
Vì thế, lão Hoàng Niệm nói với tôi, tu thiền khó khai ngộ, cũng khó đạt được thiền định. Trước đây còn có thể đạt thiền định, thời nay thiền định khó đạt được. Tu Mật, tam Mật không thể tương ưng, chỉ có Tịnh độ, cho nên ông đã tham thiền qua thầy của ông là Hư Vân lão Hòa thượng. Học qua Mật, Thượng sư Mật tông - thầy của ông là Cống Cát lão nhân. Cuối cùng, ông niệm A Di Đà Phật cầu sinh Tịnh độ. Nói với tôi, một ngày niệm 140.000 câu danh hiệu Phật, vạn duyên buông bỏ, ngày đêm không nghỉ, mệt quá rồi thì chợp mắt ngủ một tí, tỉnh dậy thì tiếp tục danh hiệu Phật. Một ngày niệm 140.000 câu, ông nghe lời của thầy! Thầy của ông là Hạ Liên Cư. Khi thầy Hạ qua đời cũng là niệm Phật vãng sinh. Lão cư sĩ Hạ Liên Cư cũng là thông Tông, thông Giáo, Hiển Mật viên dung. Đến cuối cùng, toàn bộ đều chọn Tây Phương Tịnh Độ. Vì vậy, lần này tôi chọn giảng chú giải này, kỷ niệm lão cư sĩ. Ông vất cả cực nhọc, chú giải này cần phải truyền đi, giảng kỹ một lần thì có thể truyền đi rồi. Do đó, chúng ta đặt nhan đề là “Tịnh Độ Đại Kinh Giải Diễn Nghĩa”. Tôi đặt nhan đề này.
Câu nói này của cư sĩ Trầm Thiện Đăng, chúng ta xem qua rồi. Xem ông nói dưới đây: “Phạn bản dị ngộ chi nhân viết” (Trong bản tiếng Phạn này dễ xuất hiện sai lạc). Nguyên nhân gì? “Cái phạn giáp giai tả bản, dị chí thoát ngộ” (Vì bản Phạn đều là bản chép trên lá Bối, dễ bị rách mất).
Ấn Độ truyền qua là bản gốc tiếng Phạn, tại Cố Cung Bác Vật viện có bảo tồn. Có cơ hội, quý vị nên xem. Nó được viết ở lá cây Bối Đa La. Loại lá cây ấy giống như cây chuối tiêu của chúng ta, đem nó cắt từng miếng từng miếng lớn giống nhau, 2 bên khoét cái lổ, dùng sợi dây xâu lại, đại khái một mặt có thể viết được 5 hàng, viết thêm trên đỉnh được 6 hàng. 2 bên đều viết, cho nên dùng dây xâu lại rất dễ dàng. Dây đứt thì nó rã ra, rất dễ mất đi. Đây là dễ sai sót.
“Như Hán dịch Đại bản kinh, nãi nhĩ kiếp thời hạ, thoát ngộ số thập tự, Hán nghĩa bất quán” (Như Đại bản kinh Hán dịch, trải qua thời gian cũng mất khoảng vài mươi từ, khiến nghĩa của Hán tự không thông). Văn nghĩa liên kết không được. Đây nêu ví dụ, tình hình này rất nhiều.
“Hựu Tứ Thập Nhị chương tạng bản, tựu thị Tứ Thâp Nhị Chương kinh” (Lại bản Tứ Thập Nhị Chương trong Đại Tạng Kinh, tức là kinh Tứ Thập Nhị Chương). Đây là bộ kinh điển thứ nhất dịch tại Trung Quốc, phiên dịch sớm nhất. Nó không phải là một bộ kinh, mà từ các kinh trích ra, rất nhiều kinh, những điều quan trọng Phật nói, từng điều từng điều ghi chép lại, gồm có 42 đoạn. Ma Đằng và Trúc Pháp Lan, ban sơ họ đến Trung Quốc phiên dịch ra. Bản này đều viết bằng tay.
“Dữ Thạch Khắc Triệu Văn Mẫn tả bản cập tạng ngoại lưu hành các bản, chương tiết tiền hậu đa quả các các bất đồng” (Cùng với bản chép tay của Triệu Văn Mẫn khắc trên đá và các bản lưu hành ngoài Đại Tạng Kinh, các chương tiết trước sau, quả thật là mỗi mỗi chẳng đồng). Cái này sai biệt quá lớn rồi. Chúng ta thấy rất nhiều “Tứ Thập Nhị Chương Kinh”, cầm xem nội dung không giống nhau. Lúc bấy giờ lưu truyền lại, rất nhiều người sao chép, có người chép sót đi, có người chép nhiều thêm mấy từ. Đây cũng là việc thường có. Phạn văn lúc bấy giờ truyền đến Trung Quốc, cũng có tình trạng này, không phải một người viết dài như vậy, một người viết một chút. Rất nhiều người viết, có khi có thể liên kết lại với nhau, có khi không liên kết được. Nếu trong đó nó mất đi một trang, thì ta không liên kết được rồi.
“Sở dĩ ‘Tứ Thập Nhị Chương Kinh’ nhi dữ Pháp Uyển Châu Lâm sở dẫn hựu bất đồng” (Sở dĩ, kinh Tứ Thập Nhị Chương lại không giống như trong Pháp Uyển Châu Lâm đã dẫn chứng). Sách Pháp Uyển Châu Lâm trước kia, thông thường người đọc sách không có thời gian xem kinh Phật, nhất định xem bộ sách này. Đây bằng như nói là Phật Giáo Bách Khoa Toàn Thư, trong đó phân thành 100 loại. Ở trong mỗi kinh luận, thì sao chép lại các thứ. Quý vị cần trích dẫn, thì vô cùng tiện lợi. Chúng ta tự tra kinh rất khó. Người tra được đều là người biên tập triều Đường, đây thuộc về sách.
“Thả hữu ‘Nhất Thiêt Kinh Âm Nghĩa’ sở trích tự, nhi chư bản giai vô giả, đại để thông tập đa, tắc truyền tả đa, nhi đắc thất dị đồng diệc đa” (Vả lại, có những từ trong sách Nhất Thiết Kinh Âm Nghĩa trích dẫn, nhưng trong các bản đều không có. Đại để là do nhiều người biên tập, nhiều người truyền ghi, thì việc đủ, mất, đồng, khác cũng nhiều). Đây là nói rõ nguyên nhân, nhiều người sao chép. Đồng một bản gốc, chúng ta 2 người sao chép, chúng ta đem bản sao đối chiếu, thì của 2 người có thể không giống nhau. Bản gốc giống nhau, bản sao thì không giống nhau. Sao chép sót mất, làm không cẩn thận, hoặc là khi sao chép, âm đọc chúng ta viết chữ khác, cho nên sai chữ, việc này khó tránh được. Đây cũng là nghiên cứu nguyên do có những sai lầm lớn như vậy.
“Hựu viết ‘Chân Giải’ vân, dĩ thẩm chư dịch, thị Phạn bản quảng đa, chí sử truyền dịch văn nghĩa, tồn một tường lược bất đông nhỉ” (Lại nói: Sách Chân Giải nêu, vì xét kỹ các bản dịch, biết là bản Phạn sẽ rất nhiều, dẫn đến khiến cho truyền dịch chỗ còn chỗ mất, chỗ lược bỏ, chỗ nói rõ không đồng).
“Tổng minh bản kinh vi Phật đa thứ tuyên thuyết” (Tóm lại nói, kinh này chính là Phật tuyên thuyết nhiều lần). Suy đoán từ kinh điển phiên dịch lưu lại hiện nay, khẳng định kinh này, Phật không chỉ giảng một lần.
“Thả tụng tập giả đa” (Hơn nữa, nhiều người đọc tụng, học tập).
“Phạn bản truyền tả giả đa, Phạn bản hữu đa chủng, tồn một tường lược hữu bất đồng, Phạn giáp tả bản hựu dị thoát lạc, cố kim chư dịch bản thậm hữu sai dị” (Người truyền ghi bản Phạn nhiều, bản Phạn lại có nhiều loại, nên chỗ còn mất, lược, nêu bất đồng. Bản Phạn chép lại dễ rách mất. Vì thế, các bản dịch hiện nay rất nhiều sai khác). Trong này, có một câu chúng ta cần đặc biệt lưu ý: Tụng tập. Thời đại hiện tại này, Phật giáo suy yếu, suy đến mức độ nào? Phật giáo đã biến thành tôn giáo. Chúng ta là đệ tử Phật đời sau, không kể tại gia hay xuất gia đều có tội!
Khi Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế, 37 tuổi khai ngộ liền dạy học, day suốt một đời mãi đến khi già chết, không bỏ qua một ngày nào. Ngài dạy học lúc đó, dạy học không có văn tự, không có sách vở. Các kinh điển này là sau khi Phật điệt độ, chúng đệ tử mọi người cùng đề cử tôn giả A Nan, đem kinh mà Phật còn tại thế đã giảng, đọc lại một lần. Trí nhớ của A Nan rất tốt lại nghe hết toàn vẹn. Thị giả của Phật Thích Ca Mâu Ni không rời xa một ngày, phụng dưỡng Phật Đà. Thỉnh Ngài đọc lại, 500 đồng học làm chứng. Nghe A Nan đọc mọi người đều gật đầu, đích thực là Phật có nói như vậy, ghi chép lại. Nếu có một người đề xuất ý kiến, hình như không phải như vậy, thì câu nói này không dùng nữa. Điều này, làm niềm tin cho đời sau.
Vậy kinh điển là gì? Là Phật Thích Ca Mâu Ni lúc bấy giờ giáo huấn cho đại chúng. Nghe xong lời Phật dạy phải y giáo phụng hành. Y giáo phụng hành là tập, học là lúc thực hành nó, chúng ta mới chân chính đạt được lợi ích, cho nên kinh không phải để cho chúng ta đọc. Đọc là một phương tiện để ghi nhớ nó.
Quan trọng là ở tập. Tập là gì? Biến nó thành hành vi sinh hoạt của chính chúng ta, làm thành kiến giải, tư tưởng của chính chúng ta. Cái này quan trọng. Mọi người chúng ta ngày nay xem Phật như Thần. Sai rồi! Phật không phải Thần. Phật là người, ở trên cách xưng hô rất rõ ràng, chúng ta xưng Phật Thích Ca Mâu Ni là bản sư, thầy giáo căn bản. Chúng ta tự xưng mình là đệ tử.
Chúng ta với Phật Thích Ca Mâu Ni có quan hệ như thế nào? Quan hệ thầy trò. Trong tôn giáo không có quan hệ thầy trò, đạo Phật không phải tôn giáo. Học trò bất tài chúng ta đã biến nó thành tôn giáo là có lỗi với Ngài. Như vậy thì có tội lỗi. Ở Trung Quốc, lịch sử Phật giáo biến thành tôn giáo rất ngắn. Thầy Lý đã từng nói với tôi, không vượt qua 300 năm.
Trong lịch sử ghi lại, thời đại Càn Long, Gia Khánh vẫn chưa thay đổi. Hết thảy các đạo tràng tự viện, am đường này của Phật giáo đều dạy học, đều lên lớp. Do đó, tự viện, am đường là trường học. Nhà Phật gọi là chùa. Chùa không phải là miếu. Trong miếu là tôn giáo, đó là cúng Thần. Chùa là gì? Chùa là cơ quan làm việc của chính phủ. Cơ cấu này trực tiếp thuộc về vua quản lý gọi là chùa. Bây giờ, nếu có cơ hội, quý vị đến Bắc Kinh, đến Cố Cung xem, sẽ thấy trong Cố Cung rất nhiều cơ cấu làm việc, treo cái bảng đó cũng là dùng chữ chùa (tự). Phật giáo gọi chùa, trực tiếp thuộc về vua quản lý. Giáo dục Phật Đà, từ Hán Minh Đế về sau, Trung Quốc có 2 thể hệ giáo dục, một là giáo dục của nhà Nho, thuộc Tể tướng quản lý, cơ cấu này gọi là Bộ Lễ. Lễ Bộ là Bộ Giáo dục. Lễ Bộ Thượng thư tức là Bộ trưởng Bộ Giáo dục. Chùa là giáo dục Phật giáo. Thời đó, ngôi chùa thứ nhất là chùa Bạch Mã. Nhớ công của bạch mã. Bạch mã chở tượng Phật, chở kinh sách. Người xưa hiền lành, với súc sinh cũng không quên. Nó có công với Phật, cho nên lấy tên của nó đặt tên chùa là chùa Bạch Mã. Đây là giáo dục của đức Phật. Giáo dục của Phật thuộc vua quản lý, không thuộc Tể tướng quản. Quý vị xem, thể lệ này mãi đến giai đoạn đầu triều nhà Thanh, Khang Hi, Ung Chính, Càn Long đến Gia Khánh. Họ đối với Nho, Thích, Đạo đều thật sự bỏ nhiều công sức. Trong cung đình, những tài liệu giảng kinh này, đều ở trong “Tứ khố”. Tôi thấy Tứ khố, thường thường đem các thứ này lật lại xem coi lúc bấy giờ trong cung đình nói như thế nào, đều tồn tại, giảng nghĩa đều tồn tại, đối với Phật giáo đặc biệt tôn trọng, cho nên Phật giáo giảng nghĩa không ở Tứ khố, tại “Đại Tạng Kinh”, đặc biệt biên soạn một bộ “Đại Tạng Kinh”.
Sách của Đạo giáo thì ở “Tứ khố”. Nho và Đạo đều ở trong “Tứ khố”, chỉ có Phật giáo là ngoại lệ. Đây, đối với Phật giáo đặc biệt tôn trọng. Ngày nay, chúng ta có sứ mạng, chân chính làm đệ tử Phật phải đem nền giáo dục Phật giáo khôi phục, cho nên chúng ta gọi là giáo dục của đức Phật, giáo dục Phật Đà. Gọi Phật giáo, mọi người sẽ nhầm sẽ nói Phật giáo là tôn giáo. Chúng ta ngày ngày cùng nhau học tập, đây không phải mê tín. Bây giờ trở thành như thế nào? Người học tập quá ít. Người mang danh nghĩa Phật giáo buôn bán nhiều quá rồi. Cái này chúng ta cũng không cần nói nữa, không cần nhắc lại nữa, tự mình siêng năng nỗ lực làm là được. Nhất định phải tìm người cùng chung chí hướng làm hi sinh phụng hiến, làm đệ tử chân thật của Như Lai. Sứ mạng công đức này không thể nghĩ bàn.![]()



























































































































































Bình luận bài viết