Thông tin

TỊNH ĐỘ ĐẠI KINH GIẢI DIỄN NGHĨA - TẬP 73

 

 

Chủ giảng: LÃO PHÁP SƯ TỊNH KHÔNG

*****

Trưởng ban biên dịch:

TK. Thích Đồng Bổn

 

QUYỂN 8

(Tập 71-80)

 

TẬP 73

 

Giảng ngày 08 tháng 7 năm 2010

Tại Phật Đà Giáo Dục Hiệp Hội HongKong

Chuyển ngữ: Hạnh Chơn - Biên tập: Bình Minh

 

Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin mời xem tiếp “Đại thừa Vô Lượng Thọ Kinh Giải”, bắt đầu từ dòng thứ 2, trang 86. Đoạn văn này là Hoàng lão cư sĩ đem 5 bản dịch gốc kinh Vô Lượng Thọ, trong 5 loại sách này sai biệt rất lớn. Nói cách khác, khi phiên dịch chắc chắn không phải dùng đồng một nguyên bản Phạn văn, mới xuất hiện tình hình này.

Căn cứ khảo chứng của chư vị cổ đức ngày xưa, nguyên bản Phạn văn chí ít có 3 loại không đồng nhau. Tại sao có 3 loại? Đương nhiên có khả năng nhất là lúc đức Thế Tôn còn tại thế giảng qua 3 lần, thậm chí trên 3 lần. Vì sao? Bởi cuốn sách này đã thất truyền 7 bản phiên dịch, nên bộ kinh này truyền đến Trung Quốc rất sớm. Thời nhà Hán, nó đã có bản dịch của An Thế Cao, chúng ta cũng biết niên đại đó rất sớm. Thời kỳ sớm đã đến Trung Quốc.

Đến thời Nam Tống 8 triều đại, cũng gần 800 năm. Trong thời gian dài đó, tổng cộng phiên dịch 12 lần. Nguyên bản Phạn văn từ Ấn Độ truyền sang, không ngừng lưu thông vào Trung Quốc. Mỗi lần truyền vào có thể không giống với lần trước, và toàn bộ đều phiên dịch. Đây là căn cứ hiện tại đang tồn tại 5 loại sách, phán đoán ít nhất có 3 loại nguyên bản. Ngoài ra, 7 loại đã thất truyền, thì không bàn đến nữa. Nếu có 7 loại này, có thể vẫn còn phát hiện những cái bất đồng.

Đức Thế Tôn lúc còn tại thế, một đời giảng kinh giáo hóa. Trong kinh điển ghi chép, Ngài 30 tuổi khai ngộ. Một số người gọi là thành đạo. Thành đạo chính là khai ngộ. Sau khi khai ngộ, Ngài bắt đầu giáo hóa cho đến già chết. 79 tuổi, Ngài nhập Niết bàn. Giảng kinh hơn 300 hội, thuyết pháp 49 năm. Hội này, giống như hiện nay chúng ta mở lớp. Một hội là giảng một phần. Một phần này, có lớn có nhỏ. Một phần lớn có thể giảng vài năm, cũng có thể giảng một bộ kinh, như “Đại Bát Nhã Kinh”. Đây là một mục lớn, còn nhỏ thì một vài người đến tìm Thế Tôn thỉnh giáo, đưa ra vấn đề và Ngài giảng. Nhỏ thì có thể nói là một vài giờ đồng hồ. Như vậy, cũng tính là một hội.

Trong A Hàm, chúng ta xem thấy một bộ kinh nhỏ, có văn tự của một vài bộ kinh nhỏ khoảng 300-400 từ. Đó cũng là một bộ kinh, như “Bát Nhã Tâm Kinh”. Đó cũng là một bộ kinh, 260 từ, nên có to có nhỏ, hợp lại cũng có mấy ngàn bộ kinh.

Mấy ngàn bộ kinh này, chúng ta biết lúc đức Thế Tôn giảng kinh giáo hóa, không có sách, không có văn tự, đến bản thảo không có, đề cương cũng không có. Nguồn gốc của kinh điển là sau khi Thế Tôn diệt độ, đệ tử của Ngài đã nghĩ đến giáo huấn của Thế Tôn. Những lời dạy này đáng trân quý. Nếu không truyền cho hậu thế thì thật đáng tiếc, nên từ ký ức, trong Tôn Giả A Nan truyền pháp. Trong hết thảy người tu học A Nan là người có ký ức tốt nhất. Hầu như sau khi nghe qua một lần, Ngài có thể hoàn toàn nhớ lại không hề quên, nên thỉnh A Nan phúc giảng, đem hết thảy những gì đức Thế Tôn giảng tuyên lại một lần. 500 Tỷ khiêu làm chứng, 500 A La Hán nghe. Nghe và mọi người đều đồng ý. Không sai, đức Thế Tôn đã nói như vậy. Như vậy mới ghi lại.

Nếu có một người phản đối đều không được. Chỉ cần có người nói hình như câu này đức Phật không nói như vậy, thì câu đó phải xoá đi. Làm như vậy để đặt niềm tin cho hậu thế và lưu truyền về sau. Những tài liệu Phật giảng lúc tại thế vô cùng trân quý. Lưu lại những thứ này, chúng ta đều biết đức Thế Tôn lúc đó giáo hóa, dạy người hiểu lý lẽ, minh bạch đạo lý. Dạy người hiểu nhân quả. Dạy người làm sao làm người, làm sao xử thế, làm sao đối nhân, tiếp vật. Ngài dạy người như vậy, và truyền đến hôm nay kinh điển biến thành tụng. Nó vốn không phải để chúng ta tụng. Nếu để tụng, thì năm đó Thế Tôn nên viết vài bộ kinh để mọi người tụng. Không có. Đức Thế Tôn không có làm như thế.

Chúng ta nhất định phải hiểu rõ, đức Thế Tôn, giống như Khổng Tử vậy. Địa vị của Ngài là thầy giáo, chức vụ là thầy giáo. Không thu học phí của người khác, chính là thầy giáo tình nguyện. Làm thầy giáo tình nguyện suốt 49 năm. Người học với Ngài rất đông, và sau đó kết tập thành kinh tạng. Tài liệu phong phú này được lưu truyền về sau. Khi truyền đến Trung Quốc không phải là hoàn chỉnh, vì lúc đó giao thông không thuận lợi. Kinh điển là viết tay, viết trên lá cây Bối Đa La, vô cùng quan trọng. Cao tăng Ấn Độ đến Trung Quốc, Cao tăng Trung Quốc đến Ấn Độ đi thỉnh kinh, chọn lựa rất kỹ càng tỉ mỉ.

Sách phiên dịch chữ Hán là tuyển chọn tinh hoa nhất, tốt nhất trong kinh điển Phạn văn của Ấn Độ. Đương nhiên cũng phải thích hợp với nhu cầu của người Đông phương chúng ta. Không đem về được tất cả, thật đáng tiếc vô cùng. Và những thứ còn lại đó, hiện nay đã thất truyền toàn bộ. Hiện nay, bảo tồn hoàn chỉnh nhất vẫn là bản dịch chữ Hán. Tiếng Tây Tạng bảo tồn một bộ phận. Bản chữ Hán bảo tồn hoàn chỉnh nhất, nên chúng ta phải hiểu, những kinh điển này đức Thế Tôn giảng dạy khi còn tại thế.

Chúng ta học Phật là tiếp nhận giáo dục của Phật Đà, cần phải hiểu điều này, với tôn giáo không có tương can gì. Đức Thế Tôn không phải thần, cũng không phải tiên, Ngài là con người. Phật nghĩa là gì chúng ta phải hiểu cho rõ ràng. Người Ấn Độ xưng là Phật Đà, người Trung Quốc gọi là Thánh nhân. Phật và Thánh ý nghĩa tương đồng.

Định nghĩa của Thánh là thấu triệt chân tướng sự thật. Hay nói cách khác, Thánh nhân là một người minh bạch; phàm phu chúng ta là người hồ đồ. Thánh nhân là người minh bạch, ý nghĩa của “Phật” là giác ngộ. Giác ngộ không phải chính là minh bạch sao? Người Ấn Độ xưng Phật Đà, với Trung Quốc gọi Thánh nhân, ý nghĩa này có thể nói là vô cùng tương đương.

Hiện nay, những học sinh hậu thế này có lỗi với thầy giáo. Vì sao? Đem giáo dục của Phật Đà biến thành tôn giáo. Quý vị nói có hỏng bét rồi không? Tôn giáo là mê tín. Trong nhà Phật, lễ Phật lễ Bồ tát, còn chúng ta lễ tổ tiên, ý nghĩa tương đồng. “Thận chung truy viễn” (Cẩn thận trong tang lễ, kính trọng trong cúng tế), ý nghĩa tức là kỷ niệm. Với lễ bái thần trong tôn giáo hoàn toàn không như nhau. Chúng ta kỷ niệm vị thầy giáo này, chư vị Bồ tát là học sinh trước đây, là sư huynh của chúng ta. Là những sư huynh vô cùng thành tựu, như 72 vị hiền của Khổng lão phu tử vậy. Trong 3.000 đệ tử, có 72 nhân tài kiệt xuất. Đó là hiền nhân, trong Phật pháp gọi là Bồ tát, không thể không biết.

Giáo dục tốt như vậy, nội dung tốt như vậy không người biết. Người y theo giáo dục này để học tập quá ít. Chúng tôi thật may mắn khi đã gặp được thầy Đông Phương Mỹ, mới thấu triệt được vấn đề này. Vốn dĩ chúng tôi đều không tin tưởng, vì cho rằng nó là tôn giáo, là mê tín. Sau này, tôi gặp được Chương Gia Đại sư, Ngài khuyên tôi xuất gia, khuyên tôi phải thật sự làm. Trách nhiệm này rất lớn, sứ mạng này vô cùng thiêng liêng, không dễ dàng gì. Chúng ta phải đem Phật pháp trở về với giáo dục. Đức Thế Tôn là một nhà tư tưởng, một nhà triết học, là một nhà giáo dục. Phải hiểu rõ ràng minh bạch điều này.

Giáo dục này xác thực có thể cứu xã hội, có thể cứu thế giới này. Lời này không phải tôi nói. Thập niên 70, Tiến sĩ Thang Ân Tỷ, nước Anh, đã nói. Lời này nói là thật, hoàn toàn không phải giả. Ông ta nói cần phải giải quyết vấn đề của xã hội thế kỷ 21. Vấn đề này hiện nay vô cùng nghiêm trọng, chỉ có học thuyết Khổng Mạnh với Phật pháp Đại thừa, mới biết đúng đắn và thấu triệt. Điều này thật không dễ! Nhưng không tinh tấn tu học, thì không thể y giáo phụng hành. Những giáo huấn trong kinh điển không nhìn ra được, huống gì hầu như tuyệt đại bộ phận là kinh được phiên dịch hoàn thành trước triều đại Nam Tống. Nhưng vẫn được xem là rất khó gặp. Các đại sư phiên dịch kinh đều có trí tuệ cao độ. Dùng văn tự rõ ràng nhất, gần như là văn bạch thoại. Ngày xưa dùng văn bạch thoại này, khiến giáo dục Phật giáo tuyên truyền phổ biến khắp nơi. Lối hành văn của văn tự trong kinh Phật này, trong văn tự học được xưng là biến văn. Biến của biến hóa, so với cổ văn hoàn toàn không giống nhau, dễ hiểu hơn cổ văn rất nhiều.

Quý vị xem văn chương thời Hán - Đường. Quý vị xem kinh Phật. Kinh Phật này phiên dịch từ thời Hán. Chúng ta so với cổ văn, thì rất dễ hiểu. So ra cổ văn khó hơn rất nhiều, nên người dịch kinh cũng rất dụng tâm. Tuy rất rõ ràng, nhưng bây giờ không có cơ sở văn học, nên vẫn rất khó khăn. Chúng ta học Phật không thể không học thể văn cổ. Bây giờ, thầy giáo dạy thể văn cổ cũng không có. Chúng ta rất cảm kích các chuyên gia học giả đời trước, bây giờ họ không còn cũng không có người học. Nhưng tư liệu mà họ lưu lại, nếu chúng ta quả nhiên dụng công, có thể đem những bài học này bổ túc thêm.

Nhật báo Đài Loan, xuất bản bộ sách “Cổ Kim Văn Tuyển”. Đây là tâm huyết của các chuyên gia học giả đời trước, họ phiên âm rất chính xác, chú giải cũng rất kỹ càng tường tận. Hiện nay, toàn tập hình như có 16-17 cuốn bìa cứng. Nếu chúng ta học tập từ chỗ này, chỉ mất thời gian 2 năm, sau đó đọc kinh Phật sẽ không có chút chướng ngại nào. Việc này không thể không làm, phải cần dùng 2 năm công phu, để tìm cổ văn đem trở về lại. Nó sẽ giúp chúng ta đột phá văn tự trong kinh Phật, chướng ngại văn tự không còn. Chúng ta có thể xem hiểu, mới có thể biết học như thế nào.

Kinh Vô Lượng Thọ phiên dịch rất đặc thù. Mấy bản dịch này, nội dung trong đó sâu cạn sai biệt rất lớn. Hoàng lão cư sĩ trong chú giải này nói rất tường tận, văn tự không khó hiểu. Bây giờ, chúng ta đọc tiếp đoạn sau:

“Nhật Bản Nhật Khê sư diệc đồng Trầm thị chi thuyết” (Đại sư Nhật Khê, Nhật Bản, cũng đồng cách nói với Trầm Thiện Đăng). Ở trước là nói Trầm Thiện Đăng cư sĩ thời nhà Thanh. Ông ta là người dưới thời Đồng Trị, cũng là sau Hàm Phong. Trong “Báo Ân Luận”, Ngài đã đưa ra vấn đề này. Trong đó, Ngài quan trọng nhất, chính là cho rằng người phiên dịch, căn cứ không phải một nguyên bản Phạn văn mới có xuất hiện vấn đề như bây giờ. Cách nhìn của Đại sư Nhật Khê, người Nhật Bản với Trầm cư sĩ tương đồng. “Y vân, dị dịch văn cú, dữ kim kinh, chỉ Ngụy dịch bản”.

Cuốn sách của Khương Tăng Khải, dịch rất tốt, nên xưa nay, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc học tập kinh Vô Lượng Thọ đều thích dùng cuốn của Khương Tăng Khải. Ngài ở thời đại Tào Ngụy Tam Quốc Trung Quốc, là người của thời đó, cũng dịch vào thời đại đó.

“Sảo sai dị giả bất thiểu” (Rất nhiều sai khác không ít). Y cứ theo 4 cuốn sách khác, với kinh hiện nay, họ đang áp dụng học tập sách của Khương Tăng Khải. Vừa so sánh đã phát hiện trong đó sai biệt rất lớn.

“Tư phu, đa dị bản” (Chúng ta thử suy nghĩ, nhiều cuốn sách bất đồng như vậy).

“Truyền giả bất nhất” (Do người truyền nhiều).

“Cố tri tư dị” (Cho nên biết, sự sai khác đây). Vì thời đó đều là viết tay, không phải in ấn. Viết tay có khi viết sai, viết sót, viết thành chữ khác, điều này không thể tránh khỏi. Kinh nghiệm này chúng ta đều có.

“Diệc hoặc phi nhất thời thuyết, lệ như Bát Nhã chư kinh” (Cũng có khi không phải Phật thuyết một lần, ví như các kinh Bát Nhã). Đây chính là Phật nói không phải cùng một lúc mà nhiều lần tuyên giảng.

“Dĩ thử kinh Như Lai bản hoài, xứ xứ dị thuyết, trí thử đa bản. Cái thử đại bi chi cực xứ dã” (Vì kinh này là hoài bão chính của Như Lai, khắp nơi đều nói nên có sai khác, có nhiều bản kinh vậy). Mấy câu này nói rất hay, vì Phật dạy chúng sinh trong một đời tu hành chứng quả.

Trong hết thảy các kinh, bộ kinh này là thù thắng nhất, có lý luận, có phương pháp. Từ xưa đến nay, người y theo bộ kinh này tu hành thành tựu rất nhiều. Đây là đại từ đại bi, không phải nói một lần mà nói rất nhiều lần. Nguyên bản Phạn văn có mấy loại bất đồng. Mỗi lần nói không thể hoàn toàn tương đồng. Tôi y theo cuốn kinh này, cuốn hội tập của Hạ Liên Cư lão cư sĩ. Tôi y theo cuốn sách này giảng bộ kinh này 10 lần. Tôi giảng 10 lần đó, hiện thu vào băng đĩa, mỗi lần đều không giống nhau.

Có người muốn đem nó viết thành giảng ký, hỏi tôi căn cứ vào lần nào. Tôi nói tốt nhất cả 10 lần đều nghe, quý vị cũng làm cuốn sưu tập. Đây là lần thứ 11. Lần thứ 11, chúng tôi sẽ hoàn toàn giảng giải chú giải của Hoàng Niệm Tổ lão cư sĩ. Đây cũng là lần quen biết giữa tôi và Hoàng lão cư sĩ. Ông ta lớn hơn tôi khoảng mười mấy tuổi. Khi viết chú giải này, ông ta đang bệnh, vô cùng đau khổ. Nhưng ngày đêm không nghỉ, đem chú giải này viết hoàn thành. Thật là hy hữu, không dễ dàng gì.

Đây là chư Phật, Bồ tát, chư vị tổ sư đại đức từ bi vô lượng. “Dĩ thượng chư đức” (Chư vị đại đức nói trên).

“Giai chủ bản kinh nãi Thế Tôn đa độ tuyên thuyết chi pháp thật hữu sở cứ” (Đều chủ trương cho bản kinh này Thế Tôn thuyết pháp nhiều lần, thật là có căn cứ). Ngày xưa, chư vị đại đức này chủ trương, kinh Vô Lượng Thọ xác thực là Thế Tôn nhiều lần tuyên giảng. Không phải như các kinh khác chỉ giảng một lần, không giảng trùng lặp lại. Bộ kinh này rất đặc thù, nhiều lần tuyên giảng.

“Lệ như bản kinh ‘Đường Dịch’ bản danh ‘Vô Lượng Thọ Như Lai Hội’, nãi ‘Đại Bảo Tích Kinh’ trung nhất hội chi văn. Túc chứng Phật thuyết ‘Bảo Tích Kinh’ thời, diệc tuyên thuyết bản kinh dã” (Ví như bản Đường dịch, vốn tên là “Vô Lượng Thọ Như Lai Hội”, thì chính là một hội trong kinh văn Đại Bảo Tích, đủ chứng tỏ khi Phật thuyết kinh Bảo Tích cũng đã thuyết bản kinh này).

“Đại Bảo Tích” là một mục lớn. Trong mục này phân thành hai mươi mấy hội. Mỗi hội là một mục nhỏ. Hơn 20 hội hợp lại thành một mục lớn. Trong mục lớn này, Ngài giảng kinh Vô Lượng Thọ. Đề kinh này gọi là Vô Lượng Thọ Như Lai Hội, một hội trong kinh Đại Bảo Tích. Đây chính là chứng cứ của nhiều lần tuyên giảng.

“Trầm thị hựu vân, Ngụy dịch văn từ tường đảm, nghĩa lý viên túc. Cố tự lai giảng gia đa cứ chi. Đường dịch sai dữ tương cận, cái đồng nhất phạn bản dã” (Cư sĩ Trầm lại nói: Bản Ngụy dịch, văn từ rõ ràng, nghĩa lý trọn đủ, cho nên trước nay giảng sư phần nhiều y cứ. Bản Đường dịch sự sai khác cũng tương tự, bởi vì đều đồng một nguyên bản Phạn văn). Đường dịch này chính là “Vô Lượng Thọ Như Lai Hội” trong kinh Đại Bảo Tích, so với bản dịch lưu hành rộng nhất hiện nay của Khương Tăng Khải (Ngụy dịch), thì giống nhiều, sai biệt ít. Họ phán định đây là một nguyên bản. Một nguyên bản nhưng 2 loại phiên dịch.

Họ nói: “Tống dịch diệc thậm minh sướng nhi từ cú tiền hậu đại dị hựu nhất phạn bản dã” (Họ nói: Bản Tống dịch cũng rõ ràng sáng sủa, nhưng câu từ trước sau sai khác nhiều. Lại là một bản Phạn vậy). Ở đây, khẳng định không cùng một cuốn.

“Hán ngô nhị dịch, văn từ chuyết sáp, nhi nghĩa hữu tương bổ bị giả tắc hựu nhất phạn bản dã” (2 bản Hán, Ngô dịch văn từ vụng về, nhưng nghĩa có vẻ đầy đủ. Lại là một bản Phạn nữa). Đây là xem 5 loại bản dịch hiện nay, ít nhất có 3 bản tiếng Phạn bất đồng. Điều này, nói cũng rất có lý.

“Trầm thị tuy vị năng trực tùng cổ phạn giáp thủ chứng, đãn kim nhược tế cứu tồn thế chi ngũ dịch, khả thôi tri đương niên phạn giáp chí thiểu hữu tam chủng, Cố tri trầm thị chi thuyết khả tín” (Họ Trầm tuy chưa thể trực tiếp chứng minh từ bản Phạn cổ, nhưng nếu nay nghiên cứu kỹ 5 bản dịch hiện còn, suy ra biết chí ít có 3 bản Phạn hiện nay lưu hành. Cho nên biết lời họ Trầm nói đáng tin cậy). Truyền đến Nhật Bản, Nhật Bản có mấy vị pháp sư cũng có cách nhìn này.

“Chí ư tha sư hữu nhận vi ngũ dịch chỉ thị đồng bản dị dịch, các bản sai dị chỉ nhân dịch giả ý lạc bất đồng” (Đến các sư khác, thì cho rằng 5 bản dịch là cùng bản Phạn mà dịch khác. Sự sai khác ấy chỉ vì người dịch ý thích bất đồng). Lãnh ngộ và cảm thọ của mỗi người không giống nhau, nên nói nguyên bản hình như là một. Có người cũng có cách nhìn này.

Hoàng lão cư sĩ cho rằng: “Thật vị năng phục nhân” (Thật chưa có thể thuyết phục người). Cách nói này không có cách nào bảo người tâm phục khẩu phục.

“Lệ như bản kinh tiểu bản Tần Đường lưỡng dịch” (Ví như 2 bản dịch kinh tiểu bản đời Tần và Đường). Tiểu bản là kinh A Di Đà. Kinh A Di Đà có 2 cuốn, một của La Thập Đại sư dịch.

“La Thập Đại sư nhân Tần nhân thượng giản” (Đời Tần, La Thập Đại sư, người dân chuộng giản dị). Lúc đó, đại sư đến Trung Quốc là thời đại Diêu Tần. Diêu Tần kiến quốc hiện nay là hành lang ranh giới của Cam Túc - Hà Tây. Người xưa thích đơn giản dễ hiểu, chứ không thích phiền phức.

“Nãi nhiếp thập phương Phật vi lục phương Phật, thử thành dịch giả ứng cơ chi diệu, văn giản ứng cơ, nhi kinh nghĩa vô thất. Thị thỉ vi dịch giả chi ý lạc dữ thiện xảo dã” (Bèn thu gọn mười phương Phật thành sáu phương Phật. Đây thật là chỗ diệu dụng ứng cơ của dịch giả. Văn giản lược ứng căn cơ, mà nghĩa kinh không mất. Đó là ý muốn và sự khéo léo của dịch giả vậy). Điều này, có thể nói thông được.

Kinh A Di Đà của La Thập Đại sư dịch gọn, còn bản Huyền Trang Đại sư phiên dịch là trực dịch, nói đủ mười phương Phật. La Thập Đại sư dịch thành sáu phương Phật, lược bớt bốn phương. Đây là do người phiên dịch có sở thích và cách nhìn không giống nhau. Nhưng nghĩa trong kinh hoàn toàn không thay đổi.

“Chí ư bản kinh chư dịch chi sai biệt đại dị ư thị, bất đản tường lược bất đồng, thả nghĩa lý chi thâm quảng diệc dị. Cố bất ứng thị dịch nhân ý lạc bất đồng dã” (Đến như bản kinh này sự sai biệt các bản dịch rất nhiều, không chỉ tóm lược bất đồng mà nghĩa lý sâu rộng cũng khác. Vì thế, không hẳn là do ý thích bất đồng của dịch giả). Thử xem các kinh điển khác, cùng một bản dịch, nhưng khác người dịch. Chúng ta hãy xem 5 bản không giống nhau của kinh Vô Lượng Thọ. Hay nói cách khác, khẳng định đây không phải là một bản Phạn văn.

Bên dưới đưa ra một ví dụ nói, ví như Di Đà đại nguyện. Điều này rất quan trọng. Nói cách khác, đại nguyện này là tin tức quan trọng mà Phật A Di Đà truyền cho thế nhân. Trong bộ kinh này, đoạn trọng yếu nhất chính là đại nguyện.

“Lệ như Di Đà đại nguyện, nãi tịnh tông chi duyên khởi dữ bản kinh chi cương tông. Nhi thập niệm tất sinh chi nguyện” (Ví như đại nguyện của Phật A Di Đà, chính là duyên khởi của Tịnh tông và tôn chỉ cương lĩnh của kinh này và nguyện mười niệm nhất định vãng sinh). Câu này quá quan trọng. Chúng ta làm sao để vãng sinh đến thế giới Tây Phương Cực Lạc? Khi sắp mạng chung, đầu óc phải tỉnh táo, có người nhắc nhở họ niệm Phật cầu sinh Tịnh độ. Mười niệm là có thể vãng sinh. Cơ duyên này là mấu chốt, một đời không gặp Phật pháp, khi sắp mạng chung, trước khi tắt thở có người nói với họ, buông bỏ hết thảy niệm Phật cầu vãng sinh. Cầu vãng sinh là cầu Tịnh độ, họ nghe sẽ có thể tin. Và họ phát nguyện muốn đi. Điều kiện đầu tiên là đầu óc tỉnh táo. Nếu người bị bệnh ngờ nghệch, thì không còn cách nào khác.

Sau khi nghe sẽ hoan hỷ, tin tưởng, phát nguyện. Đây là thiện căn phúc đức của chính họ. Mọi người đứng bên cạnh dẫn họ niệm Phật. Niệm mười tiếng Phật hiệu, họ tắt thở khẳng định vãng sinh Cực Lạc. Đây là bản nguyện của Phật A Di Đà. Điều này quan trọng biết bao! Đây là tinh tuý “Di Đà đại nguyện chi tuỷ”.

“Thử nguyện kiến ư Ngụy Đường lưỡng dịch” (Nguyện này thấy ghi trong 2 bản dịch Ngụy, Đường). Đây là vừa đưa ra một ví dụ, sách của Khương Tăng Khải. Cuốn Đại Bảo Tích, kinh Vô Lượng Thọ Như Lai Hội, có mười niệm nhất định sinh. Mà nguyện văn trong 2 bản dịch thời Hán - Ngô không có mười niệm nhất định sinh. Sao lại có sai biệt lớn như vây? Đây hầu như là việc không thể có.

“Nhược vị Ngụy Đường lưỡng dịch chi tứ thập bát nguyện, dữ Hán Ngô lưỡng dịch chi nhị thập tứ nguyện, chỉ thị dịch bút khai hợp chi bất đồng, tắc thật nan tự viên kỳ thuyết” (Nếu nói 2 bản dịch Ngụy, Đường có 48 nguyện, còn 2 bản dịch Hán, Ngô có 24 nguyện, chỉ là do người dịch chia ra hợp lại có bất đồng, thì nói như thế thật là khó viên thông). Nguyện văn này có 48 nguyện, lại có 24 nguyện, người dịch chắc chắn không thể đem 48 nguyện biến thành 24 nguyện. Cũng nhất định không thể đem 24 nguyện này chia ra thành 48 nguyện. Điều này không thể được, đây khẳng định là do 2 bản Phạn văn bất đồng. Cũng nói rõ khẳng định đức Phật thuyết 2 lần, chứ không phải một lần.

Vì thế, nói: “Thế gian yên hữu như thị đại đảm chi dịch nhân, cảm suất tự ý vọng san đại nguyện chi tâm tuỷ” (Thế gian sao có dịch giả nào cả gan, vọng càn tự ý san định tâm tủy của đại nguyện ư!). Đây là cách nhận định của Hoàng Niệm Lão. “Cố tri tất thị sở cứ chi nguyên phạm bản bất đồng phương hữu thử dị nhĩ” (Vì thế, biết chắc chắn căn cứ ở các bản Phạn văn bất đồng, nên mới có sự sai khác này). Đại nguyện này, trong 5 bản thì có 3 loại bất đồng, bất đồng quá lớn. Không thể có sai lầm như thế. Có bản 24 nguyện, có bản 48 nguyện, có bản 36 nguyện. Căn cứ thuyết này, ít nhất có 3 loại bất đồng, và Phật tại thế tuyên giảng ít nhất 3 lần.

“Hựu như ‘Ngô dịch’ nhị thập tứ nguyện trung, hữu quốc vô nữ nhân, dữ liên hoa hóa sinh chi thắng nguyện” (Lại như trong 24 nguyện của bản Ngô dịch, có 2 nguyện thù thắng rằng: Không có nước nữ nhân, và toàn là hóa sinh từ hoa sen). Điều này rất quan trọng.

“Nhi Ngụy Đường lưỡng dịch tuy cụ tứ thập bát nguyện” (Bản dịch Ngụy, Đường mặc dù 48 nguyện, lại không có 2 nguyện này).

“Nhược vị nguyên bản thị nhất chư dịch chỉ thị khai hợp bất đồng. Tắc thỉnh vấn ‘Ngô dịch’ thử nhị nguyện tùng hà nhi lai. Hà dĩ nhị thập tứ nguyện trung hữu chi tứ thập bát nguyện chi bản cánh nhiên vô chi. Khả kiến chư dịch sở cứ chi nguyên giáp bất nhất” (Nếu nói nguyên bản là một, chỉ vì dịch giả chia, hợp bất đồng, thì xin hỏi 2 nguyện trong bản Ngô dịch lấy từ đâu? Và sao trong bản 24 nguyện có, mà trong bản 48 nguyện rõ ràng lại không. Có thể thấy, các dịch giả căn cứ nguyên bản Phạn không là một). Chính là nguyên bản Phạn văn không phải một cuốn.

“Chính như Trầm Thiện Đăng thị sở thuyết bản kinh mong Thế Tôn đa độ tuyên thuyết. Hựu nhân phạn giáp dị thoát lạc nãi hữu bất đồng chi nguyên bản nhĩ. Tùng thượng chi lệ, khả kiến hội tập chư dịch thật hữu tất yếu” (Đúng như Trầm Thiện Đăng nói. Kinh này được Thế Tôn tuyên thuyết nhiều lần. Lại vì bản Phạn cũng có thất thoát, mới có các nguyên bản bất đồng thôi! Từ những dẫn chứng nêu trên, có thể thấy việc hội tập các bản dịch là điều tất yếu). Trong 5 cuốn sách này khác biệt rất lớn, sâu cạn không giống nhau. Đây là lúc Thế Tôn tại thế, vì căn cơ thính chúng bất đồng, nên thiện xảo phương tiện tuyên giảng cũng không tương đồng. Khi kết tập kinh tạng, hết thảy đều kết tập, nên nguyên bản không đồng, không phải cùng một bản. Và cả 5 bản đều được lưu truyền.

Hôm nay, chúng ta phải học tập, cần phải đọc cả 5 bản này. Vì sao? Trong đó có rất nhiều điều quan trọng. Chẳng hạn như cuốn này có mà cuốn kia không có. Nếu ta đọc một bản, thì sẽ không đạt được tin tức viên mãn. Chúng ta nên nghe cả 5 lần, mới thật sự thấu triệt. Như vậy, đối với người sơ học không tiện lợi. Học kinh Vô Lượng Thọ phải học cả 5 bản. Trải qua nhiều thời đại học Tịnh độ, đều học kinh A Di Đà. Người học kinh Vô Lượng Thọ không nhiều, nguyên nhân là như vậy. Kinh Vô Lượng Thọ quá nhiều bản, không có bản nào hoàn thiện cả, nên cổ nhân mới nghĩ đến sưu tập các bản dịch quan trọng thành Tập Đại Thành.

Tập Đại Thành của 5 loại nguyên bản dịch, biên tập thành bản mới. Điều này rất cần thiết.

“Thị dĩ tòng Tống chí kim” (Vì thế, từ đời Tống đến nay), Vương Long Thư nhà Tống là người đầu tiên làm. Tên của Vương Long Thư là Nhật Hưu. Nhật của nhật nguyệt, Hưu của hưu tức, gọi là Vương Nhật Hưu. Long Thư là địa danh, địa danh này ở Thư Thành, An Huy, cạnh bên Lô Giang chúng tôi. Ông ta người Đồng Thành Phái, người ở địa bàn này, ông là người Thư Thành, là người làm sách sưu tầm đầu tiên. Người đầu tiên làm sách sưu tầm là một nhà học vấn. Đại thiện tri thức phát tâm này. 5 loại nguyên bản dịch, ông ta chỉ xem 4 bản. Bản dịch đời Đường “Bảo Tích Kinh”, trong đó mục Vô Lượng Thọ, ông không nhìn thấy.

Nói cách khác, bộ sưu tập này của ông vẫn bị sót, không thể gọi là hoàn chỉnh. Nhưng bộ sưu tập này rất tốt. Đích thực thì sau khi xuất bản, được nhập vào “Long Tạng”. Nhật Bản thu nhập vào “Đại Chính Tạng”. Học tập kinh Vô Lượng Thọ, người dùng cuốn sưu tập của ông ta rất nhiều, so với người đọc bản của Khương Tăng Khải còn nhiều hơn. Đến Liên Trì Đại sư chú giải kinh Di Đà Sớ Sao, dẫn dụng kinh văn của kinh Vô Lượng Thọ, đều dùng bản sưu tập của Vương Long Thư. Có thể thấy nó ảnh hưởng rất lớn.

Thứ hai là Bành Nhị Lâm, chính là Bành Tế Thanh. Bành Tế Thanh làm cuốn này là hiệu chính, là dùng bản của Khương Tăng Khải. Trong bản của Khương Tăng Khải có rất nhiều chỗ khó đọc, nên ông ta đem văn tự chỉnh lý lại, cũng đồng nghĩa là hiệu đính, lược bớt. Ông ta dùng một bản, không thể gọi là hội tập.

Lần thứ hai hội tập là Ngụy Mặc Thâm (Ngụy Nguyên), là người nhà Thanh, niên đại Hàm Phong.

Lần thứ ba là cư sĩ Hạ Liên Cư, và tiên sư Hạ Liên Cư là lần thứ ba hội tập, vào năm đầu của Dân quốc. Thật không dễ. Bản hội tập này của ông xuất bản lần đầu tiên, trong tay tôi còn có một bộ, là bản tuyến trang. Không giống với bản chúng ta hiện nay. Bản của chúng ta hiện nay phân thành 48 phẩm. Nguồn gốc sớm nhất của hội tập này là 37 phẩm. Đại khái lấy ý nghĩa 37 đạo phẩm để hội tập.

Từ Châu Pháp sư ở Tế Nam, Bắc Kinh, từng giảng qua, mà còn làm qua khoa phán. Khoa phán này của ông, Hoàng Niệm lão tặng tôi một phần. Hoàng Niệm lão in ra một phần tặng tôi. Tôi vẫn còn bộ tư liệu này. Bản hiện tại là sau khi Hạ Lão cư sĩ hội tập đã sửa 10 lần. Sửa đổi 10 lần mới hoàn thành định bản này. Định bản này, tôi cũng làm khoa phán cho nó, làm rất tường tận, nên chúng ta có khoa hội. Ở đây có lưu hành, chư vị đều có thể xem được. Khoa hội phân rất kỹ càng. Toàn kinh, tư tưởng hệ thống, văn chương mạch lạc, xem qua là hiểu. Ta có thể xem hiểu bản này, thì đối với kinh Phật mới sinh tâm bội phục kính ngưỡng. Tâm này tự nhiên sinh ra.

Đoạn này giảng về 5 loại nguyên bản dịch. Bên dưới sẽ nói về 4 loại hội tập và hiệu chính.

“Dĩ thượng ngũ dịch, hổ hữu ưu liệt chương hối” (5 bản dịch trên, đều có chỗ sở trường và khiếm khuyết).

“Liệt như thập niệm đắc sinh chi bản nguyện dữ nhất hướng chuyên niệm chi yếu chỉ, ư Hán Ngô lưỡng dịch tắc vị chương” (Ví như bản nguyện mười nguyện được vãng sinh, và yếu chỉ một hướng chuyên niệm ở 2 bản dịch Hán, Ngô không đề cập đến).

“Chí ư ngũ ác ngũ thống ngũ thiêu chi hoằng văn, nãi Thế Tôn khổ khẩu bà tâm chi cáo giới, ư Đường Tống lưỡng dịch tắc bất cụ” (Đến như văn nói rộng về Ngũ ác, Ngũ thống, Ngũ thiêu thì trong 2 bản dịch của Đường, Tống không). Đoạn văn này vô cùng quan trọng.

Chúng ta hôm nay vì các bạn học Tịnh độ, tuyển chọn và quyết định khóa tụng sáng chiều. Còn thời buổi tối thì đọc đoạn văn này. Ngụy dịch là bản của Khương Tăng Khải. Bản này phiên dịch hoàn bị hơn. “Vi chư dịch quan”, đứng đầu trong các bản dịch và lưu hành rộng nhất. “Đản ư quốc vô nữ nhân, dữ liên hoa hóa sinh lưỡng nguyện” (Nhưng 2 nguyện: ở nước không có nữ nhân và hóa sinh từ hoa sen). 2 nguyện này nó không có. Trong bản dịch này không có.

“Cố Tống Long Thư Vương Nhật Hưu luận chư dịch vân. Kỳ đại lược tuy đồng nhiên kỳ trung thậm hữu sai hổ” (Cho nên, đời Tống trong Long Thư, Vương Nhật Hưu nhận dịnh các bản dịch nói: Nhìn chung, đại để thì đồng, nhưng đều có sai biệt trong đó). Ở đây, chính là nói 5 bản dịch này, đem nó so sánh đối chiếu, và nhìn thấy sự sai biệt.

“Hựu kỳ văn hoặc thất ư thái phồn nhi sử nhân yếm quan”

(Lại văn từ sai lạc, rườm rà khiến người xem chán). “Hoặc thất ư thái nghiêm, nhi táng kỳ bản chân, hoặc kỳ văn thích trung, nhi kỳ ý tắc thất chi” (Hoặc văn quá nghiêm túc mà mất đi cái chân thật vốn có, hoặc văn thì đúng mà ý thì sai). Có rất nhiều khuyết điểm.

“Do thị Thích Ca Văn Phật sở dĩ thuyết kinh, A Di Dà Phật sở dĩ độ nhân chi chỉ vặn nhi vô tự” (Do vậy, ý chỉ Phật Thích Ca văn sở dĩ thuyết kinh, Phật A Di Đà sở dĩ độ sinh, không có thứ tự). “Uất nhi bất chương” (Chìm ẩn mà không rõ). Đây là những hoằng nguyện độ nhân của Thế Tôn với Phật A Di Đà, không có cách nào hiện lên rõ ràng. “Dư thâm tích chi” (Tôi rất làm tiếc). Tôi tức là Vương Long Thư cư sĩ. Ông ta phát tâm làm bản tập hội này.

Ư thị nãi thủ Hán Ngô Ngụy Tống tứ dịch, hiệu chính hội tập tự vi nhất kinh, danh viết Đại A Di Đà Kinh” (Bởi thế bèn lấy 4 dịch bản: Hán, Ngô, Ngụy, Tống hiệu chính hội tập làm một kinh, gọi là Đại A Di Đà Kinh). Đây là mở đầu của bản hội tập kinh Vô Lượng Thọ. Ở triều Tống có bản như vậy.

“Hiệu hội chi bản” (Bản có sữa chữa), từ nhà Tống đến nay hết thảy có 4 bản:

Bản thứ nhất: “Đại A Di Đà Kinh, Tống quốc học Tiến sĩ Long Thư Vương Nhật Hưu hiệu tập” (Đại Kinh A Di Đà, nước Tống, Tiến sĩ Long Thư Vương Nhật Hưu hiệu chính biên tập). Ông ta không nói phiên dịch. Ông ta không phải phiên dịch. Ông ta hiệu đính đối chiếu và biên tập lại.

Bản thứ hai: “Vô Lượng Thọ Kinh, Thanh Bồ tát giới đệ tử Bành Tế Thanh tiết hiệu” (Kinh Vô Lượng Thọ, do đệ tử thọ Bồ tát giới Bành Tế Thanh, đời Thanh, hiệu đính chi tiết).

Bản thứ ba: “Ma Ha A Di Đà Kinh dã thị Thanh Bồ tát giới đệ tử thừa quán thiệu dương ngụy nguyên hội dịch” (Ma ha A Di Đà Kinh cũng là đời Thanh, đệ tử thọ Bồ tát giới Thừa Quán Thiệu Dương Ngụy Nguyên dịch). Đây là bản hội tập lần thứ hai, tên gốc là Vô Lượng Thọ Kinh. “Hậu kinh chính định Vương Âm Phúc cư sĩ hiệu đính tịnh cải kim danh” (Sau kinh chính đề là Vương Âm Phúc cư sĩ hiệu đính và đổi tên như nay). Ông ta đổi thành Ma Ha A Di Đà Kinh.

Bản thứ tư chính là bản chúng ta đang dùng, “Phật thuyết Đại thừa Vô Lượng Thọ trang nghiêm thanh tịnh bình đẳng giác kinh”. Hiện đại Bồ tát giới đệ tử Vận Thành Hạ Liên Cư hội tập” là bản mà chúng ta hiện tại đang dùng.

“Ư thị bản kinh nãi hữu ngũ chủng nguyên dịch bản, tứ chủng tiết hội tập, cộng hữu cửu chủng” (Do đó, bản kinh này có 5 bản dịch gốc và 4 bản hội tập chi tiết, tổng cộng là 9 bản). 9 bản này, chúng ta đã từng in thành một bộ, lượng lưu hành cũng rất lớn, tiện lợi cho mọi người thích nghiên cứu khảo sát, tiện lợi cho họ làm tham khảo.

“Ngũ dịch chi trung ‘Ngụy dịch’ lưu truyền độc quảng, Vương bản nhất xuất thủ nhi đại chi” (Trong 5 bản dịch, chỉ bản Ngụy dịch lưu truyền rộng, còn bản Vương, một khi xuất bản, đều được lấy dùng thay thế các bản khác). Bản Vương chính là Đại A Di Đà Kinh của Vương Long Thư.

“Liên Trì Đại sư ‘Sớ sao’ trung, ngữ tắc đa tựu Vương văn. Dĩ Vương bản thế sở thông hành, nhân tập kiến cố” (Trong Sớ Sao của Liên Trì Đại sư giảng phần nhiều y theo văn bản của Vương. Vì bản Vương thông dụng ở đời, mọi người đều quen).

“Thanh mạt Ấn Quang pháp sư diệc xưng Vương bản vi văn nghĩa tường tất, dữ thế lưu thông. Do thượng khả kiến Vương bản tại ngã quốc chi lưu thông viễn quá Ngụy dịch” (Cuối đời Thanh, Ấn Quang Đại sư cũng khen bản họ Vương văn nghĩa rõ ràng đầy đủ, lưu hành rộng rãi ở đời. Qua đó thấy, bản Vương ở Trung Quốc lưu hành vượt xa bản Ngụy dịch). Sau khi bản hội tập này ra đời, mọi người đều thích bản này, và 5 bản dịch này đều không còn học nữa, mà học bản của Vương Long Thư.

Bên dưới nói: “Vương bản tuy thậm lưu thông, tịnh thâu nhập Long tạng dữ Nhật bản Đại chính tạng. Đản Vương thị chi tác tắc hữu đắc hữu thất” (Bản Vương tuy lưu hành tốt, và được thu vào trong Càn Long Tạng Đại Chính Tạng Nhật Bản, nhưng họ Vương khi làm đều có chỗ được, chỗ mất), cho nên nó vẫn còn tì vết. Có thể thấy việc này thật không dễ. “Liệt như sớ sao vân” (Ví như trong Sớ Sao nói). Đây là lời của Liên Trì Đại sư. “Vương thị sở hội, giảo chi ngũ dịch, giản dị minh hiển, lưu thông kim thế, lợi ích thậm đại” (Họ Vương hội tập, so với 5 bản dịch kia, thì rất giản dị rõ ràng, lưu hành đời nay, lợi ích rất lớn). Trước tiên là khen ngợi. “Đản kỳ bất do phạn bản, duy chước hoa văn, vị thuận dịch pháp” (Nhưng ông ta không từ bản Phạn dịch, mà chỉ gia giảm theo văn bản chữ Hán, chưa thuận theo phương pháp dịch), và biên tập lại.

“Nhược dĩ phạn bản trùng phiên” (Nếu dịch lại bản Phạn), sẽ thành 6 bản dịch, mọi người sẽ không bàn luận về ông ta. “Cố bỉ bất ngôn dịch nhi ngôn hiệu chính dã” (Cho nên ông ta không nói dịch, mà nói hiệu chính vậy). Đây là chỗ cẩn thận của Long Thư. Vậy vấn đề của ông ta ở đâu? “Hựu kỳ trung khứ thủ cựu văn, diệc hữu vị tận” (Lại trong văn bản cũ, ông ta cũng chưa chọn lọc hết). Đây là nói so với 4 loại bản dịch, chúng ta làm sao để lựa chọn, đây là kiến thức. Ông ta chọn chưa được thoả đáng. Ở đây, có đưa ra ví dụ: Như tam bối vãng sinh” (Như ba hạng vãng sinh). Điều này rất quan trọng. “Ngụy dịch giai viết phát Bồ đề tâm” (Bản Ngụy dịch nói, 3 hạng thượng, trung, hạ đều phát Bồ đề tâm). Nhưng “Vương thi duy trung bối phát Bồ đề tâm” (Trong Long Thư, họ Vương chỉ nói hạng trung phát Bồ đề tâm), còn hạng hạ nói là không phát, hạng thượng thì không đề cập đến. Đây là một đoạn kinh văn vô cùng quan trọng. Vấn đề ở đây rất nghiêm trọng, “Tắc cao hạ thất thứ. Thả văn trung đa thiện căn toàn tại phát Bồ đề tâm nhi tam bối bất đồng, đồng nhất phát tâm” (Tức hạng thượng và hạ mất phần. Vả lại, trong văn nói phần nhiều thiện căn hoàn toàn đều do phát Bồ đề tâm, cả 3 hạng tuy không bằng, nhưng đều đồng nhất phát Bồ đề tâm). “Phát Bồ đề tâm nhất hướng chuyên niệm” (Phát Bồ đề tâm nhất hướng chuyên niệm), đây là điều kiện quan trọng nhất để vãng sinh. Bản hội tập của Vương Long Thư, ở chỗ này có vấn đề. Hạng thượng thì không nói đến, hạng hạ nói là không phát Bồ đề tâm. Điều này không thể, đây là sai lầm nghiêm trọng.

“Liên Trì đại sư sở luận tinh yếu, chính trung yếu hại, Vương thị tự tự trung hữu văn tuý tạp nhi thất thống, thác loạn nhi bất luân giả. Tắc dụng kỳ ý nhi tu kỳ từ” (Liên Trì Đại sư luận rất cốt yếu, đó là những điểm chính trong chính bản. Họ Vương thì tự nói trong lời Tựa rằng, đối với văn chính bản vụn vặt, tạp nhạp không thống nhất, lẫn lộn mà không thứ tự, thì dùng ý mà tu sửa câu từ). Nói văn kinh nguyên bản dịch, tức nguồn gốc 4 bản kinh văn phiên dịch. Dùng ý ở đây là dùng văn tự của mình để nói đại ý trong kinh. Điều này, cổ nhân đã có bàn luận. Vì ta biên tập sách của người khác, nhất định phải dùng văn tự gốc của họ, không thể dùng văn tự của mình để thay đổi. Với suy nghĩ này triển khai, về sau phiền phức rất lớn. Mỗi người đều có thể sửa đổi kinh, như vậy kinh sẽ sửa thành như thế nào đây. Nhất định không thể chỉnh sửa. Hội tập cần phải giữ quy tắc. Đây là Long Thư có nhiều khi đã dùng ý của mình, đem văn tự gốc sửa đổi. Điều này bị người đời sau chỉ trích.

“Thị chính Liên Trì đại sư sở chỉ, bất do phạn bản, vị thuận dịch pháp chi thâm bệnh” (Đây chính là Liên Trì Đại sư đã chỉ ra cái bệnh nặng của người không thuận theo phương pháp dịch từ Phạn bản). Liên Trì Đại sư nói rất hàm súc. Hoàng lão nói rõ cho chúng ta, chúng ta đã hiểu rõ đã minh bạch. Bậc cổ nhân trách cứ người cũng rất nhân hậu, cũng không phải dùng lời rõ ràng để trách cứ. Rất nhân đạo, rất uyển chuyển. Đây đều là chỗ mà chúng ta nên học tập.

“Kim nãi hội tập, yên năng bất thủ nguyên ngữ” (Nay thì hội tập sao có thể không giữ ngữ nghĩa nguyên bản).“Nhi nhậm ý hành văn thị nãi vạn vạn bất khả dã” (Tùy ý hành văn, thật muôn vàn không thể được). Đây là một cấm kỵ rất lớn. “Chí ư tam bối phát tâm diệc nhiên, thiện cải Ngụy dịch hựu phục cao hạ thất thứ” (Đến như 3 hạng phát tâm cũng vậy, tự tiện sửa đổi bản Ngụy dịch, lại còn để hạng cao, thấp mất phần). 3 hạng phát tâm là phát Bồ đề tâm. Hạng thượng không đề cập đến, hạng hạ nói không phát, chỉ hạng trung phát Bồ đề tâm. Đây là một sai lầm nghiêm trọng. Đây là “Vương bản nan yểm chi tỳ” (Là sai sót không nhỏ của bản Long Thư họ Vương).

Đối với bản thứ hai “Thanh Càn Long Bành Nhị Lâm, danh Thiệu Thăng” (Đời vua Càn Long, nhà Thanh, cư sĩ Bành Nhị Lâm, tên Thiệu Thăng), còn một tên là Tế Thanh

- Bành Tế Thanh. “Diệc ư Vương bản nghĩa hữu vị an” (Cũng thấy bản họ Vương nghĩa có chỗ chưa ổn). Ông ta đối với bản của Vương Long Thư cũng nghiên cứu rất sâu. “Ư sở trước Vô Lượng Thọ Kinh Khởi Tín Luận trung, luận Vương bản viết, Vương thị bản giảo vi sướng đạt, cận thế thông hành, nhiên hữu khả nghị giả. Như tự phân trung du bộ thập phương dĩ hạ quảng minh Bồ tát hạnh nguyện, vi linh hành giả phát khởi đại tâm, tích tập đức bản, cứu cánh thành Phật. Nãi thị thử kinh khai chương yếu lĩnh nhi vương thị san chi” (Trong Khởi Tín Luận Vô Lượng Thọ do ông trước tác đã luận về bản họ Vương rằng: Bản của họ Vương so ra thì cũng thông suốt, cận thế lưu hành, nhưng cũng có nhiều bàn luận. Trong phần Tựa, câu “Du bộ thập phương” trở xuống là nói rộng về hạnh nguyện Bồ tát để khiến cho hành giả phát khởi đại tâm, tích tập gốc đức, rốt ráo thành Phật. Đó chính là cương lĩnh chính yếu khai chương của kinh này, nhưng họ Vương lại cắt bỏ). Trong bản hội tập của Long Thư không có đoạn này. Đoạn này vô cùng quan trọng, nhưng ông ta đã sơ suất.

“Chí vãng sinh thượng hạ nhị bối nhất san khứ phát Bồ đề tâm” (Đến như 2 hạng thượng, hạ, ông lược bỏ việc phát Bồ đề tâm). Ông ta không nói, hạng thượng phát Bồ đề tâm, còn hạng hạ thì ông ta nói không phát.

“Thai sinh nhất tiết, san khứ nghi hoặc, Phật trí nãi chí thắng trí” (Một đoạn Thai sinh, ông lược bỏ phần nghi hoặc Phật trí cho đến thắng trí). 5 câu kinh văn này vô cùng quan trọng. Ông ta không đem nó đưa vào trong, cho nên “Tiền tắc quai thành Phật chi chính nhân” (Trước là trái với chính nhân thành Phật), chính là phát Bồ đề tâm. “Hậu tắc thất vãng sinh chi chính trí” (Sau thì mất chính trí vãng sinh), chính là nghi hoặc Phật trí. Cho đến Thánh trí, ông ta đã sơ suất đoạn văn tự này, nên mất chính trí vãng sinh.

Con người vì sao lại thai sinh? Thế giới Tây Phương Cực Lạc vì sao có thai sinh? Sinh đến biên địa Cực Lạc cũng xem là không tệ. Vì sao sinh đến chỗ này? Đối với thế giới Cực Lạc chưa đủ tín tâm. Tín tâm không đủ mà thật niệm Phật, thật nguyện ý cầu vãng sinh, giống như cá độ vậy, có thì tôi thành công, không thì thôi. Chính ý niệm này, họ không thể nhập phẩm vị, mà sinh đến biên địa. Như vậy cũng rất khó gặp, họ đã thật sự làm. Tuy họ có vấn đề, nhưng họ đã thật sự làm. Lỡ như thật, không phải tôi đã thành công rồi sao? Quý vị xem, chỉ một ý niệm sai lầm, trong tín tâm bị khiếm khuyết, nên họ sinh đến biên địa. Từ biên địa đến thế giới Cực Lạc phải mất 500 năm. Sau 500 năm, họ tin tưởng, tín tâm thanh tịnh, nghi hoặc không còn, mới có thể nhập vào hạ phẩm hạ sinh. Họ thấp hơn một bậc so với hạ phẩm hạ sinh. Vì thế, nhất quyết không thể có nghi hoặc Phật trí, không được nghi hoặc.

“Tha như tự thứ nguyện văn hậu tiên suyễn thác, giai đương hiệu chính. Bành thị giám ư Vương bản chi thất, nãi chuyên tựu ‘Ngụy dịch’ khứ kỳ phồn phức, tịnh án Vân Thê bản” (Ông ta như trình bày thứ tự nguyện văn, trước sau lẫn lộn, đều nên hiệu chính. Họ Bành soi thấy các lỗi trong bản họ Vương, bèn chuyên dựa vào bản Ngụy dịch, bỏ đi phần rườm rà, và căn cứ theo bản của Ngài Vân Thê). Vân Thê là Liên Trì Đại sư.

“Tăng nhập tứ thập bát nguyện tiên hậu số mục, nhưng danh Vô Lượng Thọ Kinh, thị vi đệ thất bản” (Thêm vào số mục 48 lời nguyện, vẫn gọi là Vô Lượng Thọ Kinh, đó là bản thứ 7). “Vương bản vi đệ lục bản” (Bản của Vương Long Thư là bản thứ 6). Bành Tế Thanh là bản thứ 7. Nhưng bản của ông ta là Ngụy dịch, chính là bản lược bớt của Khương Tăng Khải, đem những chỗ rườm rà xóa bỏ, làm thành bản chi tiết. Đem 48 nguyện thêm điều mục vào. Bản này cũng có lưu hành, nhưng không rộng.

Vì thế, “Đản thử bản chỉ thị Ngụy dịch chi tiết hiệu bản, nhi phi chư dịch chi hội tập bản” (Bản này chỉ là bản chi tiết sửa chữa của bản Ngụy dịch, mà không phải bản hội tập các bản dịch). So sánh 2 bản, bản của Bành Tế Thanh tốt hơn bản của Khương Tăng Khải, vì đọc rất thuận. “Cận đại Đinh Phúc Bảo cư sĩ tác Vô Lượng Thọ Kinh tiên chú” (Cận đại, có cư sĩ Đinh Phúc Bảo làm Vô Lượng Thọ Kinh Tiên Chú). Ông ta căn cứ bản sửa chi tiết của Bành Tế Thanh, nhưng bản của họ Bành “vị năng cứu Vương thị hội bản chi bệnh” (không thể cứu những sai sót của họ Vương), nên nó không thể được xưng là bản hoàn thiện.

Bây giờ, đến bản ở dưới. Thời nhà Thanh, dưới triều đại Hàm Phong, cư sĩ Thiệu Dương Ngụy Thừa Quán “vị chư dịch cập vương thị hội tập do vị tận thiện, nãi hội tập ngũ chủng nguyên dịch, biệt thành nhất bản, nhưng danh Vô Lượng Thọ Kinh” (nói: Các bản dịch và bản hội tập của họ Vương vẫn chưa hoàn thiện, bèn hội tập 5 bản dịch gốc làm riêng thành 1 bản, vẫn gọi là Vô Lượng Thọ Kinh). Bên dưới nói “Ngụy thị chi bản, tập ngũ chủng nguyên dịch, thị vi ngũ hội chi thủy” (Bản của Ngụy, tập họp 5 loại dịch gốc đó là khởi đầu của hội tập 5 bản). 5 loại nguyên bản dịch ông ta đều xem. “Vương thị chỉ thị tứ hội bản” (Bản họ Vương chỉ hội tập 4 bản). “Sở hội vị cập Đường dịch” (Bản chưa hội tập là bản Đường dịch), chính là Đại Bảo Tích Kinh Vô Lượng Thọ Như Lai Hội. Bản này ông ta chưa xem. “Đồng Trị trung” (Trong năm Đồng Trị). Sau Hàm Phong là Đồng Trị. Đồng Trị là thời Từ Hy Thái hậu nhiếp chính, sau khi Hàm Phong qua đời, vị tiểu Hoàng đế này do mẹ nắm quyền.

“Vương Âm Phúc cư sĩ cực sùng Ngụy bản” (Cư sĩ Vương Âm Phúc rất sùng chuộng bản Ngụy). “Tằng thân ký vân, cận thế Thiệu Dương Ngụy cư sĩ phục bản Vân Thê đại sư chi thuyết, biến khảo chư dịch, biệt vi nhất thư, bao cử cang tông, văn từ giản đương. Nãi đắc vi thị kinh chi quan miện” (Từng đích thân ghi nhận: Cận thế, bản của cư sĩ Thiệu Dương Ngụy lại dựa trên thuyết giảng của Liên Trì Đại sư, tham khảo khắp các bản dịch, làm riêng thành một sách, bao quát chung, nêu lên cương lĩnh tôn chỉ, văn từ giản dị. Chính là bản hội tập đứng đầu của kinh này). Đây là lời tán thán đối với bản của Ngụy Mặc Thâm. “Vương thị phục bác khảo chúng bản, thủ tụ hiệu thù, tịnh định kinh danh vi Ma ha A Di Đà kinh” (Ông Vương lại tham khảo rộng ở các bản, tự tay hiệu đính, và định tên kinh là Ma Ha A Di Đà Kinh). Đây là bản kinh thứ 8.

“Ngụy thị phát tâm quảng đại, phục tinh ư văn tự. Vi cứu Vương Long Thư cư sĩ đổ soạn kinh văn chi thất, bị thủ ngũ dịch, hội thành nhất kinh. Lực cầu cú cú hữu lai lịch, kỳ thành thiện bản, sở nguyện cực thắng, sở thành diệc vĩ. Kỳ sở hội tập viễn siêu Vương bản. Vương Âm Phúc cư sĩ tán chi vi bản kinh, bát chủng chi quan, diệc phi quá dự” (Họ Ngụy phát tâm rộng lớn, lại tinh thông văn tự, vì để cứu chữa những lỗi sai thiếu căn cứ trong khi soạn kinh văn của cư sĩ Vương Long Thư, nên lấy đủ 5 bản dịch hội tập thành một bản kinh. Lại ra sức tìm cầu lai lịch từng câu, mong trở thành bản hoàn thiện nhất. Sở nguyện thật thù thắng, thành tựu thật to lớn. Hội tập của ông ta vượt xa bản họ Vương. Cư sĩ Vương Âm Phúc ngợi khen bản này đứng đầu trong 8 bản, cũng không phải là quá đáng). Những lời này là của cư sĩ Hoàng Niệm Tổ nói.

Nhưng đằng sau vẫn còn nuối tiếc. “Ngụy thị tuy nguyện lực bổ Vương thị đổ soạn chi quá, tích vị toàn miễn” (Họ Ngụy tuy nguyện lực muốn bổ khuyết những sai phạm thiếu căn cứ của họ Vương, nhưng vẫn tiếc là chưa hoàn toàn). Ông ta cũng phạm trục trặc này, tự ý sửa đổi kinh văn trong nguyên bản dịch, văn tự cũng sửa. “Tư cử kỳ lạc lạc đại giả như hạ” (Nay nêu ra những lỗi rõ ràng đó như sau: Có 3 điều:

Thứ nhất, “Ngụy bản đệ nhị nguyện viết, thiết ngã thành Phật, quốc trung thiên nhân, thuần thị hóa sinh, vô hữu thai sinh, thử trung vô hữu thai sinh tứ tự, chư dịch giai vô” (Bản Ngụy, trong nguyện thứ 2 ghi: Giả sử ta thành Phật, Trời, Người trong nước thuần là hóa sinh, không có thai sinh. Câu “không có thai sinh”, các dịch giả khác đều không có). Vậy nó từ đâu đến? Câu này là ông ta tự thêm vào. Đây là nêu ra những sai sót của ông ta. “Thả thử tứ tự dữ nguyên dịch văn tương vi” (Vả lại, câu này trái nghịch với văn dịch gốc). Vì sao lại trái nghịch? Bản dịch thời nhà Ngụy nói, trong bản kinh của Khương Tăng Khải có câu như vậy: “Phật cáo Di Lặc, bỉ quốc nhân dân, hữu thai sinh giả” (Phật bảo Bồ tát Di Lặc, nhân dân trong nước kia, có loại thai sinh). Tại sao trong này lại nói không có thai sinh? “Đường Tống lưỡng dịch đồng chi”. Hai bản dịch nhà Đường và Tống này, đều có câu này, đều có nói đến thai sinh. “Nhi Ngụy thị cánh vị vô hưu thai sinh, thử bảo vi nan yếm chi tỳ dã” (Họ Ngụy rốt cục lại nói không có thai sinh. Đây là lỗi lầm khó bỏ qua vậy).

Thứ hai, “Ngũ ác, ngũ thống, ngũ thiêu nhất đoạn số thiên ngôn” (Ngũ ác, ngũ thống, ngũ thiêu… một đoạn này nói đến vài ngàn lần). Đoạn này rất dài. Bản họ Ngụy đã lược bỏ, viết thành: “Sinh thời thống, lão thời thống, bệnh thời thống, tử thời thống, hoạn nạn cùng khổ thống. Dâm dục hoả thiêu, sân phẩn hoả thiêu, tham đạo hỏa thiêu, tà ngụy hoả thiêu, ngu si hoả thiêu. Thị vi ngũ thống ngũ thiêu. Ngụy cư sĩ nguyên nguyện vô nhất tự bất hữu lai lịch, tích vị năng quán triệt sơ trung” (Đau lúc sinh, đau lúc già, đau lúc bệnh, đau lúc chết, đau lúc hoạn nạn cùng khổ. Lửa dâm dục thiêu, lửa sân hận thiêu, lửa tham trộm thiêu, lửa gian dối thiêu, lửa ngu si thiêu. Đó là Ngũ thống, ngũ thiêu. Trong khi ban đầu, cư sĩ Ngụy nguyện không để một chữ nào không có lai lịch, rất tiếc ông ta đã không tuân thủ). Đoạn trên này, các bản dịch khác không có lai lịch. Đoạn này không phải là văn lược bớt, mà ông ta dùng ý mình đem ngàn chữ kinh văn cô đọng lại thành như vậy. Đây hoàn toàn là ông ta tự viết không phải là nguyên văn. Nếu từ nguyên văn mà lược bớt, thì không cách gì để nói. Đây không phải nguyên văn, hoàn toàn là trích ý của mình, cho nên đây không có căn cứ.

Thứ ba, “Ngụy thị hội bản vị Cực Lạc chi cung điện lầu quán, đường vũ phòng các, hoặc xứ hư không, hoặc tại bình địa, hoặc y bảo thụ nhi trụ” (Bản hội tập họ Ngụy nói ở nước Cực Lạc, lầu quán, cung điện, hoặc trụ ở trên đất bằng, hoặc trụ ở trên hư không, hoặc trụ dựa vào cây báu). Câu “Hoặc y bảo thụ nhi trụ” có vấn đề. Câu này trong 5 bản dịch đều không có. Đây cũng là ông ta tự nghĩ ra, không có căn cứ. “Hội bản trung, quá thị dĩ hậu, Vô Lượng Thọ Kinh diệc diệt. Duy dư A Di Đà Phật tứ tự quảng độ quần sinh” (Lại, trong bản này nói, trải qua sau này, kinh Vô Lượng Thọ cũng mất, chỉ còn 4 từ: A Di Đà Phật, để rộng độ quần sinh). Đoạn văn này trong 5 nguyên bản dịch không có.

“Do thượng khả kiến thị chi bản dữ tiền chư bản tương giảo. Tuy hậu hậu thắng ư tiền tiền, tích nhưng vị năng tận miễn suất tăng quai suyễn chi quá. Đản thử cự thất, thế tại tất cứu dĩ miễn hậu thế nhân tập thậm chí soán cải kinh văn. Cố tu phòng vi đỗ tiệm, tuyệt thử tội nguyên” (Do đây có thể thấy, bản họ Ngụy so với các bản trước đó, mặc dù có khá hơn trước, nhưng đáng tiếc vẫn chưa hết khỏi những sơ suất, lầm lẫn. Với lỗi lầm lớn ấy, chắc chắn phải cứu chữa, tránh để đời sau noi theo đó, thậm chí sửa đổi kinh văn. Vì thế, ngăn chặn cái nhỏ dần dần, mà dứt được nguồn tội về sau).

Đây là lời bình của cư sĩ Hoàng Niệm Tổ đối với ông ta. Điều này rất quan trọng, vì những gì của cổ nhân, mặc dù sai cũng không được sửa nó. Phải làm sao? Đem tư duy của mình viết một bên. Viết và chú giải một bên, không được tùy tiện sửa nó. Nếu tùy tiện sửa đổi, tình hình này mà đem ra thì thật không thể tưởng. Sau này, mọi người xem thấy chỗ nào không thông, không nên như vậy. Tôi sửa một câu, anh cũng sửa một câu, và như thế lưu truyền đến mấy trăm năm sau, thì văn chương này không thể xem được. Điều này là tuyệt đối không thể được. Đây là cấm kỵ lớn nhất.

Chúng ta rõ ràng nhìn thấy, đây là gì? Người ta đã viết sai, nhưng nhất định không được sửa đổi. Cổ nhân thường nói, chữ này có thể là một chữ nào đó nhầm lẫn, và chú giải qua một bên, như vậy là chính xác. Cấm kỵ nhất là tùy tiện sửa đổi của người khác.

Những lời này của Hoàng lão cư sĩ, cũng là nói rõ thầy của ông là cư sĩ Hạ Liên Cư vì sao mà phải hội tập lại. Nguyên nhân là vì 2 bản hội tập ở trước. Bản tiết hiệu thứ nhất đều không hoàn thiện, đều có tì vết, nên cần thiết phải làm lại một bản hội tập. “Tịnh vi đại kinh, tảo đắc thiện bản. Thị dĩ tiên sư Hạ Liên Cư lão cư sĩ nãi hữu đệ cửu bản chi tác dã” (Đều vì đại kinh, sớm được bản hoàn thiện, nên tiên sư Hạ Liên Cư lão cư sĩ mới làm bản hội tập thứ 9 này vậy). Bản của chúng ta bây giờ là bản thứ 9. Đây là giới thiệu về Hạ lão cư sĩ.

“Tiên sư Hạ lão cư sĩ, vị quan học nho” (Tiên sư Hạ lão cư sĩ lúc chưa trưởng thành đã học Nho), “vị quan” (chưa đội mũ) là chưa đến tuổi thành niên. Cổ nhân đến tuổi vị thành niên là 20 tuổi. Đây chính là trước năm 20 tuổi đã học Nho. “Tiên Trình Chu nhi hậu Lục Vương” (Trước học Trình Di, Chu Hy đời Tống, sau học Lục Cửu Uyên, Vương Dương Minh đời Minh). Đây là các đại văn hào của đời Tống và Minh. Bây giờ, gọi là nhà triết học, nhà tư tưởng. Đây là nói về nguồn gốc học thuật của ông ta.

“Phủ tráng nhập Phật” (Vừa mới tráng niên đã thâm nhập giáo lý Phật). Người xưa gọi tráng niên là 30 đến 40 tuổi. Vừa mới tráng niên, đại khái là 31 hoặc 32. Tức là vừa mới vào tuổi tráng niên, ông ta đã học Phật. “Nhiếp thiền mật nhị quy Tịnh độ” (Nhiếp trì Thiền, Mật quy về Tịnh độ). Ông ta học qua Thiền, Mật, và cuối cùng học Tịnh độ. “Hạ lão bác quán quần tịch, thâm ư văn tự, chuyên công cửu tu, giáo nhãn viên minh” (Hạ lão quán thông rộng khắp các sách, tinh thâm văn tự, chuyên công tu lâu, mắt tuệ tròn sáng). Đây là tán thán đối với thầy mình. Ông ta thích học vấn, học Phật vô cùng chăm chỉ. Thật như cổ nhân thường nói “nhất môn thâm nhập, trường thời huân tu”. Bất luận là học Thiền, học Mật, học Tịnh. Căn cơ của ông ta vô cùng thâm hậu.

“Ư Nhâm thân” (Vào năm Nhâm Thân). Nhâm Thân là năm 21 Dân Quốc “Nhất cửu tam nhị niên chi tuế phát nguyện trùng hiệu thử kinh” (Năm 1932, phát nguyện hiệu đính lại kinh này).

“Yếm quan tân môn, duyệt thời tam tải, biến thám ngũ chủng nguyên dịch, động sát tam gia hiệu bản. vô nhất ngữ bất tường tham, vô nhất tự bất hổ hiệu. Kiền cung kính thận, nhật đảo Phật tiền, thiên châm vạn chước, thời oanh mộng mị, cập kỳ thành dã. Tứ chúng hoan hỷ, Tông giáo câu triệt chi Tuệ Minh lão pháp sư, Hạ lão chi quy y sư. Tháp y bổng kinh nhiếp chiếu ư Phật tiền thân vi ấn chứng” (Bế quan nhập thất, suốt trong năm, xem khắp 5 bản dịch gốc, và cả so sánh đối chiếu với 3 bản hiệu đính của 3 nhà, không lời nào không tường tận, không chữ nào không đối chiếu. Một lòng cung kính thận trọng, ngày lễ trước ban Phật, đắn đo lo lắng, lúc mê lúc ngủ, cho đến khi hoàn thành. Tứ chúng vui mừng. Tuệ Minh lão pháp sư Tông, Giáo đều thông suốt là thầy quy y của Hạ lão, đích thân cầm y bưng bát đến trước ban Phật mà đích thân ấn chứng).

Đoạn này là nói ông ta dùng thời gian 3 năm, hội tập thành bản thứ 9, chính là bản này.

Tôi vừa mới nói qua với quý vị, là bản đầu tiên ông ta hội tập, trên tay tôi còn một cuốn. Cuốn này đã nhập vào vi tính, chúng ta lên mạng đều có thể xem. Còn khoa phán của Từ Châu pháp sư, có thể nhìn thấy diện mạo vốn có của nó. Còn định bản này là sau đó ông ta đã trải qua 10 lần chỉnh sửa. Định bản đổi thành 48 phẩm. Từ đoạn văn ngắn gọn này, chúng ta sẽ hiểu Hạ lão cư sĩ vô cùng siêng năng. Đại khái trong cuộc đời của ông, sự nghiệp lớn nhất chính là việc này, để pháp môn Tịnh Độ có được bộ này. Bộ kinh này là đệ nhất kinh của Tịnh Độ, vô cùng quan trọng, mà không có bản nào tốt. Kinh Pháp Diệt Tận cho đến kinh này đều nói đến. Tương lai khi Phật pháp diệt tận, kinh Vô Lượng Thọ vẫn còn lưu hành ở thế gian 100 năm.

Chúng ta thử nghĩ đến cuối cùng kinh Vô Lượng Thọ cũng mất, thì bản kinh nào được lưu hành? Khẳng định là bản này. Bản này so với mấy bản hội tập trước, thì mấy bản trước đều có tì vết. Đều không thể làm người khác mãn ý, nhưng trong bản này tìm không ra. Tì vết trong bản hội tập của tiền nhân, hết thảy đều có sửa, còn bản này thật sự không có chữ nào ra ngoài nguyên bản, chưa sửa chữ nào. Vì thế, đây là tập đại thành của 5 bản dịch kia, chọn lọc thích đáng, không có sai lầm. Tuệ Minh lão pháp sư ấn chứng cho ông ta.

“Tiên cữu phụ Mai Hiệt Vân cư sĩ” (Trước đây, cậu của ông là Mai Hiệt Vân cư sĩ). Mai Quang Hy cư sĩ là thầy của thầy Lý. Lý Bính Nam cư sĩ học kinh giáo với Mai lão, nên bản kinh này khi truyền đến Đài Loan, ở trước có một bài tựa của Mai lão. Bài tựa rất dài. Sau khi xem ông ta vô cùng hoan hỷ, lúc đó lưu hành ở Đài Loan, chính bản thân còn giảng qua một lần. Liên tục phát bài giảng này trên TV, và được coi là bản hoàn thiện. Từ Châu pháp sư chuyên giảng kinh này ở Kinh Lổ, chính là Bắc Kinh và Tế Nam, “tịnh thân vi khoa phán” (đều trực tiếp làm khoa phán). Tôi viết khoa phán là y cứ khoa phán của Từ Châu pháp sư làm căn bản, và phân phối nó kỹ càng hơn, làm thành một bản khoa phán hoàn chỉnh.

Khoa phán này, lúc tôi gặp lão Triệu Bộc, tôi tặng ông ta. Ông ta vô cùng hoan hỷ. Ông ta nhìn thấy kinh do Hạ Liên Cư hội tập, chúng tôi viết khoa phán, và Hoàng Niệm Tổ chú giải. Ông ta nói kinh này rất hoàn bị, nên vô cùng hoan hỷ. Phương trượng Hòa thượng Diệu Thiền, ở Cực Lạc am tại Bắc Kinh, mời xã trưởng Sơn Đông nữ tử liên xã Ngô Thanh Hương đến chùa giảng kinh này 2 tháng. Còn những người phát tâm hoằng dương chuyên tâm trì tụng, không sao kể hết, ấn hành liên tục không dứt.

“Thị dĩ tiên cữu phụ Mai lão tán vân ư Tịnh tông yếu chỉ, cùng thâm cực vi. Phát tiền nhân vị phát chi uân, hựu tinh đương minh xác, tạc nhiên hữu cứ. Vô nhất nghĩa bất tại nguyên dịch chi trung. Vô nhất cú dật xuất bản kinh chi ngoại. Hữu mỹ giai bị, vô đế bất thâu, tuy dục bất vị chi thiện bản bất khả đắc dã” (Vì thế, trước đây cậu là Mai lão khen rằng: Đối với Yếu chỉ của Tịnh tông, hiểu rất sâu nhiệm, phát hiện những điều ẩn chứa mà tiền nhân chưa thấy, lại tinh chuyên chính xác, rõ ràng có căn cứ. Không một nghĩa nào không có trong bản dịch gốc, cũng không có một câu nào vượt ngoài bản kinh. Thật là tốt đẹp đầy đủ, không sự thật nào mà không gồm thâu. Dù muốn không khen cũng không thể được). Đoạn này là trong bài tựa của Mai lão, tán thán đối với lần hội tập này.

“Tiên cữu chi ngữ, hiện dĩ cử thế công nhận, tịnh tương bản kinh thái nhập tân ấn chi tục tạng” (Lời nói của cậu trước đây, hiện đã được mọi người công nhận, và ngõ hầu bản kinh sẽ được đưa vào bản Tục Tạng Kinh mới in). Đây là một nguyện vọng, hiện tại chưa thực hiện được. “Đại kinh trần phong thiên tải, kim thỉ đắc thiện bản, tiên hiền hội kinh chi nguyện nãi viên” (Đại kinh bị giấu kín cả ngàn năm, nay mới được bản hoàn thiện, ước nguyện hội tập kinh của tiên hiền mới được viên mãn). Từ Vương Long Thư, Bành Tế Thanh, Ngụy Mặc Thâm đều hy vọng làm một bản Vô Lượng Thọ Kinh hoàn thiện, và cũng thật sự nỗ lực làm. Nhưng trước sau không sao tránh khỏi những sai sót, cho đến cuối cùng cư sĩ Hạ Liên Cư mới thật sự hoàn thành.

Hoằng nguyện của các vị đại đức xưa nay, đến đây mới thật sự hoàn thành. Kinh Vô Lượng Thọ hơn một ngàn năm nay, vì không có bản hoàn thiện, nên người học tập không nhiều. Người Trung Quốc học kinh Vô Lượng Thọ kém xa người Nhật Bản. Đại khái, người Trung Quốc thích lựa chọn, Người Nhật Bản thành thật hơn. Truyền đến bên đó toàn bộ tiếp nhận, có thể là do nguyên nhân này. Người Trung quốc tu Tịnh Độ đều y theo kinh A Di Đà. Ở Trung Quốc kinh A Di Đà hoằng dương rộng nhất.

Nhưng sau khi bộ kinh này ra đời, tình huống không giống nhau. “Đại kinh phóng quang, chúng sinh hữu hạnh. Bản kinh danh, Phật Thuyết Đại thừa Vô Lượng thọ trang nghiêm thanh tịnh bình đẳng giác kinh, thị vi đại kinh chi đệ cửu bản” (Đại kinh phóng quang, chúng sinh gặp may. Kinh này gọi là Phật Thuyết Đại thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh. Đó là bản thứ 9 của Đại kinh), nên kinh Vô Lượng Thọ hiện nay hết thảy có 9 bản. Nếu chúng ta muốn học tập thì phải dùng bản nào?

Năm 2006, tôi ở Paris tổ chức một hoạt động, sau đó thuận tiện đến Luân Đôn, đi phỏng vấn 2 Trường Đại học Cambrige và Luân Đôn. Đây đều là khoa Hán học, là trường đại học vô cùng nổi tiếng ở Âu Châu, đào tạo ra không ít nhà Hán học. Tôi cùng với các bạn khoa Hán học, và giáo thọ của họ giao lưu. Tôi biết có không ít học sinh lấy kinh Phật viết luận án tiến sĩ. Trong đó, có học sinh nói với tôi, anh ta đã dùng kinh Vô Lượng Thọ viết luận án. Tôi nói kinh Vô Lượng Thọ có hết thảy 9 bản, anh dùng bản nào? Anh ta dùng bản hội tập của Hạ Liên Cư. Thật hiếm thấy.

Chú giải này là lúc tôi ở Mỹ, cũng là đang hoằng dương bộ kinh này. Cư sĩ Hoàng Niệm Tổ đến Mỹ, ông ta đi một tháng. Chúng tôi ở đó liên lạc được, phần chú giải này ông ta chỉ đem theo một bản, mang theo một bản in giấy nến. Cũng được, coi như là không tệ, chữ cũng xem được, là hơi mờ một chút, vì in giấy nến, nên vô cùng đơn sơ. Ông chỉ mang theo một bản và tặng cho tôi. Vì nghe nói tôi ở đây giảng bản hội tập này.

Lúc đó ở trong nước, giảng bản hội tập này chỉ mình ông ta. Còn ở hải ngoại, giảng bản hội tập này cũng chỉ mình tôi. Vì thế, khi hai chúng tôi gặp mặt, hoan hỷ vô cùng. Thật là tâm đầu ý hợp. Chúng tôi cùng một phương hướng, cùng một mục tiêu. Tôi hỏi ông ta, Chú giải này của ông có bản quyền không? Có bản quyền thì không cần bàn, nếu không có bản quyền, tôi gởi về Đài Loan ấn tống. Ông ta nói không có bản quyền, và hoan nghênh ấn tống, còn muốn tôi viết cho ông ta bài tựa, và muốn tôi đề chữ cho ông ta.

Chúng tôi lần đầu tiên in 10.000 cuốn ở Đài Loan, in 10.000 cuốn sách bìa cứng. Ở hải ngoại bắt đầu lưu hành, sau đó in liên tục. Tôi nghĩ, bây giờ cũng trên một triệu cuốn rồi. Ông ta rất hoan hỷ.

Chúng ta xem tiếp chú giải một đoạn kinh ở dưới. Những điều này đều liên quan đến việc giới thiệu hoằng truyền bộ kinh điển này. Lão cư sĩ viết rất rõ ràng, chúng ta hãy xem xem. “Bính, Bản kinh chú thích ngũ dịch chi trung, Ngụy dịch giảo bị” (Thứ ba, chú thích kinh này trong 5 bản dịch, thì bản Ngụy dịch là khá đủ). Đây là bản của Khương Tăng Khải nhà Tào Ngụy. Trong 5 bản dịch, thì bản này dịch tốt nhất. Năm đó, tôi ở Đài Trung, thầy Lý cũng giảng qua kinh Vô Lượng Thọ 2 lần. Lần thứ nhất, giảng bản của Hạ Liên Cư, bản hội tập. Lần thứ hai, giảng bản của Khương Tăng Khải. Lần đó, tôi đến Đài Trung, duyên phận rất thù thắng, vừa đúng lúc gặp thầy Lý giảng bộ kinh này. Bản của Khương Tăng Khải, tôi nghe từ đầu đến cuối. Trước đó một thời gian, ông ta giảng bản hội tập. Ông ta đem lời ghi chú ở lề sách cho tôi. Tôi nhìn thấy hoan hỷ vô cùng. Tôi có thể xem hiểu.

Lúc đó, tôi cũng muốn giảng bản hội tập này. Thầy Lý nói với tôi, thời tiết nhân duyên chưa thành thục, cần phải đợi thời tiết nhân duyên. Tôi lúc đó còn chưa biết lợi hại, vì bản hội tập này tranh cãi nghị luận rất nhiều. Tranh luận điều gì? Người ta nói Hạ Liên Cư là cư sĩ tại gia, không phải là pháp sư, nên mọi người không đồng ý lưu hành bản này. Hạ Liên Cư cũng rất giỏi, lúc vãng sinh nói với học trò mình, Hoàng Niệm Tổ bên cạnh. Hạ Liên Cư nói với Hoàng Niệm Tổ, bản hội tập của ông ta tương lai sẽ từ hải ngoại lưu truyền đến Trung Quốc. Mọi người nghe xong đều ngơ ngác, sao lại từ hải ngoại lưu truyền về? Đến cuối cùng, quả nhiên chứng minh, bộ kinh này sau khi phổ biến lưu hành ở hải ngoại, mới lưu truyền về Trung Quốc, cho nên tôi cũng hiểu vì sao lúc đó thầy Lý không cho tôi giảng. Giảng bản của Khương Tăng Khải không vấn đề gì, nhưng nếu giảng bản hội tập của Hạ Liên Cư thì phê bình sẽ rất nhiều. Tôi lúc đó mới xuất gia chưa lâu, còn rất trẻ. Những vị Hòa thượng này muốn đến mắng người, áp lực này chúng tôi không chịu nổi. Bây giờ, những lão pháp sư này đều vãng sinh. Nếu chúng tôi biến thành lão hòa thượng, thì không vấn đề gì. Lúc đó rất khó, nên chúng tôi phải nhẫn nại. Thầy Lý đích xác có trí tuệ. Chúng tôi không bằng ông ta. Ông ta nhìn sâu và nhìn xa, thời tiết nhân duyên không thành thục tạm thời buông bỏ. Lúc đó kêu tôi giảng kinh Lăng Nghiêm, đó là một bộ đại kinh.

Chúng ta xem đoạn văn này: “Cố đại kinh chú sớ, tập ư Ngụy dịch” (Chú sớ Đại kinh tập trung bản Ngụy dịch). Hầu như đều dùng bản của Khương Tăng Khải để chú giải. “Ngã quốc đại đức đa vi tiểu bản Di Đà tác chủ chí ư chú đại bản giả” (Ở Trung Quốc, các đại đức phần nhiều chú sớ Tiểu bản A Di Đà, cho đến Đại bản). Đại bản chính là kinh Vô Lượng Thọ, tức 2 bản. “Tùy Tịnh Ảnh, Đường Gia Tường lưỡng gia” (Đời Tùy, Tịnh Ảnh; đời Đường, Gia Tường). Ở sau tiếp “Vô Lượng Thọ Kinh Nghĩa Sớ lục quyển, tùy kinh sư Tịnh Ảnh tự sa môn Huệ Viễn soạn sớ” (Một là, bản Vô Lượng Thọ Kinh Nghĩa Sớ, 6 quyển, đời Tùy, Kinh sư chùa Tịnh Ảnh, Sa môn Huệ Viễn soạn sớ). Bản mà tôi học, chính là bản này. Huệ Viễn ở đây và sơ tổ Huệ Viễn của Tịnh Độ tông, danh hiệu hoàn toàn tương đồng, nên trong lịch sử xưng Ngài là Tiểu Huệ Viễn. Nếu quý vị nhìn thấy có người viết trên văn chương Tiểu Huệ Viễn, chính là ông ta. Còn không dùng Tiểu Huệ Viễn chính là Huệ Viễn Đại sư ở Lô Sơn, tên hoàn toàn tương đồng. Lúc đó, Lô Sơn là thời đại Đông Tấn, còn Huệ Viễn này là nhà Tùy.

Hai là: “Danh xưng tương đồng, dã khiếu Vô Lượng Thọ Kinh Nghĩa Sớ, Đường Gia Tường tự Cát Tạng soạn” (Hai là bản có cùng tên gọi Vô Lượng Thọ Nghĩa Sớ, nhưng do Ngài Cát Tạng, chùa Gia Tường, đời Đường soạn). Ở Trung Quốc, kinh Vô Lượng Thọ chỉ có 2 bản này.

Ngoài ra, lưu hành ở Trung Quốc còn có 2 vị pháp sư của Hàn Quốc. Tân La Quốc, nay là Triều Tiên, có Cảnh Hưng, Nguyên Hiểu, 2 vị pháp sư đều là người xuất gia. Chú giải của họ cũng có lưu truyền ở Trung Quốc.

Thứ nhất là 3 quyển “Vô Lượng Thọ Kinh Nghĩa Thuật Văn tán” do Sa môn Cảnh Hưng, nước Tân La, trước tác. Đây là Cảnh Hưng chú thích.

Thứ hai là cuốn “Vô Lượng Thọ Kinh Tông Yếu”, cũng là Sa môn Nguyên Hiểu, chùa Hoàng Long, nước Tân La soạn. “Tằng nhập Đường du học” (Vào triều nhà Đường, ông ở tại Trung Quốc lưu học). “Hoàn hậu hóa chấn hải đông, kỳ sớ viết hải đông sớ” (Về sau, hoằng hóa ở Hải Đông, sớ của ông gọi là Hải Đông Sớ). Nguyên Hiểu pháp sư ở Hàn Quốc vô cùng nổi danh. Phật giáo Hàn Quốc không có người nào không biết ông ta.

Thứ ba là “Du Tâm An Lạc Đạo”. Đây cũng là trước tác của Nguyên Hiểu. Là “Tịnh độ cổ dật thập thư chi nhất” (Một trong 10 sách cổ thất truyền còn lại của Tịnh Độ). Những bản này đều lưu hành ở Trung Quốc.

Ở dưới nói: “Đại kinh quang minh, chiếu diệu Nhật Bản, chú thích chi thịnh, viễn siêu ngã quốc. Bút giả sở tri giả dĩ nhị thập dư chủng” (Nhờ ánh sáng Đại kinh chiếu rực rỡ ở Nhật Bản, việc chú thích phát triển, vượt xa nước ta. Các bút giả hiểu biết viết ra hơn 20 loại sớ). Hơn 20 loại này, đại khái đều ở trong “Vạn Tục Tạng”. Đây là cư sĩ Hoàng Niệm Tổ nhìn thấy.

“Kế vi ‘Vô Lượng Thọ Phật Tán Sao’ nhất quyển, Hưng Phúc tự Thiện Châu tác” (Tính ra: Vô Lượng Thọ Phật Tán Sao, 1 quyển, Ngài Thiện Châu, chùa Hưng Phúc làm). Thứ hai“Vô Lượng Thọ Kinh Thuật Nghĩa”, 3 quyển, do Tối Trừng pháp sư biên tập. Thứ ba là“Vô Lượng Thọ Kinh Tư Ký”, 1 quyển, do Trí Cảnh trước tác. Thứ tư là“Vô Lượng Thọ Kinh Nghĩa Uất”, 7 quyển do Nam Sở, chùa Tổng Trì Kỷ Châu trước tác. Thứ năm là “Vô Lượng Thọ Kinh lược tiên”, 8 quyển, năm Hưởng Bảo thứ năm do Viện Khê, chùa Thiền Lâm Lạc Đông trước tác. Thứ sáu là“Vô Lượng Thọ Kinh Sao”, 7 quyển do Liễu Huệ, Vọng Tây Lầu trước tác.

Đại khái, tổng cộng những bản này, ở đây họ đưa ra 22 loại. Trong 22 loại này, có 6 loại trên kệ sách của Hoàng lão cư sĩ. Khi tôi đến chỗ ông ta tham quan và nhìn thấy. 6 loại này, ông ta đều dùng để tham khảo. Đều có một vài chỗ dẫn dụng trong chú giải này.

6 loại này, thứ nhất là“Vô Lượng Thọ Kinh Sao”, 7 quyển chúng ta vừa đọc, Liễu Huệ, Vọng Tây Lầu trước tác. Loại thứ hai,“Vô Lượng Thọ Kinh Hội Sớ”, 10 quyển do Tuấn Đế, chùa Việt Tiền Thắng Thọ trước tác, trích dẫn câu cuối cùng thuộc dòng thứ 4. Đây là lão cư sĩ nhìn thấy. Loại thứ ba,“Vô Lượng Thọ Kinh Chân giải”, 18 quyển do Đạo Ẩn trước tác. Bản này dẫn dụng nhiều. Tiếp theo là“Vô Lượng Thọ Kinh Hợp Tán”, 4 quyển, Quán Triệt trước tác. Trong đây, các chương thứ 6, thứ 10, thứ 21, thứ 22, những phần này dẫn chứng rất nhiều.

“Hựu chú thích đại kinh hiệu hội bản giả cộng tam chủng” (Lại chú thích Đại kinh, bản hội tập hiệu đính gồm 3 loại). Thứ nhất “Vô Lượng thọ kinh Khởi Tín Luận” do Bành Tế Thanh, triều Thanh, thời Khang Hy trước tác. Thứ hai “Vô Lượng Thọ Kinh Tiên chú”, bản này của Đinh Phúc Bảo. Bản này, hiện nay trong nhà Phật lưu hành rất rộng, cũng rất dễ nhìn thấy. “Dĩ thượng lưỡng chủng sở chú giả giai vi Bành thị chi tiết hiệu bản” (2 bản chú giải nêu trên chính là bản hiệu đính chi tiết của Bành Tế Thanh). Thứ 3 “Phật Thuyết Ma Ha A Di Đà Kinh Trung Luận”, do Chính Định Vương Canh Tâm, thời Quang Tự, đời Thanh trước tác. Bản mà ông ta chú giải là bản hội tập của Nguỵ Thừa Quán. “Mạt hậu, hựu Thanh mạt Trầm Thiện Đăng cư sĩ trước hữu ‘Báo Ân Luận’ tam quyển” (Rốt sau, cuối đời Thanh, cư sĩ Trầm Thiện Đăng trước tác Báo Ân Luận, 3 quyển). Trong Báo Ân Luận “Tịnh độ Pháp Môn Cương Tông”, có “Vô Lượng Thọ Kinh Cương Tông”, “Vãng Sinh Chính Nhân Luận”. Mấy bản này có thể coi là chú thích kinh Vô Lượng Thọ. Đoạn này chúng ta chỉ giới thiệu đến đây thôi.

Bên dưới, chúng ta xem đoạn thứ 9, giải thích tổng quát đề kinh. Chúng ta bắt đầu xem từ trang 79.

“Phàm kinh chi danh đề, giai trực hiển bản kinh chi yếu chỉ. Sử học giả nhân danh đạt thể, nhất lãm kinh đề, trực khuy toàn kinh đại nghĩa. Thị dĩ Thiên Thai gia chú kinh, tiên thích kinh danh” (Phàm tên đề kinh, đều hiển bày ngay yếu chỉ của kinh, khiến cho các học giả nhờ tên mà hiểu thể. Một khi rõ được đề kinh, sẽ nhìn thẳng vào nghĩa chính của toàn kinh. Vì thế, Ngài Thiên Thai Trí Giả chú giải kinh, trước tiên giải thích tên đề kinh). Đoạn văn này chúng ta đọc qua một chút. “Đại kinh ngũ chủng nguyên dịch, các hữu kinh đề. Vương thị hội bản danh vi đại A Di Đà Kinh dĩ biệt ư nguyên dịch dữ tiểu bản. Đản ‘đại’ tự chi tăng, vô sở y cứ” (5 bản dịch gốc của Đại kinh, đều có đề kinh. Bản hội tập của họ Vương, đặt tên là Đại A Di Đà Kinh, để khác với bản gốc và Tiểu bản. Chỉ là tự mình thêm vào chữ “Đại” là không có căn cứ). Nếu là bản hội tập, thì phải nên dùng nguyên văn. Ông ta tự thêm chữ “đại”, điều này không có căn cứ.

“Bành thị tiết bản dữ Ngụy thị hội bản danh ‘Vô Lượng Thọ Kinh’ đồng ư ‘Ngụy dịch’, tam chủng nhất danh, hổn đồng dị ngộ” (Bản chi tiết của họ Bành cùng tên “Vô Lượng Thọ Kinh” với bản hội tập của Nguỵ Mặc Thâm, và với bản dịch đời Nguỵ. Cả 3 đồng tên nên dễ ngộ nhận). Vậy cuối cùng chỉ bản nào không rõ ràng?

“Chính định vương thị cải Ngụy thị bản vi Ma Ha A Di Đà Kinh” (Chính Định Vương sửa bản của họ Ngụy thành Ma Ha A Di Đà Kinh). 2 từ Ma Ha này cũng không có y cứ. Đây đều là trong bản hội tập có vấn đề.

“Khảo tòng hán ngật tống thập nhị dịch trung” (Xét từ đời Hán đến Tống, trong 12 lần dịch).

“Dĩ Vô Lượng Thọ vi danh giả thập, hữu thập bộ. Dĩ thanh tịnh bình đẳng giác vi danh giả hữu lưỡng bộ” (Lấy tên Vô Lượng Thọ có 10 bộ, lấy tên Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác có 2 bộ).

“Dĩ chính giác vi danh giả” (Lấy tên Chính Giác) có một bộ. Đầu đời Hán, có một bản dịch là “Vô Lượng Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh”. Bản phiên dịch cuối nhà Tống là “Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Kinh”. Đề kinh này cư sĩ Hạ Liên Cư lấy tên của bản cuối đời Tống: “Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Kinh”, cộng với bản đầu đời Hán: Vô Lượng Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh. Từ kinh bị trùng lặp nên bỏ, 2 từ Vô Lượng cũng trùng lặp nên bỏ. Do đó, đề kinh biến thành “Phật Thuyết Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh”. “Tự nhiên giai diệu” (Tự nhiên đều đẹp cả). Đây mới thật sự là hội tập, không có tự thêm chữ nào cả, chỉ là xoá đi chữ trùng lặp, nên biến thành đề kinh có 15 từ này.

“Bất giả phủ cân” (Một chút sửa đổi cũng không có). “Lưỡng dịch nguyên danh, nhiếp ư nhất danh chi trung thập nhị chủng kinh đề tất nhập nhất đề chi nội. Toàn kinh đại chỉ, chiêu nhiên mục tiền, tịnh tông yếu nghĩa, bị ư đề nội. Nhân pháp dụ, giáo lý hành, thể tướng dụng đẳng tề hiển ư nhất danh chi trung. Như đế võng châu, viên nhiếp nhất thiết diệu pháp, bản kinh hội tập chi diệu, ư thử khả kiến lân trảo” (Tên của 2 bản gốc, thâu vào 1 tên, đề của 12 lần dịch, gom vào 1 đề. Yếu chỉ toàn kinh rõ ràng trước mắt, nghĩa chính Tịnh tông đủ trong 1 đề. Nhân, Pháp, Dụ, Giáo, Lý, Hành, Thể, Tướng, Dụng, đều được hiển bày trong 1 tên, như lưới ngọc Trời Đế Thích, nhiếp trọn hết thảy diệu pháp. Sự vi diệu của bản hội tập kinh, có thể thấy rõ ràng ở đây). Đây chính là tuệ nhãn trong hội tập của Hạ Liên Cư, thật khác với những người trước đây.

Đề kinh này, Hoàng lão chú giải cũng rất tường tận. Chúng ta hôm nay vẫn còn chút thời gian, tôi đem giải thích của tôi đối với đề này, có một giải thích rất đơn giản. “Phật thuyết”, đây là được thuyết ra từ chính kim khẩu của Phật. Trong kinh Phật thêm 2 từ “Phật thuyết” này, nó có ý nghĩa hết thảy kinh đều là Phật thuyết. Vì sao các kinh khác không thêm 2 từ Phật thuyết? Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm không có thêm Phật thuyết. Kinh Kim Cương Bát Nhã cũng không có thêm Phật thuyết. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa cũng không thêm 2 từ Phật thuyết. Vì sao ở đây thêm 2 từ Phật thuyết?

Thông thường, thêm 2 từ Phật thuyết, câu thứ nhất phần Chính tông là đức Phật giảng, như vậy mới thêm Phật thuyết. Nếu câu thứ nhất không phải Phật thuyết, thông thường không dùng 2 từ Phật thuyết này, nên nó có nghiên cứu chứ không phải tùy tiện lập ra.

Đại thừa” là trí tuệ. “Vô lượng thọ” là Tính đức. “Trang nghiêm” chính là tướng hảo. Quý vị xem, trong kinh Hoa Nghiêm, đức Phật nói, hết thảy chúng sinh đều có đức tướng, trí tuệ của Như Lai. Trong đề kinh này trí tuệ, đức tướng Như Lai đã có.

“Đại thừa” là trí tuệ Như Lai. “Vô lượng thọ” là đức của Như Lai. Thọ mạng là đức thứ nhất. “Trang nghiêm” là tướng hảo. Toàn bộ đã nói ra cho chúng ta biết, đây là quả. Chúng ta học Phật hy vọng đạt được điều gì? Đạt được “Đại thừa vô lượng thọ trang nghiêm”. Đây là quả của thế giới Cực Lạc.

5 từ bên dưới là tu hành nhân gì mới có thể chứng quả? Tu “Thanh tịnh, Bình đẳng, Giác”. Thanh tịnh là giới. Trì giới có thể giúp ta được tâm thanh tịnh. Bình đẳng là định. Giác là tuệ. Quý vị xem, đây là giới, định, tuệ, tam học.

Còn Tam bảo, Tăng là thanh tịnh. Lục căn thanh tịnh, chút trần không nhiễm, đây là người xuất gia. Pháp là bình đẳng. Đức Phật nói các pháp bình đẳng không có cao thấp. Pháp là bình đẳng. Phật là giác. Tam bảo cụ túc. Phật dạy chúng ta tu hành như thế nào để chứng quả? Trước tiên là phải buông bỏ. Chúng ta dùng lời trong kinh Hoa Nghiêm để nói là buông bỏ chấp trước. Đối với các pháp trong thế gian và xuất thế gian không còn chấp trước nữa, thì tâm ta được thanh tịnh, chứng A La Hán. Tiến bộ hơn nữa, thì đối với hết thảy các pháp không phân biệt. Tâm phân biệt buông bỏ, ta sẽ được Chính đẳng Chính giác.

Hay nói cách khác, ta được bình đẳng. Bình đẳng là Bồ tát. Cuối cùng, có thể buông bỏ vọng tưởng. Vọng tưởng là gì? Là khởi tâm động niệm. Không khởi tâm, không động niệm là đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tính. Giác ở đây là đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tính, là thành Phật, chứng Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác.

Quý vị xem, tu nhân chứng quả. Trong Tịnh độ hoàn toàn hiển thị trên đề mục này. Nếu mọi người hỏi chúng ta, Tịnh Độ tông của các bạn tu như thế nào? Tu tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, tâm chính giác. Tịnh Độ tông cầu điều gì? Cầu trí tuệ, cầu Tính đức. Vô lượng thọ là Tính đức. Cầu tướng hảo. Tướng hảo là trang nghiêm. Rõ ràng minh bạch. Bộ kinh này giảng cái gì? Giảng về những điều này. Nội dung trong hết thảy bộ kinh là trên đề mục này, hết thảy đều hiển thị ra.

Bình luận bài viết

    Tin sinh hoạt phật sự

    Video bài giảng

    Pháp âm

    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 77)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Tú Trinh
    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 76)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Tú Trinh
    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 75)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Tú Trinh
    Pháp âm khác >>

    Thống kê truy cập

    • Online: 32
    • Số lượt truy cập : 9348555