Thông tin

TQ13 - NGUỒN GỐC LỄ VU LAN

NGUỒN GỐC LỄ VU LAN

MINH DUYÊN

  

Vu lan là tiếng gọi tắt của chữ Vu lan bồn, phiên âm từ tiếng Phạn ULLANBANA, nghĩa là Cứu đảo huyền bồn, tức là cái bồn chứa khổ bị dốc ngược. Ý muốn nói: Linh hồn của những người chết, bị đày ải trong chốn lao tù ngục tối phải chịu trăm ngàn cay đắng khổ sở, thì nay được nhờ công đức tụng kinh chú nguyện của người còn sống, và oai lực của Tam bảo hộ trì mà được giải thoát khỏi ách nạn.

Theo kinh Vu lan bồn thì nguyên nhân ngày lễ này có từ khi đức Phật Thích Ca còn tại thế, và phát sinh do lòng chí hiếu của một người con là Bồ tát Mục Kiền Liên, đối với mẹ tiền kiếp là bà Thanh Đề.

Đại Mục Kiền Liên (chữ Phạn là Maha Moggallana hay Maudgayana) có nghĩa là Đại Tán Tụng hay Đại Thái Thúc, do chữ Maha là Đại, và Moggallana là Tán Tụng, của cải, thóc lúa, v. v...

Theo Kinh Pháp Hoa Huyền Tán thì Ngài Mục kiền Liên lấy tên theo dòng họ mẹ "Mục" là tên một dòng họ mộ đạo, đầy lòng từ thiện. Thủy tổ họ này là một vị tiên trì trai giữ giới, tu hành trong rừng núi âm u, suốt đời chỉ dùng ngũ cốc, rau để ăn. Vì vậy mà được người đương thời tán tụng đức hạnh, đặt cho biệt danh là "Mục", người Trung Quốc dịch là Thái Thức Thị, tức họ của người chuyên ăn rau. Về sau cũng có nhiều người bắt chước tên này, nên họ Mục mới thêm một chữ Maha để dễ phân biệt.

Vậy Maha Moggallana (Đại Mục Kiền Liên) là tên của Ngài, theo bên ngoại, còn cha Ngài thì thuộc họ Câu (Câu Lê Đa), có sách chép là Tư (Tư Ly Ca).

Ngài Mục Kiền Liên là một trong số mười đại đệ tử xuất sắc nhất của Đức Phật. Vốn thuộc Bà la môn giáo, ông cùng với Xá Lợi Phất là hai người ngoại đạo danh tiếng trong thành Vương Xá lúc bấy giờ, mỗi người có đến 100 đệ tử theo học.

Tuy đã được nổi danh, nhưng Mục Kiền Liên tôn giả vẫn băn khoăn về nỗi đường lối tu hành của mình chưa phải là đạo giải thoát cứu cánh. Ông ước mong tìm được một bậc Thầy để học đạo, sao cho chứng ngộ được quả Niết bàn tịch tĩnh mà thoát khỏi vòng tục lụy của sinh tử luân hồi. Vì vậy, ông ước hẹn với người bạn đồng chí hướng là Xá Lợi Phất rằng: "Hễ tìm được đường lối tu giải thoát thì phải thông báo ngay cho nhau biết".

Một bữa nọ, tới thành Vương Xá, Ngài gặp ông A Xà Bà Kỳ (Assaji: Mã Thắng) từ xa chậm rãi đi tới, dáng điệu uy nghi, toàn thân bộc lộ một vẻ thánh thiện siêu thoát. Ông thầm khen ngợi dung mạo và cốt cách siêu phàm của vị Tỳ kheo, nên bước tới gần lên tiếng: "Chẳng hay vì lẽ gì mà Ngài có được dung mạo đường bệ trang nghiêm như vậy?". Tỳ kheo A Xà Bà Kỳ đáp: "Đó là thành quả tu tập của tôi, do lời chỉ dạy của sư phụ tôi là đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Giáo lý của đức Phật thì nhiều, nhưng tôi đặc biệt nhớ một bài kệ". Ngài Mục Kiền Liên xin được nghe. Tỳ kheo A Xà Bà Kỳ liền đọc:

Chư pháp tùng duyên sanh

Diệc tùng nhân duyên diệt

Ngã Phật Đại Sa Môn

Thường tác như thị thuyết

Ngài Mục Kiền Liên nghe xong bài kệ liền chứng ngộ, vội vàng tìm đến yết kiến đức Phật tại tinh xá và được nghe Phật thuyết pháp. Ông rất đỗi vui mừng vì đã tìm được bậc Thầy khả kính, trí đức viên dung mà lòng ông mong đợi từ lâu. Kế đó, ông vội tìm gặp bạn là Xá Lợi Phất, cùng nhau dẫn học trò đến làm lễ quy y Phật. Từ đó, ông chuyên tâm tinh tấn tu hành, chẳng bao lâu chứng được lục thông, và trở nên vị thần thông đệ nhất trong hàng ngũ các đệ tử của Phật.

Khi đã chứng được pháp thần thông, việc đầu tiên là Ngài tưởng nhớ ngay đến cha mẹ tiền kiếp và dùng thiên nhãn soi khắp các chốn Địa ngục để tìm kiếm.

Ôi thôi! Mẹ ngài kia rồi! Đang phải đọa làm kiếp ngạ quỷ đói khát, hình hài tiều tụy, tấm thân gầy tựa xác ve, bụng to bằng cái thúng mà cổ họng thì thắt chặt lại nhỏ như lỗ kim, khó nuốt nổi thức ăn. Thấy mẹ đói khát, Ngài Mục Kiền Liên xót thương vô cùng, bèn dâng bình bát để mẹ xơi cơm. Nhưng cơm vừa tới cửa miệng thì hóa ra lửa đỏ thiêu đốt mặt mày, khiến bà phải khóc than giãy giụa. Chỉ vì bà Thanh Đề tội quá sâu dày, lòng tham chưa dứt, sợ quỷ đói tranh mất phần ăn của mình, lấy một tay che bát, một tay bốc cơm bỏ vào miệng, tức thì ngọn lửa tham dục đốt cháy miếng cơm hóa ra lửa đỏ. Chứng kiến tình cảnh cực kỳ khổ sở của mẹ, Ngài Mục Kiền Liên đau lòng thương xót, vật vã khóc than, khiến cho Đất, Trời cũng phải rung động. Ông vội chạy về tinh xá tìm Phật, xin Phật cứu vớt. Phật bảo: "Này Mục Kiền Liên con ơi! Mẹ con xưa kia vì không biết kính tin Tam bảo, làm nhiều điều ác, tham lam vô độ, giết hại sinh linh, theo luật nhân quả tất phải đọa vào ác đạo làm thân ngạ quỷ đói khát. Dù trí con có tài giỏi đến đâu, tâm con có hiếu thảo đến mấy, thì một mình con cũng không thể cứu vớt mẹ được. Chỉ có cách ngày Rằm tháng Bảy là ngày Tự tứ của chư tăng ở mười phương đến đây kiết hạ; thời kỳ an cư sắp mãn, chúng Tăng sẽ ra đi truyền bá giáo lý khắp nơi. Con hãy mau về nhà sắm sửa y phục cho tinh khiết, hương đăng hoa quả, cỗ chay ngon lành, đựng đầy bình bát để cúng dường chư Tăng. Điều quan trọng là trong khi sửa soạn thức ăn, con phải trì trai giữ giới cho nghiêm, và tỏ rõ một lòng thành kính thiết tha tuyệt đối, cầu xin chư Tăng thương xót mà hoan hỷ nhận lãnh bát cơm lục hòa. Lại nữa, trước khi thọ trai, thì chư Tăng cần phải định tâm thần quán mà chú nguyện cho vong linh mẹ con, nhờ đó mẹ con mới được thoát nạn".

Ngài Mục Kiền Liên tuân theo lời chỉ dạy của Phật và khi cuộc lễ vừa chấm dứt thì vong linh bà Thanh Đề liền được giải thoát khỏi cảnh ngạ quỷ và siêu thăng lên Thiên giới.

Đức Phật lại khuyên bảo tứ chúng rằng: "Hỡi các bậc Quốc vương, Đại thần, Thái tử, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di v.v..., nếu ai muốn biểu lộ lòng từ hạnh hiếu thì hãy nên noi gương Mục Kiền Liên mà đem những thức ăn chay tịnh, ngon lành, đựng trong bồn Vu lan để cúng dường chư Tăng thập phương trong ngày Tự tứ. Như vậy thì cha mẹ hiện còn sống tất được sức khỏe trường thọ, mà cha mẹ bảy đời đã quá cố cũng đều được siêu thoát khỏi nạn lao tù địa ngục".

Khi ấy vì đã mục kích chuyện bà Thanh Đề được siêu thoát nhờ lòng hiếu thảo của Ngài Mục Kiền Liên, vua Ba Tư Nặc và vua Bình Sa cùng rất đông đại thần, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, lê dân v.v... đều thiết lập Vu lan bồn trai tại chùa Đông Thái nơi thành Vương Xá, để cúng dường chư Tăng trong ngày Tự tứ. Và cũng kể từ đó, các Phật tử có tục lệ hành lễ Vu lan trong ngày Rằm tháng Bảy âm lịch.

Ngày nay, đối với toàn thể Phật giáo đồ trên thế giới, ngày lễ Vu lan được coi là một ngày lễ trọng đại để nhớ đến công đức cao dày của cha mẹ sinh thành dưỡng dục, và nguyện cầu siêu độ, báo hiếu cho Cửu huyền thất tổ.

Riêng tại Việt Nam, lễ này được gọi là lễ Vu lan, mùa báo hiếu, lễ Trung nguyên (rằm tháng 7), ngày Xá tội vong nhân hay lễ cúng cô hồn. Đặc biệt vào ngày đó, không riêng gì các Phật tử làm lễ tại tư gia hay các chùa chiền, mà tại nhiều công, tư sở cũng thường tổ chức lễ này một cách linh đình trọng thể. Nhiều nơi còn thiết lập trai đàn cầu siêu, phóng sanh, phát chẩn, bố thí... vì tin rằng trong ngày đó, các vong hồn được ra khỏi Địa ngục, không nơi nương tựa sẽ đói khát bơ vơ, nên có tục lệ cúng cháo, cầu mong các cô hồn vất vưởng được bữa ấm no, đỡ ách nạn và siêu thăng tịnh độ. Đó cũng là một mỹ tục giàu lòng nhân ái đáng được duy trì, nhưng không nên sát sinh (heo, gà, vịt) mà nên cúng bằng các món chay thanh tịnh, hoa quả tươi tốt. Muốn cứu khổ cho các vong linh mà lại gây thêm tội sát sinh thì khác nào buộc thêm đá vào gánh nặng tội lỗi của vong linh, làm sao nhẹ tội mà siêu thoát ra khỏi địa ngục đau khổ được.

Cũng vào ngày đó, ở trần gian hàng năm, một số tội nhơn trong ngục thất cũng được Chính phủ lưu tâm, khoan hồng giảm miễn hình phạt. Thật là một ngày tốt lành mà ai ai, đâu đâu cũng tỏ lòng từ thiện, vị tha đáng quý.

Trong kinh Pháp Cú, đức Phật dạy rằng: "Các Pháp đều do tâm tạo. Tâm tạo Thiên đường mà cũng tạo Địa ngục. Nếu ta suy nghĩ, hành động với tâm ác độc thì khổ não sẽ theo ta. Trái lại, nếu tâm ta từ bi thanh tịnh hành động theo lẽ phải điều ngay, thì hạnh phúc sẽ đến với ta như bóng với hình, như bánh xe lăn theo vết chân con bò kéo xe".

Bà Thanh Đề bình sinh có những ý nghĩ tham lam bỏn xẻn, hành động theo lòng ích kỷ hại người, lại phạm tội sát sinh, không kính trọng Tam bảo, nên phải chịu quả báo nặng nề đau khổ, làm thân quỷ đói. Cũng bởi lòng tham lam keo kiệt ấy, trong cử chỉ lấy tay che bát cơm, vì sợ có kẻ khác trông thấy đến xin hay tranh cướp mất, nên cơm mới hóa thành lửa đỏ. Đó là “tùy nghiệp phát hiện" vì lòng tham lam và sân hận của bà nên cơm ngon mà bà thấy là than lửa nóng bỏng, không sao ăn được. Dù bà có một người con thần thông dũng mãnh và chí hiếu như Bồ tát Mục Kiền Liên đứng bên cạnh cũng không sao cứu nổi, mà chỉ có thể nhờ vào nguyện lực của thập phương Tăng bảo giúp bà hồi tâm hướng thiện, sám hối tội lỗi nên các tội căn mới được tiêu diệt, và bà mới thoát khỏi Địa ngục. Đó cũng là một bài học quý báu đáng để chúng ta suy gẫm...

Trích tạp chí Từ Quang số 257 ngày 15/8 1974

Bình luận bài viết

    Tin sinh hoạt phật sự

    Video bài giảng

    Pháp âm

    • Mẹ ơi - Thơ: Thích Phước Hạnh - Nhạc: Hoàng Lan
    • Khúc ca Tịnh Độ - Lời: Thích Phước Hạnh - Nhạc: An Sơn
    • Nụ cười da cam - Nhạc: Trần Đức Tâm - Thơ: Nguyễn Ngọc Mai
    Pháp âm khác...

    Thống kê truy cập

    • Online: 8
    • Số lượt truy cập : 3046280