Thông tin

VỀ MỘT SỐ ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT

GIỮA PHẬT GIÁO VIỆT NAM VÀ PHẬT GIÁO THÁI LAN

 

ThS. VÕ VĂN THÀNH(*)
ThS. LÊ THỊ THANH TÂM(**)

 

1. ĐÔI NÉT VỀ LỊCH SỬ PHẬT GIÁO VIỆT NAM VÀ LỊCH SỬ PHẬT GIÁO THÁI LAN

Đạo Phật được truyền bá vào Việt Nam từ rất sớm, theo công trình Lịch sử Phật giáo Việt Nam của Viện Triết học 1993 thì “Phật giáo truyền đến Việt Nam vào khoảng đầu công nguyên”(1). Có hai con đường truyền bá đạo Phật trực tiếp vào Việt Nam đó là đạo Phật truyền bá trực tiếp vào Việt Nam từ Ấn Độ vào đầu công nguyên và về sau, sau khi đạo Phật được truyền bá vào Trung Hoa và sau đó nó được tiếp nhận rồi nó phát huy ảnh hưởng của nó sang các nước khác trong đó có Việt Nam. Các nhà nghiên cứu Phật học Việt Nam còn chủ trương rằng “không ai phủ nhận là Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều và trực tiếp của Phật giáo Trung Hoa. Thế nhưng, Việt Nam ngay từ thời rất xa xưa đã được các cao tăng Ấn Độ đến truyền giáo trực tiếp, và thời điểm đó có thể là xưa hơn thời điểm Phật giáo vào miền Nam Trung Hoa”(2).

Quyển Thiền uyển tập anh còn kể lại câu chuyện đàm đạo giữa Quốc sư Thông Biện và thái hậu Linh Nhân nhắc đến sự kiện Pháp sư Đàm Thiên trả lời vua Tùy Cao Tổ cho rằng Phật giáo truyền qua xứ Giao Châu còn sớm hơn đến xứ Giang Đông Trung Quốc(3).

Sự kiện Việt Nam tiếp nhận Phật giáo Trung Hoa rõ nét nhất là sự ảnh hưởng của ba phái thiền xuất phát từ Trung Hoa như phái Thiền Tì Ni Đa Lưu Chi, phái thiền Vô Ngôn Thông và phái thiền Thảo Đường (đời Lý) và Phật giáo Trung Hoa tiếp tục tăng cường sự ảnh hưởng đến Việt Nam vào các thế kỷ XVII và XVIII khi các phái thiền Trung Hoa như phái thiền Lâm Tế, phái thiền Tào Động… Đến cuối thế kỷ XIII, vua Trần Nhân Tông đi tu và lập ra thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và trở thành sơ Tổ của phái này. Đây là phái thiền đầu tiên do một người Việt Nam sáng lập ra và truyền bá rộng rãi.

Phật giáo tiếp tục phát triển ở Việt Nam đến tận ngày nay như một dòng chảy liên tục cùng thăng trầm với lịch sử Việt Nam như nhà thơ Hồ Dzếnh đã viết:

Trang sử Phật,

Đồng thời trang sử Việt, Trải bao độ hưng suy,

Tuy có nguy mà chẳng mất”.

Kể từ khi truyền bá vào Việt Nam, đạo Phật tỏ ra rất thích nghi với môi trường bản địa và dung hòa với nhiều tín ngưỡng bản địa và với hơn 2000 năm phát triển, Phật giáo hiện nay là tôn giáo lớn nhất ở Việt Nam và ngày càng khẳng định vai trò của mình đối với dân tộc. Ở Việt Nam hiện có các hệ phái Phật giáo lớn như: Phật giáo Tịnh Độ tông, Phật giáo Thiền, Phật giáo hệ khất sĩ v.v… cùng tồn tại, phát triển bổ sung cho nhau chứ không bài xích lẫn nhau, đáp ứng nhu cầu tâm linh của nhân dân.

Phật giáo được truyền vào Thái Lan từ rất sớm, phái đoàn của 2 cao Tăng Sona và Uttara và từ đó, đạo Phật đã gắng bó với lịch sử dân tộc Thái(4). Có thể nói đây là nét khá tương đồng với Phật giáo và dân tộc Việt. Theo nhà nghiên cứu Phật học Minh Chi trong công trình Phật giáo Thái Lan: Hiện tại & quá khứ, lịch sử Phật giáo Thái Lan được chia thành 4 giai đoạn như sau:

Giai đoạn 1: Phật giáo Theravada

Các nhà khảo cổ đã tìm thấy những di vật ở chùa Pathamacotya, khi Nagara Pathama là kinh đô của một vương quốc người Mon, cho phép kết luận là đạo Phật được du nhập vào đất Thái vào thời kỳ đó.

Giai đoạn này, Phật giáo được truyền vào Thái Lan là Phật giáo Theravada (Thượng Tọa bộ), một bộ phái chủ yếu của đạo Phật sau khi được tách ra và gồm toàn là những bậc trưởng lão, cao niên, với chủ trương duy trì nguyên bản của đạo Phật từ khi đức Thích Ca còn tại thế.

Giai đoạn 2: Phật giáo Đại thừa

Khi Phật giáo Đại thừa chiếm ưu thế ở Ấn Độ, thời nó cũng được truyền bá sang Thái Lan. Phật giáo Đại thừa đầu tiên du nhập vào Sumatra, Java và Campuchia. Rồi từ những xứ này, du nhập vào Thái Lan. Cũng có thể có một nhánh Đại thừa, từ Magadha trực tiếp đến xứ người Mon ở Miến Điện, rồi từ đó xuống Dvaravati(5). Như vậy, vào thời kỳ đó, Phật giáo Đại thừa đã có mặt ở Thái Lan, nhưng chiếm ưu thế vẫn là Phật giáo Theravada.

Giai đoạn 3: Phật giáo Theravada ở Pagan truyền vào đất Thái

Vào năm 1057, vua Anurudha của Miến Điện, có kinh đô ở Pagan, đánh chiếm xứ Remannadesa, mở rộng bờ cõi tới các tỉnh phía Tây Bắc xứ Thái, tức vùng Lanna và truyền bá đạo Phật vào Thái Lan. Nhưng vào thời kỳ này, đạo Phật suy vong và gần như bị tuyệt tích ở Ấn Độ. Xứ Miến Điện tiếp thu đạo Phật Theravada từ Magadha (trước kia thuộc Ấn Độ, nay thuộc Afghanistan), và phát triển hình thức Phật giáo này theo cách thức của họ, sau khi họ không còn tiếp xúc với Ấn Độ nữa. Lúc bấy giờ, miền Nam Thái Lan vẫn còn bị các vua Khmer cai trị, nhưng với tư cách là chư hầu của Pagan. Do đó, mà Phật giáo Đại thừa vẫn còn tồn tại ở Nam Thái Lan.

Giai đoạn 4: Phật giáo Sri Lanka truyền vào đất Thái

Lịch sử truyền thống của Tăng già Sri Lanka truyền vào đất Thái bắt đầu từ năm 1153, với triều đại vua Sri Lanka Parakrasabahu. Đó là một trong những vị vua vĩ đại nhất của lịch sử Sri Lanka. Phật giáo từ Sri Lanka truyền vào đất Thái là loại Phật giáo đã được người Sri Lanka cải tổ, và chính vì ý muốn Phật giáo trên nước mình được cải tổ như ở Sri Lanka, người Thái chấp nhận. Sử liệu ghi nhận rằng, năm

1250, những Tăng sĩ Thái đầu tiên từ Sri Lanka trở về nước, ở tại vùng Negara Sri Dharmaraja. Ở đây, cùng với sự trợ lực của Tăng sĩ Sri Lanka cùng về với họ, họ sửa sang lại ngôi chùa lớn Mahadhatu (chùa Xá Lợi Lớn), theo hình dáng các bảo tháp ở Sri Lanka. Đó chính là hình dáng của ngôi chùa Mahadhuta hiện nay, khi danh tiếng của Tăng già Sri Lanka đến Sukhodaya, nơi triều đại Pra Ruang đang trị vì, vị vua của triều đại rất sùng tín đạo Phật, mời một vị cao Tăng ở Sri Dharmaraja đến kinh đô để thực hiện cuộc cải tổ Tăng già ở đây. Kết quả là truyền thống Tăng già Sri Lanka bắt đầu phổ biến ở trên toàn đất Thái. Trong khi đó thì Phật giáo Đại thừa suy yếu dần và mất hẳn. Tăng già cả nước thống nhất lại dưới hình thức Theravada.

Theo nhận xét của nhà nghiên cứu Phật học Minh Chi, tuy cả hai phái Tăng sĩ cũ hay Tăng sĩ mới đều thuộc Phật giáo Nam tông hay Theravada. Nhưng họ không cùng làm lễ được là vì lý do sau đây: thứ nhất, là phái Tăng sĩ cũ đọc kinh bằng tiếng Sanskrit, một tập tục còn lại từ thời thống trị của người Khmer. Hai nữa, phái Tăng sĩ mới cho rằng, truyền thống của phái Tăng sĩ cũ không được thuần nhất, do chịu ảnh hưởng của Đại thừa giáo. Vì vậy, trong một thời gian, hai phái Tăng sĩ mới và cũ sống tách biệt nhau ở Chieng Mai cũng như ở Sukhodaya(6). Về sau, khi Phật giáo ở Sri Lanka suy thoái, thì Phật giáo Thái Lan lại ảnh hưởng ngược trở lại xứ Sri Lanka.

Điểm qua những nét đại thể của Phật giáo Thái Lan cho chúng ta thấy Phật giáo Thái Lan chủ yếu và xuyên suốt vẫn là Phật giáo Theravada, dù theo truyền thống cũ của Campuchia hay theo truyền thống cải tổ của Sri Lanka sau đó. Phật giáo Đại thừa dần dần mất sự ảnh hưởng và biến mất khỏi xã hội người Thái mà không có sự tranh chấp tôn giáo gì.

2. NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG GIỮA PHẬT GIÁO VIỆT NAM VÀ PHẬT GIÁO THÁI LAN

Có rất nhiều những điểm tương đồng giữa Phật giáo Việt Nam và Thái Lan, ở đây, chúng tôi chỉ nêu lên những nét tương đồng có ảnh hưởng nhiều nhất đến cả hai dân tộc. Nó thực sự đã trở thành những nét văn hóa của mỗi dân tộc.

Làm từ thiện

Ở Thái Lan và Việt Nam đều có làm từ thiện theo tinh thần Phật giáo. Làm từ thiện không những là cho nhiều của cải vật chất mà theo đạo Phật, bố thí pháp, lời nói từ ái khiến người ta vui vẻ, người ta hướng thiện đó là làm việc thiện rồi. Tinh thần làm việc từ thiện này là phổ quát ở tất cả các nước theo Phật giáo. Đó là tinh thần rất cơ bản của đạo Phật.

Sự khổ

Đối với đạo Phật, sự khổ là phổ quát. Phật giáo Theravada và Bắc truyền đều thừa nhận sự khổ. Có cái khổ chúng ta có thể cảm nhận được hằng ngày như cái khổ về thân xác, cái khổ khi phải chia ly với người thân, gần người mình ghét, cái khổ khi bệnh đau, già lão. Có cái khổ rất vi tế như được mô tả trong Khổ đế của đạo Phật. Do đó, Tứ diệu đế được tất cả các tông phái Phật giáo thừa nhận. Tuy nhiên, mỗi tông phái có sự nhấn mạnh riêng của mình, chẳng hạn Phật giáo Theravada nhấn mạnh sự nổ lực bản thân để đạt được sự giải thoát và cầu giác ngộ. Trong khi đó, Phật giáo Tịnh độ tông ở Việt Nam rất phổ biến với quan niệm về sự gia hộ của Bồ tát và Chư Phật. Dù khác nhau về phương pháp hành trì, thể hiện nhưng cuối cùng cũng giống nhau về mục đích là thoát khổ và đem lại sự giác ngộ sau cùng. Điểm phổ quát này là như nhau đối với mọi tông phái Phật giáo.

Vô ngã

Phật giáo Nguyên thủy cũng như Phật giáo Đại thừa đều chấp nhận thuyết Vô ngã như là giáo lý căn bản của đạo Phật. Đạo Phật phủ nhận cái ta thường còn, cái ta vĩnh viễn vì xem đó là điểm để mọi người bị mê hoặc và chấp tướng. Cái ở đằng sau cái ta ấy chỉ là một tập hợp của ngũ uẩn (sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn). Cái ta thường ngày chỉ là cái ta quy ước để gọi tên chứ không có cái ta như các tôn giáo khác chủ trương.

Tái sinh

Phật giáo Việt Nam và Phật giáo Thái Lan đều thừa nhận thuyết tái sinh. Có thể nói rằng, thuyết luân hồi và tái sinh đã xuất hiện từ lâu ở Ấn Độ nhưng đạo Phật chỉ chấp nhận thuyết tái sinh chứ không chấp nhận thuyết luân hồi. Tái sinh là sau khi chúng sinh chết đi thì lại tái sinh trong một cuộc sống khác sung sướng hay là đau khổ tùy theo nghiệp của đương sự đó đã tạo ra. Như vậy, thuyết tái sinh cho rằng có đời sống kiếp sau nhưng nhất không nhất định là quay lại đời sống y như kiếp trước mà tùy vào nghiệp duyên quyết định hướng tái sinh của đương sự. Thuyết tái sinh của đạo Phật rất linh hoạt, khác hẳn với thuyết luân hồi của Bà-la-môn giáo.

Niềm tin vào thuyết tái sinh của các nước theo Phật giáo là rất lớn, nó giúp con người hướng thượng, làm nhiều việc thiện để họ có được cuộc sống kiếp sau tốt hơn. Đây là điểm cộng thông trong mọi tông phái Phật giáo.

Nghiệp (Karma)

Cũng như thuyết tái sinh, mọi tông phái Phật giáo đều thừa nhận thuyết nghiệp như là thuyết cơ bản của Phật giáo. Cả Phật giáo Việt Nam và Phật giáo Thái Lan đều cho rằng, con người làm việc thiện sẽ tích được nhiều phúc đức và đem lại cho đương sự cuộc sống tốt lành, hạnh phúc và khi lâm chung sẽ được tái sinh vào cõi lành, cõi phúc. Làm việc ác, đương sự sẽ gánh lấy hậu quả xấu, quả ác do chính mình tạo ra nếu nó không chín muồi và thời điểm này thì sẽ chín muồi và một thời điểm khác, một kiếp khác trong tương lai. Thuyết nghiệp của đạo Phật còn rất năng động, nó cho rằng nếu một đương sự làm nhiều việc xấu, việc ác, nếu biết hối cải và làm nhiều việc thiện đủ sức bù đắp nghiệp ác đã làm thì vẫn được hưởng hạnh phúc, sinh vào cõi lành. Đây là một điểm rất nhân bản trong đạo Phật. Đạo Phật thường có câu “quay đầu là bờ” là như vậy.

Thuyết Duyên khởi (luật nhân quả)

Đạo Phật đều thống nhất cho rằng mọi sự vật hiện tượng đều có nguyên nhân sanh khởi của chúng, nhưng chúng không có một thực thể nào vĩnh hằng. Đạo Phật không thừa nhận cái gì vĩnh hằng, bất biến. Luật nhân quả cũng còn gọi là lý duyên khởi chi phối vũ trụ. Thuyết Duyên khởi giải thích rằng do vô minh mà chúng sinh ta đau khổ; nhờ giác ngộ mà chúng ta sẽ không còn bị đau khổ nữa. Từ thuyết Duyên khởi sinh ra các thuyết như thuyết vạn pháp trong vũ trụ này đều tương quan tương liên với nhau, thuyết về sự liên hệ theo luật nhân quả của mọi nhân tố cần tạo ra một sự sống, thuyết về tính tương đối của mọi sự vật hiện tượng.

Đạo đức

Đạo Phật dù là Nam tông hay Bắc tông đều đưa ra những chuẩn mực đạo đức cho con người. Theo đạo Phật, ai giữ được ít nhất năm giới thì đảm bảo kiếp sau sẽ được tái sinh làm người. Vì năm giới là tối thiểu về chuẩn mực đạo đức của con người, đặc biệt là giới cấm sát sinh. Giới cấm sát sinh của đạo Phật hạn chế con người tàn sát các sinh vật khác, đặt biệt là cấm giết hại đồng loại, đây là một điểm rất nhân bản trong đạo Phật. Thay vì sát sinh, đạo Phật khuyên con người không nên sát sinh và khuyến khích hành vi cứu sống con người.

Đạo Phật dù cho bất cứ tông phái nào cũng khuyến khích tránh mười hành vi ác đó là: Giết hại sinh vật, lấy của không cho, tà dâm, nói dối, nói lời ác, nói chia rẽ, nói lời vô nghĩa, tham, sân, tà kiến. Nếu từ bỏ mười hành vi ác đó thì đương sự tự nhiên sẽ làm 10 điều thiện trong đời. Điều này rất phù hợp với đạo đức loài người và có thể nói đây là một món quà của đạo Phật dành cho nhân loại. Do đó dù là cộng đồng Phật giáo Theravada như ở Thái Lan hay cộng đồng Phật giáo Bắc truyền như ở Việt Nam đều rất tán đồng.

Niết bàn

Các học giả Phật giáo đều nhất trí rằng, mục đích của đời sống tôn giáo là giải thoát khỏi cái ảo tưởng sai lầm về cái Ta. Nhờ cởi bỏ được ảo tưởng đó, Phật tử sẽ sống bình thản không giao động bởi thế sự vô thường, không bị ràng buộc bởi những hệ lụy thế gian. Khi chứng ngộ được Niết Bàn Phật tử không còn bị chi phối bởi tà kiến và dục vọng nữa. Có rất nhiều khái niệm về Niết Bàn, trong đó có quan niệm Niết bàn là chấm dứt mọi đau khổ ràng buộc nhờ dập tắt được ngọn lửa dục vọng. Niết bàn là tịch diệt thì không phải người Phật tử tịch diệt mà ngọn lửa tham, sân, si trong đương sự bị tịch diệt.

3. NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT PHẬT GIÁO VIỆT NAM VÀ PHẬT GIÁO THÁI LAN

+ Khác nhau về tên gọi

Phật giáo xuyên suốt và chủ yếu ở Việt Nam là Phật giáo Đại thừa (Mahayana Buddhism) với các tông phái lớn là Phật giáo Thiền và Phật giáo Tịnh Độ tông, trong đó đặc biệt là hình thức Phật giáo Tịnh độ đã ảnh hưởng rất sâu rộng trong dân chúng. Phật giáo ở Việt Nam du nhập và dung hòa với các tín ngưỡng địa phương, chấp nhận các vị thần, thánh địa phương được thờ ở chùa Phật. Phật giáo luôn luôn vận động và phát triển, biến đổi không ngừng và thích nghi với từng bối cảnh của dân tộc. Chính vì vậy, Phật giáo ở Việt Nam và ở các nước như Trung Quốc, Tây Tạng, Nhật Bản, Triều Tiên còn được gọi là Phật giáo Phát triển.

Ở Thái Lan, Phật giáo xuyên suốt và chủ yếu là Phật giáo Theravada hay còn gọi là Phật giáo Tiểu thừa (Hinayana Buddhism) cố gắng duy trì hình thức nguyên thủy của đạo Phật từ thời đức Phật Thích Ca còn tại thế, do đó nó được gọi là Phật giáo Nguyên thủy.

+ Khác nhau về hình thức tổ chức Tăng già

Một điểm rất thú vị khi nghiên cứu về những điểm tương đồng và khác biệt giữa Phật giáo Việt Nam và Phật giáo Thái Lan là quy định về tăng già của Phật giáo Việt Nam (thuộc Bắc tông) và Phật giáo Thái Lan (Nam tông). Ở Việt Nam, phụ nữ có thể khoác áo cà sa, áo vàng và trong truyền thống Phật giáo Việt Nam có một số nữ tu sĩ nổi tiếng ni sư Diệu Nhân đời Lý và hiện nay chùa của ni chúng là rất nhiều. Về lý thuyết thì có bát kỉnh pháp quy định sự kính trọng của giới Ni đối với giới Tăng nhưng về mặt tu tập, địa vị xã hội, giáo hội thì họ không thua kém gì tăng sĩ. Có thể nói đó là một điểm rất bình đẳng giữa Tăng chúng và Ni chúng ở Việt Nam. Ở Thái Lan, phụ nữ không được thọ giới tì kheo ni, không được xuất gia và không được khoác áo vàng như tăng sĩ. Đó là một sự phân biệt bất bình đẳng giữa nam và nữ, tuy rằng ở Thái Lan không có ảnh hưởng Nho giáo như ở Việt Nam. Để làm rõ vấn đề này, chúng ta phải trở lại hình thức Phật giáo của Thái Lan và của Việt Nam khác nhau.

+ Về hình tượng phụ nữ trở thành Phật

Chúng ta không thấy hình tượng Phật mẫu trong văn hóa của người Thái. Đối với người Thái, hình tượng Đức Phật phải là Nam giới và Đức Phật duy nhất trong chánh điện họ thờ là Đức Phật Sakya Muni, còn các vị khác chỉ là Bồ Tát. Phật giáo Thái Lan là Phật giáo Theravada, vốn không có hình tượng phụ nữ trở thành Phật tuy rằng ở thời Đức Phật phụ nữ cũng được xuất gia tu hành và có một dâm nữ Ambapali xuất gia làm ni, sau trở thành một A La Hán(7). Điều này, chúng tôi nghĩ là có sự ảnh hưởng của Bà-la-môn giáo, cũng từng hiện hữu trên đất Thái Lan (tuy về sau đã biến mất). Truyền thống Bà La Môn giáo có những quy định rất khắc khe đối với phụ nữ. Phụ nữ được xem là không trong sạch, là ô uế và tất nhiên là họ không được phép can dự vào tôn giáo như đàn ông. Đây là một cái nhìn rất cực đoan của Bà-la-môn giáo đã đi vào tâm thức của người Thái trước đó chăng? Chúng ta có thể nói rằng tính cực đoan đó không kém gì Nho giáo Trung Hoa.

+ Khác nhau về địa vị của cư sĩ

Theo truyền thống Phật giáo Bắc truyền, vai trò của cư sĩ được đánh giá rất cao. Có nhiều cư sĩ, trình độ giác ngộ của họ còn lớn hơn là tăng sĩ, mà lịch sử Phật giáo nhắc đến đó là cư sĩ Duy Ma Cật. Ở Việt Nam giới cư sĩ có địa vị, nhiều vị cư sĩ nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam như cư sĩ Ứng Vương đời Lý. Ở đời Trần có cư sĩ Tuệ Trung Thượng Sĩ, là thầy của vua Trần Nhân Tông (sau này ông trở thành Sơ tổ của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử). Thời Lê-Mạc có Bạch Vân cư sĩ, đạo hiệu của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm v.v… Cư sĩ chiếm vị trí quan trọng trong đạo Phật. Cư sĩ là giới trung gian giữa Tăng sĩ và tín đồ thế tục.

Ở Thái Lan và các nước thuộc truyền thống Nam truyền, vai trò cư sĩ không được xem trọng. Theo truyền thống Nam tông thì chỉ có xuất gia mới là tu hành thực sự, còn giới cư sĩ tại gia thì không tu hành được và không tính là giới tu hành. Đó là một điểm bất bình đẳng trong nội bộ Phật giáo Nam truyền. Chính tình hình này, ở Thái Lan có tục lệ là ít nhất trong đời, một thanh niên nam giới phải có một lần xuất gia và thời gian tối thiểu là một năm thì người nam như vậy mới được xem là hoàn thành một nghĩa vụ thiêng liêng trong đời và sẽ không bị xã hội xem thường và khi lấy vợ thì đó là tiêu chuẩn đầu tiên mà bên vợ xem xét là người nam đó có hoàn thành nghĩa vụ xuất gia tu hành hay chưa, nếu chưa thì nam nhân đó có thể bị từ chối kết hôn. Nếu một nam nhân không chịu xuất gia tu hành thì có thể bị ế vợ suốt đời. Đây là một điều rất thú vị trong văn hóa Thái Lan có liên quan đến đạo Phật.

+ Khác nhau về cách thức sinh hoạt

Ở Việt Nam, nhiều tự viện, chùa tự túc được lương thực và sinh hoạt phí của tăng chúng. Một số chùa còn có đất đai để canh tác và nhiều chùa còn kinh doanh rất hiệu quả và dùng số tiền thu được để chi phí cho toàn bộ chùa, tu viện, do đó nhiều chùa tự túc được sự sinh hoạt. Ở Thái Lan, mọi sự sinh hoạt của tăng chúng hay khi cần chi tiêu gì thì nguồn đóng góp duy nhất là sự cúng dường của tín đồ Phật tử và đặc biệt là hoàng gia Thái Lan cũng là tín đồ, do đó sự đóng góp của tín đồ là rất lớn và họ đóng góp với tấm lòng rất thành kính.

Ở Việt Nam, như đã nói chùa có thể tự túc được mọi sinh hoạt, ăn uống của tăng sĩ do đó chúng ta thấy rất hiếm tăng sĩ ra đường khất thực như ở Thái Lan (trừ hệ phái Khất sĩ mới phát triển sau này và Phật giáo Khmer thuộc truyền thống Nam tông ở Nam bộ). Tín đồ cúng dường, đóng góp trực tiếp vào chùa, tu viện rồi chùa, tu viện mới thu xếp cho sinh hoạt của tăng chúng. Đây là một điều hay là tăng sĩ không phải lo sinh hoạt hằng ngày, đặc biệt là ngày nào tăng sĩ cũng phải ra ngoài khất thực để tiếp xúc với tín đồ, giảng chánh pháp, khuyến họ làm thiện tránh ác thực hiện việc bố thí pháp, còn tín đồ thì thực hiện việc bố thí thức ăn, vật dụng cần thiết cho sinh hoạt của tăng sĩ.

Ở Việt Nam, tăng sĩ có thể ăn nhiều lần trong ngày và tuyệt đại là ăn các thức ăn từ thực vật, ăn chay. Ở Thái Lan, mỗi tăng sĩ sáng sớm cắp bình bát ra ngoài khất thực và tín đồ cúng dường thức ăn, vật dụng cần thiết cho sinh hoạt và họ phải thọ trai trước ngọ và chỉ ăn một lần duy nhất trong ngày. Nếu qua giờ ngọ đó, mà vị tăng sĩ khất thực vẫn không được thức ăn thì đành phải nhịn ăn cho đến hôm sau (tất nhiên có thể là hiện nay họ có thể uống sữa thay cho bữa ăn). Tăng sĩ theo truyền thống Theravada không được giữ tiền, vàng bạc trong mình vì đó là quy định của Giáo hội Phật giáo. Vật thân tín nhất đối với vị tu sĩ Nam truyền là chiếc bình đi khất thực và y phục màu vàng (màu của giải thoát).

+ Khác nhau về hình thức thờ cúng trong chùa

Ở các chùa Thái, họ chỉ thờ duy nhất ngẫu tượng đức Phật thích ca trong chánh điện. Đức Phật Thích Ca là đức Phật lịch sử. Truyền thống Nam tông chỉ thờ ngẫu tượng đức Phật thích ca dưới các hình thức như đức Thích Ca sơ sinh, đức Thích Ca tọa thiền dưới gốc cây Bồ đề, đức Thích Ca nhập Niết Bàn v.v… Ở Việt Nam thì trong chùa thờ rất nhiều đức Phật khác nhau. Bước vào một ngôi chùa điển hình của người Việt, chúng ta thấy từ ngoài cổng đã thờ tượng hai vị hộ pháp, rồi trong chánh điện thờ rất nhiều Đức Phật khác nhau, thường là Đức Phật Tam thế như Đức Phật A Di Đà, Đức Phật Thích Ca và Đức Phật Di Lặc. Bên cạnh đó còn thờ các vị Tổ sư thiền mà tiêu biểu nhất là đức Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma). Phía sau lại thờ rất nhiều tượng của các vị Bồ tát, Đức Phật Bà Quan Âm mang dáng dấp người phụ nữ Việt Nam với nét mặt đầy lòng từ và bi trắc ẩn.

4. VÀI LỜI KẾT

Phật giáo Việt Nam (tiêu biểu cho Phật giáo Đại thừa) được truyền bá vào Việt Nam hơn 2000 năm qua đã có những đóng góp hết sức quý báu cho dân tộc. Người Việt Nam không ai là không thấm nhuần thuyết từ, bi, hỷ, xả, lý nhân quả của đạo Phật. Đạo Phật tuy là thành tố ngoại sinh nhưng đã gắn bó với người Việt trong một thời gian dài và đã trở thành một bộ phận không thể thiếu của dân tộc Việt đến nỗi chùa ở miền Bắc đa số là chùa làng, thuộc về sự quản lý của làng chứ không phải của tăng ni. Những cuộc sinh hoạt tôn giáo, văn hóa thuộc về đạo Phật cũng đã phổ biến và trở thành những nét văn hóa tốt đẹp của người Việt đến nỗi dân gian có câu: “Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt”.

  dân tộc Thái, Phật giáo chi phối rất sâu sắc trong đời sống của người Thái. Bước ra đường, điều làm người ngoại quốc ấn tượng nhất là cảm tượng tu sĩ Phật giáo có mặt khắp nơi. Họ được cả xã hội tôn kính, kể cả hoàng gia Thái Lan. Những điểm khác biệt giữa Phật giáo Việt Nam và Phật giáo Thái Lan cho thấy cách tiếp thu và hành trì Phật giáo tùy theo mỗi nền văn hóa. Về cơ bản Phật giáo Việt Nam và Phật giáo Thái Lan khác nhau về tông phái, khác nhau về những cách truyền đạt, tổ chức giáo hội, Tăng già, cách hành lễ, sinh hoạt v.v… Nhưng nói gì thì nói, Phật giáo dù là Nam tông hay Bắc truyền thì vẫn là Phật giáo, do đó nó lại có những điểm rất tương đồng như được phân tích ở trên. Khi du nhập vào Việt Nam, Phật giáo dung hòa nhiều hơn là so với Phật giáo Theravada du nhập vào Thái Lan. Có thể nói, Phật giáo du nhập vào Việt Nam tùy theo những nhu cầu tâm linh của người Việt Nam mà biến đổi cho phù hợp đến mức hết sức mềm dẻo và cho thấy sức sống và sự hòa hợp với tinh thần của dân tộc. Trong khi đó, Phật giáo Theravada ở Thái Lan lại uốn nắn người Thái theo những quy định và khuôn phép của Phật giáo Nguyên thủy. Chính nhờ vậy mà Phật giáo Theravada ở Thái Lan về cơ bản mà nói nó đã giữ nguyên được những nét truyền thống vốn có của mình.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Viện Triết học 1991: Lịch sử Phật giáo Việt Nam (Nguyễn Tài Thư chủ biên), NXB. Khoa học Xã hội.

2. Thiền Uyển Tập Anh (Ngô Đức Thọ & Thúy Nga dịch) 1993, NXB. Văn học Hà Nội.

3. Minh Chi 1995: Phật giáo Thái Lan- Hiện tại & quá khứ, Ban Phật giáo Việt Nam & Ban Phật giáo chuyên môn (lưu hành nội bộ).

4. Minh Chi 2003: Truyền thống & Văn hóa Phật giáo Việt Nam, NXB. Tôn giáo.

 


(*). ThS. Võ Văn Thành, TT Nghiên cứu Tôn giáo, Viện KHXH vùng Nam bộ.

(**). ThS. Lê Thị Thanh Tâm, Khoa Văn hóa học, trường Đại học Văn hóa TP. HCM.

1. Viện Triết học 1991: Lịch sử Phật giáo Việt Nam, NXB. Khoa học Xã hội, trang 11.

2. Viện Triết học 1991: Lịch sử Phật giáo Việt Nam, NXB. Khoa học Xã hội, trang 22.

3. Thiền Uyển Tập Anh (Ngô Đức Thọ & Thúy Nga dịch) 1993, NXB. Văn học Hà Nội, trang 91.

4. Khi một người ngoại quốc đến Băng Cốc (Thái Lan), có hai cảnh tượng đập vào mắt: Một là cảnh tượng các chùa với ngọn bảo tháp cao vút, và hai là từ sáng sớm, đi đâu cũng gặp từng đoàn nhà sư mặc áo vàng đi khất thực, được nhân dân các phố phường chắp tay vái và cúng dường thức ăn. Người ngoại quốc gọi Thái Lan là đất nước của những áo vàng (the land of yellow robes) với 95% dân số theo đạo Phật [Minh Chi 1995: Phật giáo Thái Lan: Hiện tại & quá khứ, trang 1].

5. Thái Lan: Hiện tại & quá khứ, trang 5.

6. Minh Chi 1995: Phật giáo Thái Lan- Hiện tại & quá khứ, trang 10.

7. Vị La Hán có tên và bài kệ trong tập “Trưởng Lão Ni Kệ” (Therigatha),  nhưng Phật giáo Nam truyền xem đó là sự kiện hy hữu.

Bình luận bài viết

    Tin sinh hoạt phật sự

    Video bài giảng

    Pháp âm

    • Mẹ ơi - Thơ: Thích Phước Hạnh - Nhạc: Hoàng Lan
    • Khúc ca Tịnh Độ - Lời: Thích Phước Hạnh - Nhạc: An Sơn
    • Nụ cười da cam - Nhạc: Trần Đức Tâm - Thơ: Nguyễn Ngọc Mai
    Pháp âm khác...

    Thống kê truy cập

    • Online: 22
    • Số lượt truy cập : 2716384