CẢM NGHĨ VỀ PHẬT ĐẢN SINH
MINH NGỌC

Bức phù điêu về cảnh hạ sinh của Thái tử Siddhartha tại vườn Lumbini
vào thế kỷ thứ II sau CN thuộc trường phái Grandhara. Theo hình ảnh,
thì Thái tử được cho là sinh ra từ bên hông phải của bà Mayadevi.
Lướt đọc một vài kinh như kinh Đại Bổn (Mahapadana Sutta), kinh Đại Bát Niết-Bàn thuộc kinh Trường bộ, kinh Hy Hữu Vị Tằng Hữu Pháp (Acchariyaabbhutadhamma Sutta) thuộc kinh Trung bộ, Kinh Tăng Nhất A Hàm quyển 3 kinh Đại Bổn Duyên thuộc bộ A-hàm và kinh Phổ Diệu, kể về sự kiện đản sinh và cuộc đời các đức Phật, v.v…, chúng ta không thể nào không đặt những nghi vấn. Càng đọc chúng ta càng nghi. Nghi gì? Nghi những chuyện mà có thể sau khi đức Phật nhập diệt được các vị tiền bối đã phương tiện, hư cấu thêm vào những chi tiết linh thiêng mầu nhiệm, mang đầy màu sắc tính ngưỡng tâm linh… nhằm thần thánh hóa một vĩ nhân, một bậc Thầy của nhân loại, khiến cho mọi người tôn sùng kính ngưỡng như một đấng Thần linh giáng thế để trở thành một đại Giáo chủ của một tôn giáo sau này. Những yếu tố huyền thoại mang tính “Chưa từng có” ấy, đã tạo cho chúng ta có cảm xúc rất “đẹp”, có giá trị văn hóa “lung linh, uyền ảo” nào đó, nhưng mà “không thật” với con người thật của Phật sống trong Tam giới này.
Trong phạm vi bài viết này, xin giới hạn ở 3 chi tiết “không thật”:
1-Hoàng hậu Maya hạ sinh Thái tử Siddhartha (đức Phật) từ hông bên phải bụng của mẹ: Trong Phẩm 5 thuộc Kinh Phổ Diệu có ghi: “Bấy giờ Bồ-tát từ hông bên phải của mẹ sinh ra, bỗng nhiên thấy thân Ngài đứng trên hoa sen báu, bước đi bảy bước, cất tiếng Phạm âm, chỉ dạy về vô thường: “Ta sẽ cứu độ trên trời và dưới nhân gian, làm Bậc Tôn Quý trong hàng trời người, Bậc Vô Thượng của ba cõi, đoạn trừ khổ sinh tử. Ta sẽ làm cho tất cả chúng sinh đạt đến chỗ vô vi an lạc”. Thích, Phạm, Thiên Đế bỗng nhiên giáng hạ, đem đủ các loại nước thơm tắm rửa Bồ-tát. Chín con rồng từ trên phun nước thơm xuống tắm rửa Thánh tôn. Tắm rửa xong, thân tâm trong sạch” (bản dịch của Linh Sơn Pháp Bảo). Đây là muốn nói tránh né đức Phật không thể sinh ra từ nơi sinh môn thô tục nhơ uế của người phụ nữ. Vậy trong bụng mẹ 10 tháng, liệu không nhơ sao? Cũng đầy những máu mủ tanh hôi và bất tịnh chứ! Chưa kể mâu thuẫn với Khổ đế trong Tứ Thánh đế mà về sau này đức Phật đã tuyên bố: Sanh khổ, Bệnh khổ, Già khổ và Chết khổ. Khi sanh ra, đứa bé khổ và mẹ nó cũng khổ đó là quy luật tự nhiên! Đức Phật lúc mới sinh ra không là ngoại lệ.
2- Khi sinh ra bước đi bảy bước: Trong Kinh Hy Hữu Vị Tằng Hữu Pháp (Acchariya-abbhutadhamma Sutta) thuộc kinh Trung bộ có ghi: “Bạch Thế Tôn, con tận mặt nghe, con tận mặt ghi nhớ từ Thế Tôn: “Bồ-tát khi sanh ra, này Ananda, Ngài đứng vững, thăng bằng trên hai chân, mặt hướng phía Bắc, bước đi bảy bước, một lọng trắng được che lên. Ngài nhìn khắp cả mọi phương, lên tiếng như con ngưu vương, thốt ra lời như sau: “Ta là bậc tối thượng ở trên đời! Ta là bậc tối tôn ở trên đời! Ta là bậc cao nhất ở trên đời!” (Hoà thượng Thích Minh Châu dịch).
Mới sinh ra mà đã bước đi, là một chuyện phi thực. Sau đó thì sao? Lại giống như những đứa trẻ khác cũng từ lật, bò, trườn, chập chững... rồi bước đi, chạy nhảy... đến trưởng thành, hay là bước đi luôn?! Nếu bước đi luôn, thì mâu thuẫn trong kinh nói bà Di mẫu Ma ha Ba Xà Ba Đề đã nuôi nấng Thái tử cho đến khi trưởng thành.
3- Cất tiếng nói: Sau khi bước đi bảy bước, Thái tử Shidhata
tuyên bố dõng dạc: “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn”. Mới sinh ra không khóc, mà đã nói, thậm chí còn nói có vẻ “tự cao, ngã mạn”! Trên trời, dưới trời chỉ có Ta là tôn kính nhất. Thật là vô lý. Đức Phật luôn chú trọng tính vô ngã. Có thể nói cốt tủy của lời Phật dạy là Vô ngã. Vô ngã là Niết bàn. Vô ngã mới giải thoát. Một trong ba pháp ấn của đức Phật nói là Khổ-Vô thường-Vô ngã. Vì thế, việc hư cấu huyền thoại này, trái ngược hoàn toàn với nhân cách sống minh triết của Phật, và không làm tôn vinh thêm nét cao thượng của Ngài.
Về sau, nhiều học giả Phật giáo cố tình chủ ý giải thích lái theo chiều hướng học thuật, triết lý... nhằm bảo vệ cho tính cách siêu việt Vô ngã của Đức Phật, dường như có mang phần diễn suy gượng ép!
Trong kinh Lăng Nghiêm thuộc Hán tạng có câu rất hay: “Tri kiến lập tri tức vô minh bổn”. Trên kiến thức thấy biết nào đó, lại thiết lập sự suy diễn cái biết thêm nữa, “coi chừng” lại là gốc rễ của ngu si (vô minh).
Trong bài kinh số 2-quyển 3 thuộc Tăng Nhất A Hàm có ghi: “Nghe như vầy:
Một thời Đức Phật ở trong vườn Kỳ-đà Cấp cô độc, nước Xá-vệ. Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
- Có một con người xuất hiện ở thế gian, đem nhiều lợi ích cho người, an ổn chúng sinh, thương đời ngu tối, muốn khiến trời, người có được phước hựu. Một con người đó là ai? Đó là Đức Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Đó gọi là có một con người xuất hiện ở thế gian đem nhiều lợi ích cho người, an ổn chúng sinh, thương đời ngu tối, muốn khiến trời, người có được phước hựu.
Cho nên, này các Tỳ-kheo, nên khởi lòng cung kính đối với Như Lai. Vì vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này” (Tuệ Sĩ dịch).
Vì vậy, có thể nói, Như Lai chỉ là một con người bình thường như mọi người nhưng siêu việt hơn mọi người. Như bài kinh số 10 của quyển 3 thuộc Kinh Tăng Nhất A Hàm càng nói rõ hơn điều đó.
“Có một con người xuất hiện ở thế gian mà không có một ai bắt kịp, không thể bắt chước, đi một mình, không bạn lữ, không ai sánh ngang; chư Thiên cùng loài người không ai có thể sánh kịp; đối tín, giới, văn, thí, tuệ cũng không ai sánh kịp.
Một con người ấy là ai? Đó là Đức Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác*. Đó gọi là một con người xuất hiện ở thế gian mà không có một ai bắt kịp, không thể bắt chước, đi một mình, không bạn lữ, không ai sánh ngang; chư Thiên cùng loài người không ai có thể sánh kịp; người mà tín, giới, văn, thí, tuệ thảy đều đầy đủ.
Cho nên các Tỳ-kheo, nên khởi lòng tin cung kính đối với Phật. Vì vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này” (bản dịch của Tuệ Sĩ).
Quả thật vậy. Không ai có thể sánh được bằng Phật. Sự so sánh không phải ở những yếu tố huyền hoặc, thần thông mà chính là ở Tín, Giới, Văn (sự học hỏi) Bố thí và Trí tuệ.
Đều là kinh Phật nói, có kinh cho rằng Phật xuất hiện cõi đời như một vị thần, có kinh cho rằng Phật chỉ là con người. Điều này, mọi người chúng ta học Phật, tin Phật, tự biết!
Từ những yếu tố huyền thoại của các kinh thuộc hai hệ Pali và Hán tạng nói về việc đản sinh của đức Phật, để về sau trong dòng phát triển Phật giáo về phương Bắc Ấn Độ tức Trung Quốc, lại có các kinh nói về công đức tắm Phật. Phật không còn hiện hữu trên cõi đời thân bằng xương bằng thịt nhưng vì thương kính Phật, tưởng nhớ Phật nên phải chăng các tiền bối “phương tiện” đưa vào thành kinh, thành lời Phật thuyết?!
Thật ra, đọc lại các kinh nói về công đức tắm Phật được thu tập trong Đại Tạng Kinh Hán tạng: Số 695 - Kinh Quán Tẩy Phật Hình Tượng - Đời Tây Tấn, Sa môn Pháp Cự dịch; số 696 - Kinh Ma Ha Sát Đầu - Đời Tây Tấn, Sa môn Thánh Kiên dịch; số 697 – Kinh Dục Tượng Công Đức - Đời Đường - Pháp sư Bảo Tư Duy người Ấn Độ dịch; số 698 - Kinh Dục Phật Công Đức - Đời Đường – Sa môn Nghĩa Tịnh dịch, khá nhiều những đoạn, chi tiết mang tính khuyến thiện, phát khởi tâm lành, nhưng lại tham cầu rất nhiều, khó tránh việc mê tín cực đoan. Nếu tin Phật mà hướng theo con đường tạo phước kiểu đó, e chừng trở thành tổn hại đạo Phật!
Như kinh Quán Tẩy Phật Hình Tượng số 695 ghi: “Sau khi Phật diệt độ, thiện nam, tín nữ nên chí tâm niệm sức công đức vô lượng của Phật, tắm tượng Phật như lúc Phật còn ở đời thì được phước vô lượng không thể tính kể” hoặc “Phật bảo các đệ tử: Khó được làm thân người, khó được nghe giáo pháp. Vị trời, người nào có thể giảm bớt phần chi tiêu của vợ, con, năm loại tài vật trong nhà dùng để tắm hình tượng Phật như lúc Phật còn ở đời thì sự mong cầu được thành tựu: Mong vượt thoát thế gian, đạt đạo giải thoát, đời đời không gặp phải sự chết chóc, đều đạt được; mong cầu tinh tấn dũng mãnh như Phật Thích Ca thì có thể thành tựu; mong cầu Bồ-tát Bất thoái chuyển như Văn-thù-sư-lợi đều đạt được; mong cầu làm Chuyển luân thánh vương, tự tại giáo hóa đều đạt được; mong cầu Bích-chi-phật, A-la-hán đều đạt được; mong cầu lìa khỏi ba đường ác đều đạt được, mong cầu sinh ở cõi trời, người giàu có, sung sướng đều đạt được; mong cầu con cháu đông đúc đều đạt được; mong cầu sống lâu không bệnh đều đạt được”. Mong cầu phước báo, và chứng quả giác ngộ, v.v... phải tu nhân bố thí, trì giới… chứ không đơn giản như lời kinh các Tổ đã biên tập mà theo!
Tuy nhiên, trong các kinh vừa nêu, cái cốt tủy là ở trong 4 câu kệ phần cuối: Số 697 - Kinh Dục Tượng Công Đức và số 698 – Kinh Dục Phật Công Đức: 我今灌沐諸如來/淨智功德莊嚴聚/五濁眾生令離垢/願證如來淨法身 (Ngã kim quán mộc chư Như Lai, Tịnh trí trang nghiêm công đức tụ, ngũ trược chúng sinh linh ly cấu, Nguyện chứng Như Lai tịnh pháp thân) Tạm dịch: “Con nay tắm rửa các Như Lai, Tịnh trí trang nghiêm công đức đầy, chúng sinh năm trược lìa phiền não, nguyện chứng Như Lai pháp thân đây”.
Với ý nghĩa bài kệ trên, rõ ràng việc tắm tượng Phật chỉ là hình thức biểu trưng, phương tiện gieo duyên với Phật pháp. Mọi công đức, phước báo chỉ có được khi thực sự đoạn trừ viễn ly mọi phiền não cấu uế trong tâm. Cho nên tắm Phật là tắm Như Lai; mà Như lai là “Bất sinh bất diệt, Vô sở tùng lai diệc vô sở khứ”, là bổn lai thanh tịnh của tất cả chúng sanh, trong đó có Phật.
Cũng nhân ngày Phật đản này, ngày Lễ hội Tắm Phật, chúng tôi xin thành kính dâng lên lòng tri ân vô hạn đối với một Người đã từ bỏ mọi vinh hoa phú quý trần gian, dấn thân đi tìm con đường giác ngộ, giải thoát khổ đau cho mình và cho tất cả chúng sanh, đồng thời với mong muốn được chia sẻ đến mọi người: Hãy cùng tin tưởng đức Phật chỉ là một con người, mà là con người siêu việt, vĩ đại, chứ không phải một thiên thần hóa hiện giáng thế cứu rỗi muôn loài. Chỉ có niềm tin đức Phật là một con người, thì chúng ta mới có thể tu hành mong trở thành Phật, như Phật mà thôi.
“Tắm Phật là để tắm mình,
Vì Phật cùng với chúng sanh tánh đồng.
Tắm Phật ba gáo nước trong,
Tắm mình ba độc sạch không chẳng còn”.
Phật lịch 2570 - Dương lịch 2026


























































































































































Bình luận bài viết