CHÙA DUYÊN NINH
ĐINH VĂN VIỄN

Chùa Duyên Ninh (hay còn gọi là chùa Thủ) nằm ở làng cổ Chi Phong, phường Tây Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Chùa Duyên Ninh là ngôi chùa cổ được xây dựng từ thế kỷ X, dưới thời vua Đinh Tiên Hoàng, nằm trong khuôn viên kinh thành Hoa Lư.
Tương truyền, chùa Duyên Ninh là nơi các công chúa thời Đinh-Lê thường lui tới. Tại ngôi chùa này, vào năm 1000, công chúa nhà Tiền Lê là Lê Thị Phất Ngân (tương truyền, khi vua Lê Hoàn đi cày tịch điền ở Bàn Hải được bạc, sau đó hoàng hậu sinh ra công chúa nên vua đặt tên là Phất Ngân) và tướng công Lý Công Uẩn đã thề hẹn ở đó mà sinh ra Lý Phật Mã (sau là vua Lý Thái Tông)1. Tháng 4 năm 1028, khi vua Lý Thái Tông trở về
Trường Yên dẹp loạn Khai Quốc Vương2 (Hoàng tử Bồ, con vua Lý Thái Tổ được phong làm Khai Quốc vương vào tháng 6 năm 1013) đã đổi tên chùa thành chùa Duyên Ninh3. Cuối đời, Hoàng hậu Phất Ngân đã về đây tu hành và trông coi mộ phần thân phụ là Hoàng đế Lê Đại Hành. Tại đây, Hoàng hậu đã tác hợp cho nhiều đôi lứa thành đôi và từ đó Duyên Ninh trở thành ngôi chùa cầu duyên ở cố đô Hoa Lư4.
Một câu chuyện đáng lưu ý về vua Lý Thái Tông đó là khi vua vừa được sinh ra ở phủ Trường Yên, vào ngày 26 tháng 6 âm lịch năm Canh Tý (năm 1000) thì có nhiều điềm báo lạ. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, khi vua mới sinh, ở phủ Trường Yên có con trâu của nhà dân tự nhiên thay sừng khác, người có trâu ấy cho là điềm không lành, lấy làm lo ngại. Có người giỏi chiêm nghiệm đi qua nhà người ấy cười mà nói rằng: “Đó là điềm đổi mới thôi, can dự gì đến nhà anh” thì người ấy mới hết lo5. Sau này, ông trở thành vị vua thứ hai của nhà Lý. Và Lý Thái Tông cũng là người sùng Phật giáo. Chính ông là người cho xây dựng chùa Một Cột năm 1049. Tương truyền khi đó, ông đã nằm mơ thấy Phật Bà Quan Âm dắt ông lên tòa sen. Khi nhà vua kể lại chuyện đó với bầy tôi thì có người lại bảo đấy chưa chắc đã là điềm lành và khuyên vua làm chùa và dựng cột đá ở giữa đất, làm tòa sen đặt lên trên cột đá như đã thấy trong mộng. Rồi cho các nhà sư đi vòng lượn xung quanh tụng kinh cầu vua sống lâu. Vua Lý Thái Tông là người giỏi giang, đưa đất nước Đại Việt phát triển mạnh mẽ. Sử thần Ngô Sĩ Liên khen “Vua là người nhân triết, thông tuệ, có đại lược văn võ, lục nghệ không gì không tinh tường. Vì tài đức ấy nên có thể làm mọi việc...”.
Đến thời Pháp thuộc, chùa Duyên Ninh là một trong những ngôi chùa lớn, có nhà sư trụ trì. Theo tài liệu người Pháp lưu giữ tại Thư viện Paris (dẫn lại trong Luận án Tiến sĩ Ninh Thị Sinh tại Pháp) cho biết tới năm 1943, tại chùa Duyên Ninh có một Ni trụ trì đó là Đàm Hảo (Hào).
Tuy nhiên, ngôi chùa cổ đã bị hư hại hết. Những năm 2012-2014, ngôi chùa được xây dựng lại khang trang như hiện nay.
Hiện nay, chùa tọa lạc cạnh đường Tràng An, quay hướng Đông Bắc, gồm có Tiền đường, Thượng điện, nhà Tổ, phòng khách, trai đường, tháp...
Tam quan chùa Duyên Ninh được xây theo lối cổ, gồm 2 tầng, 8 mái với những đường nét điêu khắc tinh xảo. Ở tầng hai của cổng chính có cheo quả chuông đồng lớn.
Đi qua khoảng sân rộng là đến Tiền đường của chùa.
Tiền đường gồm 5 gian. Thượng điện gồm 3 gian. Qua Tiền đường là Thượng điện. Hai tòa này kết nối với nhau theo kiểu kiến trúc chữ Đinh.
Tại Tiền đường bài trí ban thờ, tượng hai vị Hộ pháp, Đức Ông, Đức Thánh Hiền. Đầu hồi Tiền đường còn có ban thờ, tượng Địa Tạng Vương Bồ tát và Đại hồng chung bằng đồng mới đúc.
Tại Thượng điện, hệ thống tượng được bài trí thành 5 lớp; Lớp trên cùng là ba pho tượng Tam thế Phật. Lớp thứ hai là tượng A Di Đà tam tôn. Lớp thứ ba là tượng Bồ tát Chuẩn Đề. Lớp thứ 4 là tòa Cửu Long và tượng Thổ địa, Thánh tăng ở hai bên.
Bên cạnh tòa Tam Bảo, trong khuôn viên chùa Duyên Ninh còn có phủ Mẫu, thờ Tam tòa thánh Mẫu, nhà Tổ thờ Bồ Đề Đạt Ma và các vị tổ sư của chùa Duyên Ninh.
Cạnh chùa còn có hồ nước lớn, giữa hồ, mới đây được bài trí tượng Quan Thế Âm Bồ tát đang cầm bình tịnh thủy.
Bên cạnh hồ nước, ở phía ngoài, gần Tam quan, còn có tấm bia đá lớn mới được tạc trên thân rùa đá. Bia được tạo tác năm 2018, hai mặt, khắc chữ Quốc ngữ. Một mặt ghi rõ: “Duyên Ninh cổ tự. Chùa Duyên Ninh hay còn gọi là chùa Thủ, được xem là một trong những ngôi chùa cổ nhất ở Việt Nam. Tại đây, công chúa Lê Thị Phất Ngân (con vua Lê Đại Hành) và tướng công Lý Công Uẩn đã hẹn thề mà sinh ra vua Lý Thái Tông vào năm 1000. Cuối đời, Hoàng hậu Phất Ngân đã về đây tu hành và tác hợp cho nhiều đôi lứa nên duyên vợ chồng. Từ đó tới nay, Duyên Ninh trở thành ngôi chùa cầu duyên và cầu tự nổi tiếng. Mặt 2 khắc bài thơ ca ngợi cảnh đẹp ngôi chùa:
“Duyên Ninh cổ tự ngàn năm
Có ngày đôi lứa xa xăm tìm về
Đường thưa rợp bóng Bồ đề
Đất linh kết tóc phu thê một đời”.
Chùa Duyên Ninh ngoài thờ Phật còn thờ rất nhiều chư vị thần tiên, điển hình như thờ Ông Tơ - Bà Nguyệt, Kim Hoa Thánh Mẫu (vị nữ thần cai quản việc sinh nở, theo tín ngưỡng dân gian),...
Như vậy, chùa Duyên Ninh là một di tích lịch sử quan trọng của thời Đinh, Tiền Lê và hơn nữa lại gắn liền với mối duyên tình giữa Lý Thái Tổ và công chúa Lê Thị Phất Ngân để rồi sinh ra vị vua sáng Lý Thái Tông. Chùa Duyên Ninh là ngôi chùa gắn với tín ngưỡng cầu duyên của cư dân địa phương. Đúng như câu mà cư dân thường nói:
“Cầu phúc thì đến Cổ Am,
Cầu lộc vào Kim Ngân,
Cầu danh vào Nhất Trụ,
Cầu thọ vào Bà Ngô,
Cầu tài vào Am Tiên, còn cầu duyên thì vào Duyên Ninh”6.
Chùa Duyên Ninh gắn liền với việc cầu duyên, nên chùa còn được dân gian gọi là chùa Cầu Duyên.
Tuy nhiên, cần lưu ý là chữ “duyên” là một trong những thuật ngữ quan trọng của Phật giáo, thường đi kèm với “nhân duyên”. Trong cụm từ “nhân-duyên-quả”, “nhân” là nguyên nhân chính, “duyên” là những tác nhân phụ, “quả” là kết quả của “nhân” và “duyên” khi đã hội đủ hay đã chín muồi. Không chỉ dừng lại ở đó, nghĩa là không chỉ một tuyến “nhân-duyên-quả” đơn thuần mà thực tế, “nhân” chính của tuyến này lại là “duyên” và “quả” của tuyến khác, “duyên” của tuyến này lại là “nhân” và “quả” của tuyến khác, “quả” của tuyến này lại là “nhân” và “duyên” của tuyến khác nữa. Cứ thế, các chuỗi “nhân-duyên-quả” nương tựa vào nhau, tương tác lẫn nhau, hỗ trợ cho nhau điệp điệp trùng trùng để hình thành muôn hình vạn trạng trong cuộc sống này. Nói “nhân duyên sinh” là đề cập đến sự sinh khởi (bao hàm cả trụ-hình thành, dị-thay đổi, diệt-đoạn diệt) của mọi sự vật hiện tượng trong tự nhiên theo tiến trình “nhân-duyên-quả”. Từ vũ trụ bao la cho đến cát bụi, nguyên tử; từ các hiện tượng tự nhiên cho đến những hiện tượng xã hội... tất cả đều do nhân duyên mà sinh khởi và đoạn diệt. Theo quan niệm của Phật giáo, giữa người với người luôn tồn tại một mối nhân duyên từ kiếp trước. Vì vậy, trong cuộc sống này, khi ta gặp và yêu thương một ai đó đều có nguyên do. Hai người có thể gặp và trở thành vợ chồng của nhau ở kiếp này là do duyên tiền định ở các kiếp trước trong vòng xoay luân hồi bất tận. Để có nhân duyên vợ chồng ở kiếp này phải được hình thành trên cơ sở nhiều liên kết nhân quả từ tiền kiếp. Trong cuộc sống, nhiều người cũng hay nói câu: “Thôi thì cái duyên cái số”, hay “Duyên phận đã định rồi”... Vì vậy, cầu duyên ở đây ngoài ý nghĩa cầu cho duyên phận, duyên tình, duyên số,... được như ý thì còn có ý nghĩa sâu xa hơn đó là hàm chứa ý nghĩa nhắc nhở việc sống phải có trước, có sau, sống tạo “nhân duyên” tốt để được nhận “quả” tốt.
1. Vua Lý Thái Tổ và Hoàng hậu Lê Thị Phất Ngân còn có một người con khác là Lý Nhật Quang. Lý Nhật Quang được anh và cũng là vua Lý Thái Tông cắt cử trị nhậm vùng đất Nghệ An. Thời gian sống ở vùng đất này, ông đã cho dựng đền Bạch Mã (xã Liên Thành, huyện Yên Thành ngày nay) để thờ vọng cha mẹ cùng bà ngoại Dương Vân Nga và sau là anh trai (vua Lý Thái Tông) của mình. Lý Nhật Quang làm quan ở vùng đất Nghệ An rất có uy tín. Khi ông mất được nhân dân xứ Nghệ tôn làm thần, thờ ở đền Quả Sơn. Dân xứ Nghệ đến nay vẫn có câu: Nhất Cờn, nhì Quả, tam Bạch Mã, tứ Chiêu Trưng, trong đó đền Quả Sơn là nơi đứng thứ nhì về sự linh thiêng.
2. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê (1998), Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, dịch và chú thích Ngô Đức Thọ, hiệu đính: Hà Văn Tấn, Nxb Giáo dục, Hà Nội, trang 251.
3. Chùa Duyên Ninh - ngôi chùa cầu duyên linh thiêng tại Ninh Bình; https://dulichninhbinh.com.vn/item/1424
4. Chùa Duyên Ninh - ngôi chùa cầu duyên linh thiêng tại Ninh Bình; https://dulichninhbinh.com.vn/item/1424
5. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê (1998), Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, dịch và chú thích Ngô Đức Thọ, hiệu đính: Hà Văn Tấn, Nxb Giáo dục, Hà Nội, trang 253.
6. Tức các chùa: chùa Cổ Am, chùa Kim Ngân, chùa Nhất Trụ, chùa Bà Ngô, chùa Am Tiên, chùa Duyên Ninh.


























































































































































Bình luận bài viết