Thông tin

CỬA TỬ

 

LÊ HẢI ĐĂNG

 

 

Các tôn giáo nói chung đều băn khoăn đi tìm lời giải cho cái chết, đồng thời phác họa thế giới ở sau cái chết. Tùy thuộc vào nội dung, ý niệm, những trải nghiệm cá thể được tổng kết thành cơ sở lý thuyết ở từng tôn giáo mà “Một cõi đi về” của con người đã sớm được định hướng ngay từ lúc còn sống.

Chết là một trong những nỗi ám ảnh suốt cuộc đời con người. Cùng với đau bệnh và mặc cảm tội lỗi, cái chết tạo nên bộ ba trong bi kịch của thế giới loài người. Đây cũng là cửa kiểm soát an ninh nghiêm ngặt nhất. Tại đây, chúng ta không chỉ phải để lại hành lý, tư trang mà ngay cả thể xác cũng phải bỏ lại. Câu chuyện “Xẻ thịt cho diều hâu ăn” kể về tiền kiếp của Đức Phật là một ví dụ sống động minh chứng cho điều này.

“Một lần, Đế Thích đi ra ngoài, đúng lúc gặp một con diều hâu đuổi bắt con bồ câu tội nghiệp.

Bồ câu nói với diều hâu: Bác tha cho tôi đi. Bây giờ, bác đang tìm thức ăn, tha cho tôi còn có con sau mà. Hiện giờ, tôi đang chạy trốn, mạng của tôi chỉ có một thôi.

Diều hâu nói: Ta chưa từng biết lời lẽ như mi nói! Nhưng, ta đang đói quá, không ăn mi, ta chẳng thể nào sống nổi. Mọi người trên thế gian này, sống được đều chẳng hề dễ dàng, không bị ép vào đường cùng sẽ chẳng đuổi riết thế này đâu.

Thích Tôn nghe xong bèn mở lòng từ bi, giương tay nắm lấy bồ câu, giấu vào trong bụng.

Thấy vậy, diều hâu hết sức giận dữ, nhưng chi biết nói lý với Thích Tôn: Thích Tôn đại từ đại bi, cứu mạng bồ câu, chẳng lẽ lại nhẫn tâm để diều hâu này chết đói?

Thích Tôn nói: Ta chẳng nỡ để ngươi làm hại bồ câu vô tội, cũng không muốn ngươi dửng dưng chết đói. Có đường mà ta không vào địa ngục, ai vào đây?

Vì thế, Thích Tôn lấy ra một cái cân tiểu ly đặt bồ câu một bên, bên kia đặt miếng thịt vừa cắt từ cơ thể của mình.

Bồ câu trông nhỏ bé vậy, nhưng kỳ lạ thay, bất kể Thích Tôn cắt đến đâu, bao nhiêu đều không bằng trọng lượng của nó.

Khi Thích Tôn cắt nốt miếng thịt cuối cùng trên cơ thể, cán cân mới thăng bằng.

Bấy giờ, trời mây chuyển sắc và Đức Phật đã giáng trần”.

Câu chuyện trên, thể hiện qua lăng kính thị giác phơi bày nhan nhản trên các tác phẩm điêu khắc trong công trình kiến trúc hang động Đôn Hoàng, tỉnh Cam Túc, Trung Quốc.

Dưới góc độ tín ngưỡng, thông điệp cùng ý nghĩa câu chuyện chuyển tải qua hình ảnh hay nội dung văn học thực sự khiến người ta sửng sốt. Và mục đích giải thoát tối hậu đã đặt ra một cách trực tiếp, bức thiết, đằng sau ẩn chứa giá trị bình đẳng của sự sống.

Trong nhiều phiên bản có liên quan đến câu chuyện xuất hiện thêm tình tiết mặc cả, trao đổi giữa nhà vua và diều hâu. Nhằm giữ lấy mạng sống cho bồ câu, nhà vua sẵn sàng trao quyền lựa chọn cho diều hâu. Theo đó, nhà vua cho diều hâu ngai vàng, lâu đài, cung điện, của cải... những thứ người đời nói chung đều ngưỡng vọng. Nhưng, diều hâu đều chẳng cần. Diều hâu chao liệng trên bầu trời, không cần đến ngai vàng, cung điện hay lâu đài. Vốn là loài bay nhảy, diều hâu cũng không thể mang theo vàng bạc, châu báu, cung tần, mỹ nữ. Cái mà diều hâu cần lúc đó chỉ đơn giản là mạng sống của chim bồ câu nhằm duy trì mạng sống của mình. Đó chính là một đòi hỏi chí mạng, đặt nhà vua vào tình thế phải lựa chọn dứt khoát, đồng thời hé lộ ý nghĩa cốt lõi của tinh thần giải thoát. Cuộc trao đổi ngang giá cuối cùng đã diễn ra trước sự chứng kiến của những người trong hoàng cung và sự trút bỏ hoàn toàn, kể cả thể xác của nhà vua đã đưa ngài đến bến bờ giác ngộ.

Ban đầu, nhà vua tưởng rằng, bồ câu bé nhỏ, chắc chỉ bằng một miếng thịt trên cơ thể. Song, sức nặng của nó chẳng kém gì nhà vua. Nói cách khác, xét về mặt giá trị, mạng sống, cơ thể của chim bồ câu cũng ngang bằng long thể của nhà vua. Cán cân giá trị thực sự cân bằng khi nhà vua bỏ lại sinh mạng. Rõ ràng, dù là hoàng đế hay một con chim bồ câu bé nhỏ đều bình đẳng với nhau trước sự sống. Ngoài ra, cũng phải thấy rằng, mọi giá trị trên thế gian đều mang tính tương đối. Ngai vàng, của cải, địa vị, danh vọng đối với nhiều người quan trọng, song chẳng là gì đối với loài diều hâu, chỉ có sự bình đẳng về sinh mạng có thể nói là tuyệt đối. Và ý nghĩa giải thoát cũng nằm trọn vẹn ở đó. Sự giải thoát, phá chấp chỉ có thể thực thi khi chúng ta bỏ đi sự chấp thủ vào thể xác. Tìm kiếm ý nghĩa giác ngộ, giải thoát không thể không bỏ lại thể xác, xét cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Nhưng, nếu bỏ thể xác, thứ còn lại là gì?

Cái chết hiểu theo nghĩa thế tục đa số trường hợp nhằm chỉ cái chết sau cùng. Trên thực tế, mỗi giây phút, thậm chí sát na trôi qua, chúng ta không chỉ tiến đến gần cái chết sau cùng mà đã đi qua hàng loạt cái chết không hồi cứu vãn. Người Nhật có câu thành ngữ: “Một tấc thời gian một tấc vàng. Tấc vàng không mua nổi tấc thời gian”. Thời gian quả thật ẩn chứa những bí ẩn về sự tồn tại. Bản chất của thời gian không hiện hữu, ẩn chứa cả bí ẩn của bản thân. Nghĩa là thời gian cũng bí ẩn nốt. Bởi vậy, ta không thể đánh đổi bất cứ thứ gì đổi lấy thời gian. Trong bộ phim Shrek, đoạt giải thưởng Oscar vào năm 2002, nhân vật chính Chằn tinh đã bị gã phù thủy đánh lừa khi ký vào bản hợp đồng để đổi quyền lực một ngày đã mất trong quá khứ. Chằn tinh tưởng mình khôn ngoan, sẵn sàng đánh đổi một ngày trong quá khứ cho phù thủy. Sau khi bản hợp đồng có hiệu lực, Chằn tinh mất hết tất cả. Vì, một ngày trong quá khứ dù đã qua, nhưng thiếu một ngày quá khứ thì hiện tại, tương lai đều biến mất. Thời gian vừa mang tính liên tục, vừa tự tạo thành chuỗi liên kết, không một mắt xích nào bị tháo rời. Thời gian cũng là thứ vô hình, vô ảnh, vô thỉ, vô chung, như Đức Phật nói. Chính vì vậy, để vượt qua cửa tử, con người phải đoạn trừ tận gốc những thứ hữu hình, hữu ảnh, hữu thỉ, hữu chung, nhắm thẳng vào hiện hữu tại thế.

Câu chuyện Đế Thích “Xẻ thịt cho diều hâu ăn” cho thấy những khía cạnh đa dạng xoay quanh tư tưởng giải thoát, xuất hiện với tần suất cao trên các tác phẩm điêu khắc hang động Đôn Hoàng, đồng thời cho thấy tư tưởng xuất thế sâu sắc của Đức Thế Tôn.

Các tôn giáo nói chung đều băn khoăn đi tìm lời giải cho cái chết, đồng thời phác họa thế giới ở sau cái chết. Tùy thuộc vào nội dung, ý niệm, những trải nghiệm cá thể được tổng kết thành cơ sở lý thuyết ở từng tôn giáo mà “Một cõi đi về” của con người đã sớm được định hướng ngay từ lúc còn sống. Trong tiểu thuyết “Tây du ký” của nhà văn Trung Quốc Ngô Thừa Ân, nhân vật Tôn Ngộ Không khi còn ở núi Hoa Quả quyết tâm lên đường tầm sư học đạo với mục đích duy nhất là “Trường sinh bất tử”. Vốn xuất thân từ tảng đá “vô tri”, Mỹ hầu vương đã sớm phát hiện “tánh không” trong sự tồn tại. Nhờ vậy, Tôn Ngộ Không có thể vượt ra ngoài “Cửa tử” nhằm đạt cảnh giới bất tử. Theo truyền thuyết, Lý Thiết Quài - một trong tám vị tiên (Bát tiên) cũng luyện được thuật du hồn, có khả năng đi xuyên giữa hai Cửa sinh – tử. Ông là một trong những người sớm nhận được chiếc visa hạng sang, vãng lai nhiều lần qua Cửa tử. Hồi ấy, có thể Lý Thiết Quài đã sử dụng tấm Hộ chiếu ngoại giao, hưởng quy chế miễn kiểm qua cửa kiểm soát an ninh nghiêm ngặt vào bậc nhất của Diêm Vương. Thế nhưng, quy chế ưu việt này vẫn tiềm ẩn rủi ro. Trong một lần du hồn dài (10) ngày, Lý Thiết Quài dặn dò đệ tử Dương Tử trông xác thầy, đến ngày thứ 6, vì nhà họ Dương có việc gấp, mẹ bệnh nặng, nên vội vã trở về. Trong lúc Dương Tử đi vắng, xác Lý Thiết Quài không người trông coi đã bị người khác mang đi thiêu hủy. Cuối cùng, khi hồn Lý Thiết Quài trở về đã không tìm thấy xác nương tựa đành phải nhập xác một gã ăn mày mới chết bên lề đường tạm trú. Bởi vậy, trong tám vị tiên mới có một người bộ dạng giống như gã ăn mày là Lý Thiết Quài.

Nhìn nhận hiện tượng chết dưới góc độ khách quan, cái xác sau khi hết thời hạn sử dụng cần tới biện pháp thanh lý. Và Cửa tử chính là quan ải nằm ở thế giới trần gian, thuộc sở hữu loài người. Bất cứ cá thể nào vượt qua Cửa tử đều phải bỏ lại thể xác, cho dù linh hồn, hương linh, vong hồn, trung ấm... có trôi dạt về miền Cực lạc, Thiên đàng hay Địa ngục... Nhằm hoàn tất thủ tục về văn hóa, từ thổ táng, hỏa táng, thủy táng cho đến điếu táng (treo quan tài lên vách đá cheo leo)... dẫn tới câu chuyện của hiếu, lễ, nghĩa, trách nhiệm, tiền bạc, nhà hòm, công ty mai táng... Thanh lý xác chết đã hết hạn sử dụng đòi hỏi huy động nhiều nguồn nhân lực. Theo tổng kết của ngành Y tế dự phòng, mỗi người nằm xuống trung bình ảnh hưởng ít nhất đến 16 người.

Mấy năm trước, phong trào rèn luyện Kỹ năng sống phát triển rầm rộ. Kỹ năng sống vốn tồn tại trong cuộc sống, nhưng vì nhiều lý do, sự ỷ lại vào công tác bảo trợ của hoạt động dịch vụ, phương tiện đa năng, cộng hưởng với một nền giáo dục ôm đồm, lãng phí, nên Kỹ năng sống bị đẩy ra ngoài cơ sở giáo dục trở thành hoạt động ngoại khóa (chứ không phải nội khóa). Song, bên cạnh kỹ năng sống, Kỹ năng chết cũng vô cùng quan trọng dường như bị lãng quên. Ngày nhỏ xem bộ phim về cuộc đời Đạt Ma, Ấn Độ, tôi vô cùng khâm phục màn “nhập diệt” ở tư thế Kiết già của vị tổ sư Thiền tông. Trong lịch sử từng ghi nhận nhiều cao tăng đắc pháp tịch diệt ở tư thế Kiết già, như Thiền sư Đạo Duyệt, chùa Kim Sơn thời Bắc Tống, Lạt ma Dashi Dorzho Itighilov, Mông Cổ, Thiền sư Vũ Khắc Minh, Vũ Khắc Trường, chùa Đậu, xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây, Việt Nam... Điều đó, chứng tỏ các vị thiền sư ấy đã chuẩn bị chu đáo cho chuyến “Khởi hành”. Quan trọng hơn, họ tu tập đến cảnh giới có thể thực hành Kỹ năng chết.

Con người ngày nay, đa số chết vì bệnh, chết trong đau đớn, thể xác giày vò, giục rã thân xác trước khi bộ não ngừng hoạt động. Chết ở tư thế Kiết già, chứng tỏ người ra đi vẫn chưa bị hủy hoại cơ quan vận động. Não bộ - cơ quan thần kinh trung ương là bộ phận ra phán quyết cuối cùng cho toàn bộ máy ngừng hoạt động, chứ không giống như người bị tai biến, tai nạn, nhồi máu cơ tim, đứt mạch máu não... kéo theo sự hủy hoại các cơ quan, từ đó dẫn tới tình trạng bán thân bất toại, mất khả năng ngôn ngữ, vận động... thậm chí sống thần kinh thực vật. Con người hiện đại bên cạnh tật chứng mắc phải trước khi bước qua Cửa tử, còn mắc thêm thói tham sống, sợ chết. Ngày xưa, không hiếm gia đình mua sẵn cỗ quan tài phòng khi nhà chẳng may có người chết. Đó là gói “bảo hiểm nhân thọ” bằng hiện vật mà sau này chuyển hóa thành tiền bạc, hoạt động dịch vụ... Ngay cả những vị vua thời phong kiến ngự trên đỉnh cao quyền lực, mỗi khi vi hành, chiếc xe cuối cùng trong đoàn xa giá đều có mang theo cỗ quan tài. Nó nhắc nhở đức vua về những giới hạn không thể vượt qua của cả quyền lực và sự sống. Bởi vậy, bất chấp chúng ta có ham sống, sợ chết đến đâu, như thế nào, cái chết vẫn trở về ám ảnh.

Nhà phân tâm học người Áo Freud từng viết: “Con người sinh ra từ một mớ lùng bùng, lớn lên trong ảo mộng và chết khi chạm phải hiện thực”. Hiện thực của cái chết giúp con người thu hẹp phạm vi quyền lực và trách nhiệm của mình vào những khả năng có thể xảy ra trong khoảng thời gian hữu hạn dài suốt một kiếp người. Cho dù y học hiện đại đã phát triển, có thể kéo dài tuổi thọ con người, trợ tử giúp người bệnh thoát khỏi sự hành hạ, giày vò thể xác, song, cũng giống như câu chuyện cá chép vượt Vũ môn, nó có giúp chúng ta chuyển kiếp một cách thành công hay không vẫn là một thách thức. Và công phu này không thể ỷ lại vào văn minh vật chất, nói rộng ra, nó nằm trong mối quan hệ ba chiều: chiều dọc với vũ trụ, chiều ngang với xã hội, văn hóa và chiều hướng tâm với chính bản thân nhằm chuẩn bị cho chuyến Khởi hành quan trọng ra đi không hẹn ngày trở lại.

Bình luận bài viết

    Tin sinh hoạt phật sự

    Video bài giảng

    Pháp âm

    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 113)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Tú Trinh
    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 112)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Tú Trinh
    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 111)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Tú Trinh
    Pháp âm khác >>

    Thống kê truy cập

    • Online: 49
    • Số lượt truy cập : 10789461