Thông tin

HÀNH TRÌNH TỪ CHỮ NHO ĐẾN CHỮ NÔM

 

NGUYỄN HẢI HOÀNH

 

 

Bài “Vì sao không thể phiên âm hóa được chữ Hán” trên “Từ Quang”, tập 55, có viết đại ý: Tuy chữ Hán không thể phiên âm hóa, Latin hóa được nhưng chữ Nôm tạo ra trên nền tảng chữ Hán, sử dụng nhiều chữ Hán nguyên gốc, lại đã được phiên âm hóa, Latin hóa thành công, làm ra chữ Quốc ngữ, ghi được 100% tiếng Việt, là chữ viết lý tưởng của dân tộc ta. Tuy mới chính thức sử dụng hơn 100 năm, chữ Quốc ngữ đã giải phóng trí tuệ của người Việt, chắp cánh cho nền văn minh Việt bay lên, nhanh chóng theo kịp nền văn minh thế giới.

Nhưng trước khi có chữ Quốc ngữ, dân tộc ta từng sử dụng chữ Nho và chữ Nôm trong khoảng 2.000 năm. Hai loại chữ này ra đời trong quá trình tổ tiên người Việt tìm cách mượn chữ Hán để làm chữ viết ghi tiếng dân tộc mình. Vì vậy, để tìm hiểu cuộc đấu tranh giành độc lập tự chủ về ngôn ngữ của tổ tiên ta, mọi người cần tìm hiểu về chữ Nho và chữ Nôm.

Như đã biết, Hán ngữ và Việt ngữ đều là ngôn ngữ đơn lập (monosyllabic, còn gọi là đơn âm tiết, mỗi tiếng một âm tiết) và có thanh điệu – sự giống nhau này đã tạo thuận lợi cho tổ tiên ta mượn dùng chữ Hán. Tuy nhiên hai ngôn ngữ này lại có những điểm rất khác nhau.

Việt ngữ được trời cho ưu điểm rất giàu ngữ âm, lại có tới 6 thanh điệu (tiếng Hán có 4); tổng cộng tiếng ta có hơn 4.000 âm tiết cơ bản (còn gọi là “khuôn âm tiết”) và ngót 20.000 âm tiết có thanh điệu (tức “âm đọc”). Hán ngữ tiếng Phổ thông chỉ có khoảng 400 khuôn âm tiết và 1.300 âm đọc; nghĩa là xét về hai chỉ tiêu này, tiếng Việt giàu gấp 10 và 15 lần tiếng Hán1. Do ngữ âm cực kỳ phong phú nên tiếng ta có rất ít từ đồng âm khác nghĩa, nhờ đó thích hợp dùng chữ biểu âm (phonograph). Hán ngữ đã đơn lập lại nghèo âm tiết, nên có quá nhiều từ đồng âm khác nghĩa, do đó không thể dùng chữ biểu âm mà chỉ dùng được chữ biểu ý (ideograph). Biểu ý là đặc trưng độc đáo nhất của chữ Hán; hiện nay chữ Hán là chữ viết quốc gia-dân tộc duy nhất biểu ý.

Do có tính biểu ý, nên chữ Hán cho phép đọc nó bằng nhiều thứ tiếng. Kết quả, chữ Hán trở thành loại chữ viết duy nhất mà các ngôn ngữ khác ngữ hệ có thể đọc bằng tiếng dân tộc mình, qua đó có thể mượn về làm chữ viết của họ. Người Việt đọc chữ Hán bằng tiếng Việt, người Hàn bằng tiếng Hàn, người Nhật bằng tiếng Nhật. Tiếng Việt, tiếng Hán cùng thuộc loại đơn âm tiết, cho nên ta dễ đọc và dễ mượn chữ Hán. Tiếng Hàn, tiếng Nhật thuộc loại ngôn ngữ đa âm tiết (polysyllabic, còn gọi là đa lập) và chắp dính (agglutinative), khác xa tiếng Hán. Vì thế, cách mượn chữ Hán của người Nhật và người Hàn có nhiều điểm khác với người Việt. Có lẽ vì tiếng Việt quá giàu ngữ âm mà tổ tiên ta rất khó tạo được chữ viết cho tiếng mình. Thời kỳ không có chữ viết – tức “thời tiền sử” quá dài, đó là thời kỳ mông muội, chưa hình thành nhà nước và không có ghi chép để lại cho đời sau biết. Khi Trung Quốc thôn tính nước ta (khoảng đầu thế kỷ II trước CN), người Việt mới chính thức tiếp xúc nền văn hóa Trung Hoa mà chữ Hán là đại diện chủ yếu.

Nhằm đồng hóa dân tộc ta, chính quyền chiếm đóng cưỡng bức người Việt học chữ Hán suốt hơn 1.000 năm Bắc thuộc. Sau khi tiếp xúc chữ Hán, tổ tiên ta thấy được tác dụng vô cùng hữu ích của chữ viết, họ đã cố gắng học và tìm cách mượn thứ chữ này về dùng. Nhưng chữ Hán rất khó học, bởi lẽ người Trung Quốc mỗi vùng đọc nó bằng các thứ tiếng địa phương có âm đọc khác nhau, người học không biết nên đọc thế nào; hơn nữa, người Việt rất khó phát âm được các âm tiếng Hán. Sau nhiều năm nghiên cứu, thử nghiệm, tổ tiên ta đã nghĩ ra cách mượn mặt chữ Hán (để lấy ý nghĩa) nhưng gán cho nó một cách phát âm hoàn toàn Việt hóa – gọi là âm Hán-Việt (Sino-Vietnamese), thực hiện Việt hóa phần ngữ âm của chữ Hán, qua đó thành công mượn được chữ Hán làm chữ viết của mình. Mỗi chữ Hán được đọc bằng một âm Hán-Việt. Điều này là hợp lý và cần thiết bởi lẽ khi đọc chữ (hoặc từ) của bất cứ ngôn ngữ nào, để nhận diện chữ (từ) được đọc, bộ não phải kích hoạt âm thanh tương ứng của chữ đó. Do chữ Hán không biểu âm, nếu không học tiếng Hán thì không đọc được chữ. Âm Hán-Việt chính là âm thanh để người Việt đọc và nhận diện chữ Hán.

Kết quả là trong thời Bắc thuộc, người Việt chỉ đọc chữ Hán bằng âm Hán-Việt mà không đọc bằng âm Hán – nghĩa là không nói tiếng Hán, nhờ đó giữ được nguyên vẹn tiếng mẹ đẻ, khiến người Hán không thể đồng hóa được người Việt. Học giả Phạm Quỳnh nói “Tiếng ta còn, nước ta còn”. Nhờ có âm Hán-Việt mà tổ tiên ta giữ được nước ta, dân tộc ta tồn tại tới nay.

Như vậy, tổ tiên ta đã thành công biến chữ Hán thành ký tự ghi âm Hán-Việt, hình thành thứ chữ Việt gốc Hán, về sau được dân ta gọi là chữ Nho, có thể coi là chữ Hán-Việt, là chữ Hán được Việt hóa phần ngữ âm, chữ Hán phiên âm bằng âm Việt. Từ đó, nước ta có chữ viết, dù là chữ đi mượn. Người Trung Quốc xem hiểu chữ Nho, nhưng nghe đọc thì không hiểu.

Tiếng Hán khó phát âm, khi học chữ Nho, do không học tiếng Hán nên sẽ bớt được một khó khăn lớn. Vả lại, toàn bộ quá trình giảng dạy đều dùng tiếng mẹ đẻ cho nên học chữ Nho dễ hơn. Nhờ vậy, âm Hán-Việt đã tạo thuận lợi giúp tổ tiên ta học và dùng được chữ Hán ở trình độ khá phổ cập. Không ít người Việt giỏi chữ Nho có thể đối thoại bút đàm ngang hàng với quan chức Trung Quốc mà vẫn giữ được sự khác biệt về văn hóa. Như Khương Công Phụ (731-805), người Thanh Hóa, đỗ trạng nguyên chữ Nho ở ta, sang Trung Quốc lại đỗ trạng nguyên chữ Hán, về sau được vua Đường phong chức tương đương Tể tướng.

Vì mỗi chữ Hán được đọc bằng một âm Hán-Việt, mà Hán ngữ có rất nhiều chữ Hán nên tương ứng sinh ra nhiều âm Hán- Việt; làm tăng đáng kể số lượng âm tiếng Việt mà vẫn giữ được bản sắc dân tộc. Hơn nữa, trong khi người Trung Quốc đọc chữ Hán bằng nhiều phương ngữ khác nhau, thì chữ Hán người Việt mượn về ấy lại được dân ta đọc bằng một âm thống nhất trong cả nước. Điều đó, cũng góp phần chuẩn hóa ngữ âm tiếng Việt.

Chữ Hán cổ, chủ yếu biểu ý, mỗi chữ là một đơn từ (word) biểu thị một ý nghĩa nhất định, nhưng do không biểu âm nên có thể đọc chữ bằng các âm khác nhau. Vì thế, chữ Hán trở thành loại chữ viết duy nhất được các ngôn ngữ khác ngữ hệ mượn về làm chữ viết của mình. Muốn vậy, họ phải tìm cách đọc được chữ Hán. Người Hàn cũng đọc chữ Hán bằng âm Hán-Hàn (Sino-Korean), nhưng do tiếng Hàn nghèo âm lại không có thanh điệu nên âm Hán-Hàn cũng rất ít. Do âm Hán-Việt rất đa dạng và có hệ thống thanh điệu phong phú (6 thanh), hiện tượng đồng âm gây nhầm lẫn trong tiếng Việt không nghiêm trọng như trong tiếng Hàn.

Rốt cuộc, chữ Hán do người Hán đưa vào nhằm đồng hóa ngôn ngữ Việt đã không đạt mục đích ấy mà còn bị Việt hóa phần ngữ âm, biến thành chữ Nho phục vụ người Việt Nam. Nhờ biết chữ Hán, dân tộc ta tiếp thu được văn minh Trung Hoa, bắt tay xây dựng và phát triển nền văn minh Việt Nam, đưa nước ta ra khỏi thời tiền sử lạc hậu.

Do tiếp thu được kho chữ Hán, nên số lượng chữ Nho rất lớn nhưng chữ Nho chỉ ghi được các âm Hán-Việt, tức chỉ ghi được một phần tiếng Việt. Vì thế, chữ Nho chỉ được giới quan chức, học giả dùng trong các lĩnh vực hành chính, đối ngoại, giáo dục, thi cử, làm văn thơ theo kiểu Trung Quốc. Chữ Nho chủ yếu chỉ dùng để viết và đọc (theo âm Hán-Việt), chứ không dùng để nói như một ngôn ngữ giao tiếp hằng ngày. Các văn bản chữ Nho thường viết dưới dạng Văn ngôn, tức văn Hán cổ (gọi là “tử ngữ”) rất ngắn gọn, người bình dân nghe không hiểu.

Vì bản chất là chữ Hán, nên chữ Nho cũng có tính chất biểu ý. Ngày nay, người ta không nói chữ Hán là chữ biểu ý thuần túy mà nói nó là chữ ngữ tố, bởi lẽ mỗi chữ Hán ghi một ngữ tố (morpheme, là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất kết hợp được hai yếu tố Âm và Nghĩa) của Hán ngữ.

Ngôn ngữ nào cũng gồm 3 yếu tố chính là từ vựng (words), ngữ âm và ngữ pháp. Tiếng Việt chủ yếu gồm từ thuần Việt và từ gốc Hán (tức từ Hán-Việt). Từ thuần Việt xuất hiện cùng với người Việt nguyên thủy, là những từ dùng để giao tiếp, xưng hô (mày, tao, nó), để gọi những sự vật gần gũi con người nhất, như các bộ phận cơ thể (chân, tay, mặt), người thân (cha, mẹ, em), tình cảm (vui, buồn, giận), hành vi thiết thân (ăn, uống, ngủ), gia súc (trâu, bò, gà, vịt), môi trường xung quanh (trời, đất, trăng, sao), v.v… Từ thuần Việt thuộc loại “từ cơ bản”, có tính dân dã, mộc mạc, nó xuất hiện sớm nhất, số lượng lớn và ít biến đổi. Từ Hán-Việt ra đời muộn hơn, khi Việt Nam tiếp xúc nền văn hóa Hán, thuộc loại “từ văn hóa”, có tính chính thức, tính học thuật, trang trọng. Chữ Nho không thể hiện được các từ thuần Việt, chỉ viết được các từ Hán-Việt và chỉ được giới quan chức, học giả dùng trong phạm vi hẹp. Đặc biệt, từ Hán-Việt tạo khả năng phiên dịch được hầu như toàn bộ từ ngữ ngoại văn: Chỉ cần xem từ ngữ đó được người Trung Quốc hoặc Nhật dịch thành chữ Hán ra sao rồi đọc nó bằng âm Hán-Việt là được kết quả cần tìm. Nhờ đó, tiếng Việt dễ hòa nhập với nền văn minh hiện đại.

Do không ghi được từ thuần Việt, nên chữ Nho không ghi được ngôn ngữ vô cùng phong phú của người Việt bình dân, không thể hiện được tâm tư, tình cảm của họ. Để khắc phục nhược điểm trên, từ cuối thời Bắc thuộc, giới trí thức yêu nước người Việt đã tìm cách dựa trên nền tảng chữ Nho làm ra một loại chữ viết có thể ghi được toàn bộ tiếng mẹ đẻ. Sáng kiến này xuất hiện rất sớm, nhưng chỉ sau khi nước ta giành độc lập mới có điều kiện đẩy mạnh nghiên cứu, cuối cùng làm ra một phương án chữ viết bước đầu đạt yêu cầu nói trên, về sau gọi là chữ Nôm. Loại chữ này được sử dụng từ thế kỷ XII và hoàn thiện vào thế kỷ XV. Như vậy, chữ Nho đã có công tạo nền tảng để người Việt làm ra chữ Nôm – một sáng tạo xuất sắc, khẳng định ý thức tự lập về ngôn ngữ, tạo tiền đề xây dựng nền văn học dân tộc ngời sáng rực rỡ hồi thế kỷ XVII-XIX, có ảnh hưởng vượt xa văn học chữ Nho. Trong bài sau, chúng tôi sẽ bàn về chữ Nôm.

Chữ Nho đươc chính quyền Việt Nam chấp nhận làm chữ viết chính thức của nước ta trong hơn 1.000 năm cho tới đầu thế kỷ XX bị chữ Quốc ngữ thay thế. Việc sử dụng chữ Nho đã đưa đến sự hình thành tầng lớp tinh hoa gọi là nhà Nho (chữ “Nho” 儒 nghĩa là “người có học”) – những người có tri thức, biết tổ chức và quản trị xã hội Việt Nam theo mô hình Trung Quốc.

Tổ tiên ta đã dùng chữ Nho viết bài “Nam quốc sơn hà nam đế cư” (Sông núi nước Nam, vua Nam ở) để công bố bản tuyên ngôn phản đối sự xâm lăng, thống trị của người Hán, khẳng định chủ quyền của người Việt. Họ cũng dùng chữ Nho để giao tiếp bút đàm với người Trung Quốc, người Hàn, người Nhật. Các sứ thần triều đình nước ta cử đi Trung Quốc đều là người giỏi chữ Nho, từng làm cho các quan chức đối phương phải nể phục.

Nhờ dùng chữ Nho mà tiếng Việt tiếp thu được phần lớn từ vựng Hán ngữ, hình thành từ Hán-Việt (hiện chiếm hơn 60% tổng số từ tiếng Việt), làm cho lượng từ vựng tiếng Việt tăng lên nhiều và có khả năng tăng vô hạn – điều hiếm thấy trong các ngôn ngữ khác.

Tóm lại, chữ Nho tức chữ Hán-Việt là một thành tựu ngôn ngữ học xuất sắc của tổ tiên ta, đã có đóng góp lớn vào sự nghiệp gìn giữ dân tộc, xây dựng và phát triển nền văn minh Việt Nam.

(Còn nữa)

 


1. Chi tiết xem “Chân trời ngôn ngữ” do NXB Văn hóa dân tộc xuất bản năm 2024.

Bình luận bài viết

    Tin sinh hoạt phật sự

    Video bài giảng

    Pháp âm

    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 113)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Tú Trinh
    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 112)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Tú Trinh
    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 111)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Tú Trinh
    Pháp âm khác >>

    Thống kê truy cập

    • Online: 74
    • Số lượt truy cập : 10789500