HÌNH TƯỢNG NGỰA TRONG VĂN HÓA PHẬT GIÁO
LÊ HẢI ĐĂNG
Hình tượng ngựa xuất hiện khá nhiều trong Phật giáo với các mô típ khác nhau, nổi bật có Bạch mã, cờ Ngựa gió (Lungta), Quỷ đầu ngựa mặt ngựa... Ngoài ra, ngựa cũng được lấy làm hình ảnh ẩn dụ căn khí đặc trưng của chúng sinh.
Trong tác phẩm “Tây du ký” của nhà văn Ngô Thừa Ân (Trung Quốc), Bạch mã vừa là linh vật, vừa là phương tiện hộ tống Đường Tam Tạng trên đường đi Tây Thiên thỉnh kinh. Ngựa Bạch mã này từng chuyến hóa từ nhân vật sang linh vật, cuối cùng thành Chánh quả được phong làm Bồ tát Quảng Lực Thiên Long Bát Bộ.
Như chúng ta biết, Bạch (long) mã trong tiểu thuyết “Tây du ký” của nhà văn Ngô Thừa Ân vốn là một thái tử, con Tây Hải Long Vương, vì ăn nhầm ngựa của Đường Tam Tạng mà bị Quan Thế Âm Bồ tát điểm hóa biến thành Bạch mã, vật cưỡi của Đường Tăng trên suốt hành trình. Hình tượng này, có lẽ đã sản sinh từ ngựa Kiền Trắc của Thái tử Tất Đạt Đa.
Theo truyền thuyết, Thái tử Tất Đạt Đa (Siddhattha) rời thành Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu) với tên giữ ngựa Xa Nặc (Channa) và ngựa Kiền Trắc (Kanthaka). Bấy giờ, Thái tử Tất Đạt Đa mới 29 tuổi. Vào một đêm trăng tháng 4 năm 623 (TCN), “nhân lúc quân lính canh gác và cung phi mỹ nữ say ngủ, sau một tiệc linh đình, thái tử trở dậy, đến bên giường nhìn vợ con lần cuối, rồi đánh thức tên giữ ngựa Xa Nặc dậy, thắng yên cương, thái tử cưỡi ngựa Kiền Trắc vượt qua sông Anoma, rời khỏi kinh thành Ca Tỳ La Vệ. Từ đây, ngài từ bỏ cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con xinh, phụ hoàng, mẫu hậu, gác đi tình riêng, để quyết tâm tầm đạo”.
Theo tiến trình phát triển của Phật giáo, Kiền Trắc là hình tượng ngựa xuất hiện sớm nhất. Nó trở thành một căn cứ lịch sử, từ đó phái sinh hàng loạt mô típ, hình ảnh phỏng chiếu thị hiện qua lăng kính diễn dịch tư tưởng triết học Phật giáo, hệ thống đối tượng thờ tự, các thuyết Luân hồi, Nhân quả, cuối cùng là sáng tạo nghệ thuật. Ngựa Kiền Trắc đi xa hơn quãng đường đưa thái tử rời thành Ca Tỳ La Vệ tìm bến Giác. Vượt qua dòng sông thời gian, hình tượng ngựa Kiền Trắc thâm nhập nhiều nền văn hóa khác nhau, băng qua những nẻo đường quanh co để đến với con người. Ngôi đền Bạch Mã phía đông thành Thăng Long xưa, nay tọa lạc tại số 76 phố Hàng Buồm, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội là một ví dụ điển hình. Tương truyền, khi vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long (năm 1010) định đắp thành, nhưng nhiều lần đều bị đổ. Vua cho người cầu khấn ở đền Long Đỗ thấy xuất hiện một con ngựa trắng. Vua bèn lần theo dấu chân ngựa, vẽ đồ án, từ đó thành mới vững vàng.
Trong bối cảnh văn hóa bản địa Việt Nam, ngựa trắng (Bạch mã) được phong làm thần Thành hoàng, vị thần có chức năng bảo hộ cộng đồng, nhưng nguyên mẫu vị thần này đã đi ra từ ngựa Kiền Trắc. Từ thế kỷ XI, Đại Việt lần lượt trải qua hai triều đại thượng tôn Phật giáo, xuất hiện hàng loạt danh tăng có tầm ảnh hưởng sâu rộng. Thời Lý có thiền sư, quốc sư Vạn Hạnh, người góp công đưa Lý Công Uẩn lên ngôi vua, các vị thiền sư Mãn Giác, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, Giác Hải, Viên Thông... Đến thời Trần xuất hiện nhiều tu sĩ xuất thân giới tinh hoa, như: Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, Pháp Loa, Huyền Quang, đặc biệt là Trần Nhân Tông, người đã kết hợp ba dòng thiền Tì Ni Đa Lưu Chi (Ấn Độ), Vô Ngôn Thông, Thảo Đường (Trung Quốc) sáng lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử mang bản sắc Việt Nam.
Ngựa trắng trong đền Bạch Mã
Trong Phật giáo Mật tông, trên lá cờ Lungta cũng xuất hiện hình tượng ngựa. Ở tiếng Tạng, “ta” có nghĩa là ngựa, còn “lung” là gió. Lungta (Cờ ngựa gió, Phong mã kỳ) làm bằng vải kết hình năm màu: xanh lá cây, trắng, đỏ, xanh da trời, vàng, tượng trưng cho năm hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, Trung ương hoặc đất, nước, lửa, gió (tứ đại) và không gian. Trên cờ in hình tượng Phật, hoa văn cát tường, kinh văn... Trong đó, trung tâm đồ án là một con “ngựa gió”, bốn góc có bốn linh vật: rồng, hổ, sư tử, chim Garuda. Cờ Lungta có chức năng chuyên chở kinh văn, lời nguyện, biểu trưng cho sự may mắn, trí tuệ...
Xét ở phương diện khác, gió cũng chính là khí, một yếu tố quan trọng của sự sống. Trong hành thiền theo phương pháp Mật tông, gió - khí luân chuyển trong cơ thể đi qua các luân xa, cũng giống như “ngựa” có khả năng cất vó trên cánh đồng tâm bất tận. Thực hành thiền theo phương pháp này, kể cả Yoga, hành giả sử dụng phương pháp “điều tức”, nhịn thở để khiến “gió” ngừng thổi (động), qua đó giúp cho tâm thức đạt được trạng thái tĩnh lặng nhanh chóng. Ở tiếng Hán, câu thành ngữ “Tâm viên ý mã” nhằm chỉ tâm trí con người cũng giống như vượn và ngựa. Tâm vượn nhảy nhót không ngừng, “ồn ào như thành Trường An”, còn suy nghĩ thì chen nhau, tung vó như ngựa phi trên cánh đồng hoang. Kiềm chế, níu kéo được hai “con vật” này cũng chính là sứ mệnh của hành giả trên đường tu tập.
Nhìn ở góc độ thế tục, vào thời kỳ tiền công nghiệp, sức người, sức ngựa đều được sử dụng trong sinh hoạt, từ chăn nuôi, cung cấp thực phẩm cho đến giao thông vận tải, truyền tin... Ngựa vừa có thể thuần hóa, vừa có tốc độ di chuyển nhanh chóng, vô hình trung được chọn làm phương tiện vận tải, đưa tin. Chẳng phải ngẫu nhiên mà hình ảnh ngựa, cùng với chim, cò... xuất hiện nhan nhản trong các đồ án, hoa văn, cờ xí, lá sớ... Trên vùng núi Himalaya, Ladakh (Ấn Độ), Tây Tạng (Trung Quốc), cờ Lungta tung bay khắp các ngôi làng, tự viện, bảo tháp... những công trình kiến trúc Phật giáo Mật tông. Ở nước ta, lá cờ này cũng xuất hiện ở cơ sở tín ngưỡng Phật giáo Mật tông, nổi bật như quần thể Samten Hills ở huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.

Cờ ngựa gió
Có thuyết cho rằng, ngựa Xích Thố thờ trong miếu người Hoa, ngựa Bạch mã Thái giám thờ trong đình người Việt cũng mang dáng dấp ngựa Kiền Trắc. Với tầm ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ nói chung, tín ngưỡng Phật giáo nói riêng, nó có nhiều “nhân duyên” để đi vào cơ sở tín ngưỡng thờ tự dân gian. Trong môi trường văn hóa này, mô típ ngựa Kiền Trắc dễ dàng hội nhập các dòng tín ngưỡng bản địa, trở thành hiện tượng hỗn dung, tích hợp nhiều lớp văn hóa đan xen nhau. Đây là hiện tượng phổ biến trong văn hóa Đông Nam Á. Ở phương Tây, sau khi tôn giáo độc thần giành vị trí độc tôn, các tôn giáo bản địa dường như mai một, biến mất. Còn ở vùng Đông Nam Á, tôn giáo, tín ngưỡng bản địa cộng tồn với nhau. Nhà dân tộc học người Pháp Cadiere từng ví von, tín ngưỡng người Việt giống như rễ cây rừng Trường Sơn. Rễ của nó mọc lằng nhằng, dích dắc, không khỏi làm nản lòng người nghiên cứu, đồng thời thể hiện sức sống mãnh liệt. Nhờ đó mà một hình tượng có khả năng khúc xạ thành nhiều hiện tượng văn hóa.
Sự kết hợp giữa Phật giáo và Đạo giáo còn cho ra đời một Quỷ mặt ngựa với nhiệm vụ tầm nã vong hồn tới điện Diêm Vương xử tội, cũng như áp giải đi thi hành án. Loài quỷ này giống như công chức dưới Địa phủ. Nó có bộ dạng mình người, đầu ngựa, vừa nằm dưới quyền kiểm soát của Diêm Vương, vừa thuộc bộ hạ của Địa Tạng Vương Bồ tát. Tính chất phức hợp về thân phận cho thấy Quỷ mặt ngựa xuất thân không hề đơn giản. Thần Hayagriva đạo Hindu có bộ dạng đầu ngựa, mình người, vận trang phục trắng, ngồi trên bông sen trắng. Hayagriva cũng gọi là Minh Vương đầu ngựa, Quỷ đầu ngựa mặt ngựa, một trong các hóa thân của thần Visnu. Ở Tây Tạng, Hayagriva đóng vai trò Hộ pháp, hóa thân của Bồ tát Quan Âm. Còn ở Trung Quốc, La Sát mặt ngựa, Quỷ mặt ngựa, Quỷ đầu trâu mặt ngựa gắn liền với các vong hồn, từ việc thực hiện lệnh bắt giữ của Diêm Vương, trông coi vong hồn khi qua cầu Nại Hà, thẩm án cho đến xét xử, chiếm trọn vẹn quá trình thi hành án.
Qua các tình tiết mô tả, Quỷ mặt ngựa gần với tín ngưỡng dân gian hơn Phật giáo. Xét từ thực tế, chúng sinh có nhiều hạng khác nhau. Trong kinh 922 “Tạp A Hàm”, Đức Phật từng đề cập tới bốn loại ngựa tương đương với bốn hạng người:
Thứ nhất là ngựa chỉ cần thoáng thấy bóng roi mà chủ vừa giơ lên, không cần chạm vào thân thể đã biết được ý chủ nhằm điều chỉnh tốc độ phù hợp.
Thứ hai là loại ngựa phải đợi đến khi roi chạm vào lông mới hiểu ý chủ.
Thứ ba là loại ngựa roi quất lên thân rồi mới cảnh giác làm theo mệnh lệnh.
Thứ tư là loại ngựa bị roi đánh tả tơi, bầm dập thân xác mới chịu làm theo hiệu lệnh.
Loài người và loài ngựa cũng có nhiều điểm giống nhau. Bậc thượng căn có thể nghe pháp trong vũ trụ bao la, kẻ hạ căn dù có sống trong tự viện vẫn chấp mê vô ngộ. Ngựa là loài vật có bản tính hoang dã, yêu tự do. Bản tính ấy cũng khiến cho nó nhiều phen phải trả giá. Trong thần thoại Hy Lạp, ngựa Pegasus vốn có cánh được anh hùng Bellerophon thuần hóa. Nó từng lập công trong cuộc chiến chống lại quái vật Chimera. Truyền thuyết về 12 con giáp cũng nhắc đến loài ngựa có cánh với tên gọi Thiên mã. Người Hoa có câu thành ngữ: “Thiên mã hành cung” nhằm chỉ những ý tưởng táo bạo, thậm chí hoang đường. Ngựa Thiên mã có thể chạy trên mặt đất, bơi dưới biển, bay giữa không trung, một loài động vật quyền biến đa năng. Sau khi Thiên mã được Ngọc Hoàng cho làm Ngự mã trước điện Ngọc Hoàng, Thiên mã ngày càng lộng hành, làm nhiều việc sai trái. Cuối cùng, Ngọc Hoàng ra lệnh cắt đi đôi cánh của Thiên mã. Có lẽ, đây là cái giá đầu tiên mà nó phải trả. Xuống trần gian, ngựa tiếp tục bị con người “xỏ mũi”, “chẹn họng”, lắp yên cương, đóng móng sắt... một cái giá cũng đắt không kém. Dẫu vậy, ngựa vẫn giành được vị trí thứ 7 trong cuộc thi 12 con giáp do thiên đình tổ chức, đồng thời trở thành một linh vật bất tử. Những người sinh năm Ngọ đều nằm dưới quyền bảo hộ của vị thần này. Trong văn hóa Phật giáo dân gian, vị thần bảo hộ của người tuổi Ngọ còn có Đại Thế Chí Bồ tát, vị Bồ tát tượng trưng cho sức mạnh của trí tuệ. Ánh sáng trí tuệ của Ngài phủ khắp nhân gian, giúp chúng sinh đoạn trừ phiền não, đem tới bình an... Bộ ba Tây phương tam Thánh có Đại Thế Chí Bồ tát, Quan Thế Âm Bồ tát đứng hai bên, Phật A Di Đà đứng ở trung tâm. Quan Thế Âm Bồ tát tượng trưng cho từ bi, Đại Thế Chí Bồ tát tượng trưng cho trí tuệ, cả hai cùng hỗ trợ chúng sinh trên đường về Tây phương Cực lạc.
Năm mới Bính Ngọ 2026, theo lịch pháp truyền thống là năm của những người tuổi ngựa. Qua đó thấy rằng, người và ngựa có mối thâm quan với nhau. Vào thời xa xưa, ngựa đóng nhiều vai trò quan trọng, từ vận tải trong sinh hoạt đời thường đến chiến mã trên sa trường. Dù thời đại ấy đã lùi sâu vào dĩ vãng, nhưng hình ảnh, hình tượng ngựa vẫn phảng phất, ẩn hiện trong đời sống, tôn giáo tín ngưỡng, thậm chí vươn tới biểu trưng thiêng liêng.![]()



























































































































































Bình luận bài viết