HƯƠNG NGƯỜI ĐỨC HẠNH
TÔ VĂN THIỆN
Lần đầu cũng là lần duy nhất trong lịch sử Việt Nam, mở rộng về phương Nam những 2 châu (Ô, Lý), trải dài từ Quảng Bình đến Bắc Quảng Nam, không tốn một giọt máu nào, bởi đó là sính lễ của vua Chiêm Thành Chế Mân cưới Công chúa Huyền Trân, con gái vua Trần Nhân Tông.
Theo đạo lý truyền thống của dân tộc: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “Uống nước nhớ nguồn”, bao đời qua, nhân dân ta nhớ ơn Công chúa Huyền Trân, vì nhờ sính lễ của Người, Đại Việt mở rộng về phương Nam 2 châu Ô, Lý, mà không tốn một giọt máu nào.
Nơi thờ Huyền Trân Công chúa ở chùa Hổ Sơn, Nam Định
“Niên biểu Quảng Nam - Đà Nẵng thế kỷ 14, 15 từ năm 1306 đến năm 1490”, cho biết: “Theo Đại Việt Sử ký toàn thư, tháng 6 năm Bính Ngọ, vua Trần Anh Tông gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm Thành là Chế Mân, theo lời hứa của thượng hoàng Trần Nhân Tông trong chuyến vân du sang Chiêm Thành trước đó. Vua Chế Mân đã cắt dâng 2 châu Ô và Lý làm sính lễ. Vùng đất này trải dài từ Quảng Bình đến Bắc Quảng Nam”1.
Chính vì thế mà đến ngày nay, nhiều địa phương có lập đền, miếu,... thờ phụng Công chúa Huyền Trân.
Công chúa Huyền Trân trong lịch sử
Theo trang mạng Wikipedia, “Công chúa không rõ tên thật, theo dã sử Đền thờ Huyền Trân công chúa tại Huế, bà được cho là hạ sinh vào năm 1289 (có tài liệu ghi bà sinh năm 1287), mẹ công chúa có thể là Khâm Từ Bảo Thánh hoàng hậu - trưởng nữ của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn. Tuy nhiên, cũng có khả năng bà là con gái của Tuyên Từ hoàng hậu, em gái của Khâm Từ hoàng hậu. Năm 1301, Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông nhận lời mời, du ngoạn vào Chiêm Thành, được Quốc vương Chiêm Thành là Chế Mân tiếp đãi nồng hậu, có ở lại trong cung điện Chiêm Thành gần 9 tháng. Khi ra về, Thái thượng hoàng có hứa gả con gái cho Chế Mân, mặc dù khi đó Chế Mân đã có chính thất là Vương hậu Tapasi, người Java (Indonesia ngày nay). Sau đó nhiều lần, Chế Mân cử sứ sang hỏi về việc hôn lễ, nhưng nhiều quan lại nhà Trần phản đối, chỉ có Văn Túc vương Trần Đạo Tái và Nhập nội hành khiển Trần Khắc Chung chủ trương tán thành”2.
Đại Việt sử ký toàn thư, ghi: “Mùa hạ, tháng 5, chúa Chiêm Thành Chế Mân chết.
Mùa thu, tháng 9, nước to, vỡ đê Đam Đam.
Thế tử Chiêm Thành Chế Đa Da sai sứ thần Bảo Lộc Kê sang dâng voi trắng.
Mùa đông, tháng 10, sai Nhập nội hành khiển thượng thư tả bộc xạ Trần Khắc Chung, An phủ Đặng Văn sang Chiêm Thành đón công chúa Huyền Trân và thế tử Đa Da về.
Theo tục lệ Chiêm Thành, chúa chết thì bà hậu của chúa phải vào giàn thiêu để chết theo. Vua biết thế, sợ công chúa bị hại, sai bọn Khắc Chung, mượn cớ sang viếng tang và nói với [người Chiêm]: “Nếu công chúa hỏa táng thì việc làm chay không có người chủ trương, chi bằng ra bờ biển chiêu hồn ở ven trời, đón linh hồn cùng về, rồi sẽ vào giàn hỏa thiêu”.
Người Chiêm nghe theo.
Khắc Chung dùng thuyền nhẹ cướp lấy công chúa đem về, rồi tư thông với công chúa, đi đường biển loanh quanh chậm chạp, lâu ngày mới về đến kinh đô”3.
Đại Việt sử ký toàn thư chỉ ghi đến đó. Phần đời về sau của Công chúa Huyền Trân không thấy ghi thêm dòng nào.
Trên Báo Nam Định với bài viết “Di tích chùa Hổ Sơn nơi thờ Huyền Trân Công chúa”, Thanh Ngọc cho biết: “Công chúa Huyền Trân sau khi trở về kinh thành đã đến chùa Nộn Sơn ở làng Hổ Sơn, huyện Thiên Bản xưa, nay thuộc xã Liên Minh (Vụ Bản) để tu thiền, mở cảnh. Ở làng Tiền, phía tây núi Hổ có Công chúa Thụy Bảo là bề trên (bác ruột) của Công chúa Huyền Trân đang tạo vườn hoa An Lạc và lập chùa tu hành ở đây. Hai người cùng tu hành, phụng sự Phật pháp, chăm lo cho đời sống nhân dân trong vùng ngày càng thịnh vượng. Sau khi hai bà mất, nhân dân làng Hổ Sơn lập am thờ trên chùa Nộn Sơn để tri ân công đức”4.
Trên trang thông tin điện tử Trung tâm Văn hóa Huyền Trân, Thanh Dần cũng viết: “Công chúa Huyền Trân sau khi trở về kinh thành đã xuất gia tu hành tại núi Trâu Sơn tỉnh Bắc Ninh. Năm 1311 chuyển đến ở làng Hổ Sơn lập chùa Nộn Sơn, tên chữ là Quảng Nghiêm Tự thuộc huyện Thiên Bản xưa, nay thuộc xã Liên Minh (Vụ Bản) để tu thiền, mở cảnh tu hành, phụng sự Phật pháp, chăm lo cho đời sống nhân dân trong vùng ngày càng thịnh vượng. Sau khi bà mất, nhân dân làng Hổ Sơn lập am thờ trên chùa Nộn Sơn để tri ân công đức”5.
Hai bài viết cách nhau 5 năm (2013, 2018), nhưng nội dung phản ánh khá giống nhau. Hai bài viết đều khẳng định: “Chùa Hổ Sơn ngoài thờ Phật còn thờ hai vị công chúa Huyền Trân và Thuỵ Bảo”6, và “Lễ hội chùa Hổ Sơn hằng năm được tổ chức từ mùng 9-4 đến 14-4 âm lịch. Theo các cụ cao niên trong làng, ngày 9-4 là ngày mất của Công chúa Huyền Trân (nhiều tài liệu lịch sử cho rằng bà mất vào mùng 9 tháng Giêng). Còn ngày mất của Thụy Bảo Công chúa là ngày mùng 5 tháng Giêng, việc cúng giỗ do làng Tiền, xã Tam Thanh đứng ra tổ chức. Vào những ngày này, hai làng Hổ Sơn và làng Tiền rước kiệu giao hiếu với nhau. Vào sáng 9-4 âm lịch hằng năm, dân làng Hổ Sơn tổ chức rước kiệu lên chùa, rước chân nhang hai công chúa về đình làng làm lễ rồi chiều 14-4 âm lịch lại rước về chùa. Trong những ngày diễn ra lễ hội, dân làng thường tổ chức thi làm cỗ chay, làm bánh dày dâng thánh. Ngày nay, lễ hội làng Hổ Sơn được tổ chức đơn giản, tiết kiệm nhưng vẫn đảm bảo trang trọng. Các dòng họ cắt cử người chuẩn bị lễ vật để con cháu lần lượt đội mâm lễ dâng lên chùa, sau đó mới rước kiệu thánh đi quanh làng, hai bên đường các gia đình bày hương án, lễ vật để lễ vọng.
Với những giá trị về lịch sử và kiến trúc đặc sắc, năm 2006, chùa Hổ Sơn được UBND tỉnh công nhận Di tích Lịch sử văn hóa cấp tỉnh”7.
Công chúa Huyền Trân tu theo pháp môn nào?
Thời Lý, Trần, Phật giáo được xem là quốc giáo. Công chúa Huyền Trân là con gái Phật hoàng Trần Nhân Tông tu Phật là điều hiển nhiên. Nhưng Công chúa Huyền Trân tu theo pháp môn, hệ phái nào?
Như chúng ta đã biết, “Thiền phái Trúc Lâm (竹林禪派) là một dòng thiền tông Việt Nam hình thành từ thời nhà Trần, do Vua Trần Nhân Tông sáng lập. Trúc Lâm vốn là hiệu của Trần Nhân Tông từ khi xuất gia ở động Vũ Lâm (Ninh Bình), đồng thời cũng là hiệu của Thiền sư Đạo Viên, tiền bối của Trần Nhân Tông, Tổ thứ hai của dòng thiền này. Thiền phái Trúc Lâm có ba Thiền sư kiệt xuất là Nhân Tông (Trúc Lâm Đầu Đà), Pháp Loa và Huyền Quang (gọi chung là Trúc Lâm Tam tổ). Thiền phái này được xem là tiếp nối nhưng là sự hợp nhất của ba dòng thiền Việt Nam của thế kỷ 12 – đó là dòng Thảo Đường, Vô Ngôn Thông và Tì-ni-đa-lưu-chi cùng với sự pha trộn ảnh hưởng của Tông Lâm Tế. Với việc lập ra phái Trúc Lâm, Trần Nhân Tông đã thống nhất các Thiền phái tồn tại trước đó và toàn bộ giáo hội Phật giáo đời Trần về một mối”8. Nhưng trong Cư trần lạc đạo phú, Trần Nhân Tông có viết: “Tịnh độ là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương;/ Di Đà là tính sáng soi, mựa phải nhọc tìm về Cực lạc”9.
Như vậy, mặc dù Trần Nhân Tông, người Việt Nam đầu tiên lập ra Thiền phái Trúc Lâm, “thống nhất các Thiền phái tồn tại trước đó”, nhưng không chỉ tu mỗi pháp môn Thiền mà còn pháp môn Tịnh độ, nên gọi là Thiền – Tịnh song tu.
Đại Việt ngày đó, không chỉ có Phật giáo mà còn có Nho giáo, Lão giáo/ Đạo giáo. Nho giáo và Lão giáo chỉ ảnh hưởng tới những người lui tới cửa Khổng sân Trình chứ không đến với dân gian. Đến với dân gian là Đạo giáo phù thủy do Trương Đạo Lăng (Trương Lăng, 34-156) sáng lập, “thờ Lão Tử tôn xưng là Thái Thượng Lão Quân dùng kinh kệ, bùa chú, phương thuật, tế lễ... để thu hút tín đồ, được hậu thế phong là Trương Thiên Sư”10.
Các nhà nghiên cứu sau này, cho rằng: “Có lẽ Trương Đạo Lăng đã bắt chước theo Phật giáo và thâu nhiếp các thành phần của Toả-la-á-tư-đức giáo (zh. en. Zoroastrianism)”11.
Trong lúc đó, Mật tông cũng có mặt khá sớm ở Việt Nam. Theo Bách khoa toàn thư mở, “Mật Tông (zh. 密宗 mì-zōng) là từ gốc Hán dùng để gọi pháp môn bắt nguồn từ sự kết hợp giữa Ấn Độ giáo và Phật giáo Đại thừa, được hình thành vào khoảng thế kỷ 5, 6 tại Ấn Độ (...) Mật tông vốn truyền vào Việt Nam từ khá sớm. Theo Thiền uyển tập anh, vào thế kỷ thứ VI, Tỳ Ni Đa Lưu Chi, người Ấn Độ, đã đến Việt Nam và dịch kinh Đại thừa phương quảng tổng trì tại chùa Pháp Vân. Đây là một bộ kinh của Mật giáo, và liên hệ rất nhiều đến Thiền. Vào thời Đinh và Tiền Lê, Mật tông đã khá thịnh hành tại Việt Nam. Những trụ đá được phát hiện tại Hoa Lư, Ninh Bình vào các năm 1963, 1964, 1978 - dựng vào năm 973, thời Đinh; có trụ dựng năm 995, thời Lê Đại Hành - đều khắc bản kinh Phật đỉnh Tôn thắng Đà La Ni (Usnisavijaya dharani), một bản kinh rất phổ biến của Mật giáo, đã chứng minh cho điều đó.
Dĩ nhiên, Mật tông thịnh hành không chỉ do mỗi ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi, mà còn từ Phật giáo Chiêm Thành, những Tăng sĩ ngoại quốc và những vị sư Việt Nam thọ học từ Ấn Độ. Trong đó, ngài Mahamaya, gốc Chiêm Thành, thuộc đời thứ 10 của thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, từng theo học với ngài Pháp Thuận - Pháp hành sám và trì tụng chú Đại bi - cũng rất nổi tiếng về pháp thuật. Thiền uyển tập anh cho rằng ông đắc pháp Tổng trì Tam muội, thi triển nhiều pháp thuật khiến cho vua Lê Đại Hành và dân chúng đều nể phục. Một thiền sư Việt, ngài Sùng Phạm (mất năm 1087), đời thứ 11 của thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, đã đến Ấn Độ chín năm, sau mở trường dạy tại chùa Pháp Vân. Đệ tử của ngài có sư Từ Đạo Hạnh nổi tiếng về phù chú và sư Trì Bát cũng thấm nhuần Mật giáo. Đại Việt sử ký toàn thư cũng ghi chép về một vị Tăng sĩ Ấn Độ, vào năm 1311, đến nước ta, xưng là 300 tuổi, theo Mật giáo, có thể ngồi xếp bằng nổi trên mặt nước. Năm 1318, vua Anh Tông mời một Tăng sĩ Ấn Độ, tên Ban Để Đa Ô Sa Thất Lợi đến dịch một bộ kinh Mật giáo tên là Bạch Tán Thần chú kinh”12.
Do đó, Phật giáo thời Trần là Thiền - Tịnh - Mật đồng tu, dù Trần Nhân Tông khai sáng Thiền phái Trúc Lâm. Và Công chúa Huyền Trân cũng tu theo pháp môn này (Thiền - Tịnh - Mật đồng tu).
Nhân dân nhiều đời tạc ghi công ơn
Từ thời bình minh lịch sử, dân tộc Việt cũng như nhiều dân tộc khác trên thế giới đều thờ cúng các vị thần tự nhiên (nhiên thần), bởi tất cả đều gần gũi với họ, giúp họ yên tâm vượt qua cuộc sống thường ngày. Trên tinh thần “Tránh voi chẳng xấu mặt nào”, “Một sự nhịn chín sự lành”, “Quan ở xa, sai nha ở gần”, “Được vạ, má sưng”... nên Thánh, Thần, Tiên, Trời, Phật, kể cả những âm hồn bất tán, hòn đá, gốc đa... nếu xét thấy cần, người Việt đều cúng kính với quan niệm “mua đường vắng” cho xong. Ngày xưa như thế, có người cho rằng trình độ dân trí thấp, song những ngày này nhiều người Việt cũng thế những mong tâm được an vui.
Các tôn giáo ngoại lai đến Việt Nam cũng phải hòa quyện với tín ngưỡng bản địa mới có thể tồn tại và phát triển. Sự thật lịch sử như thế, nên các nhà nghiên cứu văn hóa cho rằng đời sống tín ngưỡng – tôn giáo của người Việt mang tính hỗn dung tôn giáo. Đến nay, nhiều tôn giáo trên thế giới được phép hoạt động tại Việt Nam và tôn giáo nào phát triển cứ phát triển, tín ngưỡng dân gian vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân.
Hiện nay, chùa Hổ Sơn ngoài thờ Phật còn thờ hai vị công chúa Huyền Trân và Thuỵ Bảo, và hằng năm từ mùng 9-4 đến 14-4 âm lịch, nhân dân làng Tiền, xã Tam Thanh đứng ra tổ chức cúng giỗ Bà. “Vào những ngày này, hai làng Hổ Sơn và làng Tiền rước kiệu giao hiếu với nhau. Vào sáng 9-4 âm lịch hằng năm, dân làng Hổ Sơn tổ chức rước kiệu lên chùa, rước chân nhang hai công chúa về đình làng làm lễ rồi chiều 14-4 âm lịch lại rước về chùa. Trong những ngày diễn ra lễ hội, dân làng thường tổ chức thi làm cỗ chay, làm bánh dày dâng thánh. Ngày nay, lễ hội làng Hổ Sơn được tổ chức đơn giản, tiết kiệm nhưng vẫn đảm bảo trang trọng. Các dòng họ cắt cử người chuẩn bị lễ vật để con cháu lần lượt đội mâm lễ dâng lên chùa, sau đó mới rước kiệu thánh đi quanh làng, hai bên đường các gia đình bày hương án, lễ vật để lễ vọng”13.

Điện thờ Công chúa Huyền Trân trong Khu trung tâm văn hóa Huyền Trân (Huế)
Sự thật được mô tả trên, cho thấy từ lâu nhân dân đã tôn vinh Công chúa Huyền Trân là “Thánh Mẫu”, nên mới có chuyện “những ngày diễn ra lễ hội, dân làng thường tổ chức thi làm cỗ chay, làm bánh dày dâng thánh”. Ở Việt Nam, Thánh Mẫu là danh hiệu hoặc cách gọi để chỉ về người phụ nữ (hoặc người mẹ) đáng kính, đáng tôn trọng về mặt tâm linh và thường được xem là một vị nữ thánh, một vị Mẫu thần. Một số tín ngưỡng, tôn giáo có dùng danh hiệu “Thánh Mẫu” như: Liễu Hạnh Công chúa, một trong bốn vị Thánh quan trọng nhất (tứ bất tử) trong tín ngưỡng Việt Nam; Linh Sơn Thánh Mẫu (Bà Đen) ở Tây Ninh; Thánh Mẫu Thiên Y A Na (Nữ thần Ponagar của người Chăm),...
Đạo Phật ở Việt Nam xưa nay là thế. Văn bản viết về đạo Phật sớm nhất ở nước ta là tác phẩm “Lý Hoặc Luận” của Mâu Tử, viết hồi thế kỷ thứ 2, có đoạn: “Hỏi: “Sao chính gọi là Phật? Phật có nghĩa gì?
Mâu Tử đáp: - Phật là hiệu thụy vậy, như gọi ba vua thần, năm đế thánh. Phật là nguyên tổ của đạo đức, đầu mối của thần minh. Nói Phật nghĩa là giác, biến hóa nhanh chóng, phân thân tán thể, hoặc còn hoặc mất, nhỏ được lớn đươc, tròn được vuông được, già được trẻ được, ẩn được hiện được, đạp lửa không bỏng, đi dao không đau, ở dơ không bẩn, gặp họa không mắc, muốn đi thì bay, ngồi thì lóe sáng, nên gọi là Phật vậy”14.
Gần 2.000 năm đi qua, nhiều người dân Việt vẫn còn suy nghĩ về Phật như thế, nên người ta đến chùa cầu bình an, cầu tài lộc, cầu tình duyên,... chứ không mấy ai đến chùa cầu giải thoát. Do đó, cuộc đời ích quốc lợi dân của Công chúa Huyền Trân dưới mắt của nhân dân mãi mãi đáng kính trọng, đáng phụng thờ. Lịch sử không ghi sau khi vua Chiêm Thành Chế Mân băng hà, bà được giải cứu về Thăng Long làm gì, thì trong lòng nhân dân ghi ơn bà, đúng như Kinh Pháp Cú (số 54) đã dạy: “Hương các loài hoa thơm/ Không thể bay ngược gió/ Nhưng hương người đức hạnh/ Ngược gió bay muôn phương”.![]()
1. https://www.danang.gov.vn/gioi-thieu/chi-tiet?id=1728&_c=44
2. https://vi.wikipedia.org/wiki/Huyền_Trân_Công_chúa
3. Đại Việt sử ký toàn thư, T. II, sđd, trang 97-98.
4. Thanh Ngọc, Di tích chùa Hổ Sơn nơi thờ Huyền Trân Công chúa, Báo Nam Định, ngày 24/5/2013.- Dẫn theo http://baonamdinh.com.vn/channel/5093/201305/di-tich-chua-Ho-Son-noi-tho-Huyen-Tran-Cong-chua-2241178/
5. Thanh Dần, Chùa Nộn Sơn – Nơi thờ Công chúa Huyền Trân, https://trungtamhuyentran.thuathienhue.gov.vn/?gd=2&cn=482&tc=1965, ngày 11/9/2018.
6. Thanh Ngọc, Di tích chùa Hổ Sơn nơi thờ Huyền Trân Công chúa, Báo Nam Định, ngày 24/5/2013.- Dẫn theo http://baonamdinh.com.vn/channel/5093/201305/di-tich-chua-Ho-Son-noi-tho-Huyen-Tran-Cong-chua-2241178
7. Thanh Ngọc, Di tích chùa Hổ Sơn nơi thờ Huyền Trân Công chúa, Báo Nam Định, ngày 24/5/2013.- Dẫn theo http://baonamdinh.com.vn/channel/5093/201305/di-tich-chua-Ho-Son-noi-tho-Huyen-Tran-Cong-chua-2241178/
8. https://vi.wikipedia.org/wiki/Thiền_phái_Trúc_Lâm
10. https://vi.wikipedia.org/wiki/Đạo_giáo
11. https://vi.wikipedia.org/wiki/Đạo_giáo
12. https://vi.wikipedia.org/wiki/Mật_tông
13. Thanh Ngọc, Di tích chùa Hổ Sơn nơi thờ Huyền Trân Công chúa, Báo Nam Định, ngày 24/5/2013.- Dẫn theo http://baonamdinh.com.vn/channel/5093/201305/ditich-chua-Ho-Son-noi-tho-Huyen-Tran-Cong-chua-2241178/
14. Lê Mạnh Thát, Tổng tập Văn học Phật giáo Việt Nam, T.1, NXB Tổng hợp TPHCM, 2000,- Dẫn theo https://thuvienhoasen.org/a24472/b-ban-dich-ly-hoac-luan



























































































































































Bình luận bài viết