Thông tin

KIÊU CĂNG MẤT PHƯỚC

 

HT THÍCH GIÁC TOÀN

 

 

Kiêu căng thường được hiểu là tánh tự phụ, tự cao, tự đại của con người. Tâm kiêu căng vốn ẩn náu trong cái tâm tánh của chúng sinh phàm phu. Khi chúng ta chưa tu tập tốt, thì tính tự cao, tự phụ, tự đại và kiêu căng, ngã mạn trong tâm thường tăng trưởng và lớn mạnh mỗi ngày. Còn khi chúng ta biết tu tập, biết hướng Tam bảo, giữ gìn các giới điều, thực tập theo giáo pháp của Phật, ngày đêm nghiêm trì giới luật, ứng dụng lời Phật dạy vào đời sống thì tánh kiêu căng ngã mạn, tự phụ, tự đại ở trong tâm nơi mỗi chúng ta sẽ dần được lắng xuống được suy giảm dần dần.

Do vì chúng ta đã tích lũy tánh tự cao, tự đại, kiêu căng, ngã mạn của mình từ nhiều đời nhiều kiếp, nên chúng rất sâu dày, không dễ gì dứt bỏ chúng ngay lập tức được. Nếu chúng ta học Phật và ý thức được việc tu tập, rồi chúng ta chuyên cần tu tập, nhận chân được cuộc đời là vô thường khổ não, vô ngã và bất tịnh thì sự kiêu căng ngã mạn trong tâm chúng ta cũng sẽ suy yếu dần. Để giúp mọi người hiểu rõ hơn về tâm kiêu căng, ngã mạn và biết cách để đối trị, chuyển hóa chúng, chúng tôi chia sẻ với mọi người về đề tài “Kiêu căng mất phước”.

Bàn về tâm kiêu căng, ngã mạn

Là một người phàm phu, chúng ta thường bị chi phối bởi duyên nghiệp của mình. Cho nên, khi chưa biết tu thì cái tự ngã phàm phu, cái chúng sanh tánh trong ta thường trỗi dậy và chúng hiếm khi nào chịu nằm yên, chịu thua thiệt. Thông thường, vì tự ngã mà chúng ta hay sinh lòng tự ái. Có khi vì tự ái mà sinh ra mặc cảm, tự tin, tự buồn trong lòng. Còn khi chúng ta kiêu căng, tự cao, tự đại, tự phụ, thì chúng thường bộc lộ ra ngoài. Vì chưa ý thức rõ về bản chất vô thường, khổ não của cuộc đời nên ta thường có tính tự cao, tự đại, tự phụ. Nếu người nào hiểu được cuộc sống vốn vô thường, thân mạng của chúng ta rất mong manh, sống nay chết mai, không biết chết lúc nào, thì lúc đó chúng ta dễ dẹp bỏ tâm tính tự cao, tự đại, kiêu căng, ngạo mạn hơn. Có quan điểm cho rằng: “Người kiêu mạn hay bị những cái tai nạn bất ngờ”. Người càng kiêu mạn, thì càng thêm đau khổ. Người khiêm hạ, thường có nhiều niềm vui bất ngờ. Càng khiêm hạ bao nhiêu, thì càng hạnh phúc bấy nhiêu. Đây là vấn đề mà chúng ta cần ghi nhớ để tự nhắc mình.

Trong cuộc sống, có nhiều khi người ta bị tai nạn bất ngờ, không biết nguyên nhân do đâu. Nếu nghiệm theo quan niệm này, thì chắc hẳn mọi người sẽ tìm được lời giải thích cho những tai nạn bất ngờ đó. Ngay trong gia đình, nếu có anh/chị/em nào mà thể hiện tính kiêu căng, ngã mạn thì người đó đang tự cô lập bản thân, mọi người xung quanh sẽ dần dần thể hiện sự dè dặt và xa lánh người đó. Ngay cả trong quan hệ hôn nhân gia đình cũng thế, nếu người vợ hoặc người chồng mà kiêu căng ngã mạn, không tôn trọng người kia, không tôn trọng những người xung quanh, thì dần dần cũng đánh mất tình cảm vợ chồng, mọi người xung quanh ngày càng xa lánh. Cho nên, mọi người hãy nhớ lấy điều này! Khi chúng ta biết tu, biết sống khiêm cung, khiêm hạ, biết kính trọng mọi người, thì cuộc sống của chúng ta thường gặp được những duyên lành, những điều may mắn, hạnh phúc.

Kinh Trung A Hàm, bài kinh Anh Vũ, số 170, Đức Phật có kể về sự tích của hai cha con Ma-nạp Anh Vũ. Ma-nạp Anh Vũ có người cha tên là Đô Đề. Lúc sinh tiền, ông Đô Đề người thường thực hành sự bố thí rất lớn, thường tổ chức các lễ bố thí, cúng dường có quy mô lớn. Nhưng vì ông này có thói tăng thượng mạn rất lớn nên sau khi chết, ông bị đọa làm súc sanh, tái sinh làm một con chó ngay trong nhà của mình. Nhân một hôm, Đức Phật đi khất thực, đi ngang qua nhà của Ma-nạp Anh Vũ, thì con chó trong nhà của Ma-nạp Anh Vũ chạy ra trước mặt Phật và sủa hoài. Lúc đó, Ma-nạp Anh Vũ không có ở nhà. Thấy vậy, Đức Phật nói cho con chó nghe về nhân quả, nghiệp duyên đời trước của nó, nghe xong nó quay vào nhà, nằm buồn thiu một xó. Lúc Ma-nạp Anh Vũ trở về nhà, thấy con chó có biểu hiện khác thường, liền hỏi người nhà thì được biết là hôm nay có Đức Phật đi qua, nó chạy ra sủa, sau đó Đức Phật dừng lại nói chuyện với nó, nghe xong nó chạy vào nhà và nằm buồn thiu mãi như thế. Ngày hôm sau, khi Đức Phật đi khất thực ngang qua nhà mình, Ma-nạp Anh Vũ đã chặn đường và hỏi Đức Phật là hôm qua đã làm gì mà khiến cho con chó của anh ta trở nên buồn thiu, không thiết ăn uống nữa. Lúc đó, Đức Phật mới nói rõ sự tình, mối quan hệ đời trước giữa con chó và Ma-nạp Anh Vũ cho anh ta nghe, rằng con chó chính là người cha Đô Đề đã quá vãng của anh ta. Vì thói tăng thượng mạn, nên ông bị đọa làm thân chó. Do còn dính mắc vào những rương báu mà ông ấy cất giấu chưa kịp nói với con cái, nên sau khi chết ông tái sanh làm chó trong nhà của mình để giữ của. Dù Phật nói rõ ràng như thế, nhưng anh ta vẫn chưa tin. Anh ta khẳng định rằng:

- Cha tôi thực hành bố thí lớn lao cho người nghèo khổ, cúng tế vĩ đại, sau khi chết nhất định sanh lên cõi Trời Phạm Thiên, chứ không thể đọa vào loài chó hạ tiện được.

Lúc đó Đức Phật mới chỉ dạy:

- Này Ma Nạp, nếu ông không tin lời ta, có thể trở về nhà nói với con chó rằng: “Này chó, nếu đời trước người cha của tôi, thì hãy nhảy lên giường lớn”. Con chó tất nhảy lên giường lớn. Lại nói: “Này chó, nếu đời trước cha của tôi, hãy chỉ cho tôi kho tàng cất giấu vàng bạc, ngọc thạch, trân châu mà tôi không biết”. Con chó sẽ chỉ cho ông nơi cất giấu những của báu ấy.

Dù còn bán tín bán nghi, nhưng Ma-nạp Anh Vũ vẫn làm theo lời Phật. Và đúng y như lời Phật đã nói, con chó đã nhảy lên giường lớn, đã chỉ chỗ chôn cất các rương báu trong nhà cho Ma-nạp Anh Vũ. Và không lâu sau đó, con chó đã không bệnh mà chết. Còn Ma-nạp Anh Vũ thì đã tìm đến gặp Phật, sám hối với Ngài và xin quy y theo Phật.

Qua câu chuyện này, chúng ta thấy rằng, mỗi chúng ta hiện hữu trên cõi đời này đều có nhân duyên của mình. Nếu nhìn xung quanh, chúng ta sẽ thấy trong cộng đồng, có người cao kẻ thấp, người đẹp, kẻ xấu, có người sống lâu, có người chết yểu, có kẻ nhiều bệnh, có người ít bệnh, tất cả đều do nhân duyên trong quá khứ và hiện đời đã gây tạo mà sinh ra như thế. Trong đời, có người sống đến già vẫn không có bệnh tật gì, và cũng có người bệnh tật liên miên, hết bệnh này sang bệnh khác; có người xinh đẹp, có người xấu xí, có người giàu sang, có người nghèo túng; có người thân hình đoan chính, có người thì thân tướng thô xấu; có người có uy đức, có người không có uy đức. Tất cả những điều đó đều có nhân duyên của chúng, chứ không phải là một sự ngẫu nhiên, tình cờ.

Chúng ta may mắn được biết đến Phật pháp, được nghe, được học những lời Phật dạy, nhờ vậy mà chúng ta biết được nhân quả, nghiệp báo, biết phân định đúng-sai, phải-trái, biết phân biệt tốt-xấu, biết thế nào là có uy đức, thế nào là không có uy đức, v.v... Biết được như vậy rồi thì chúng ta càng phải tinh tấn tu học, thực tập những lời Phật dạy trong đời sống hằng ngày, để đời sống của mình ngày càng tốt đẹp, phước lành ngày càng tăng trưởng. Nhờ học kinh Phật, chúng ta biết là do tăng thượng mạn, do kiêu căng ngã mạn, ganh tị, đố kị mà đọa vào các đường ác. Biết vậy, nên chúng ta tự mình soi chiếu lại tâm mình xem coi mình có những thứ đó không, nếu có thì cố gắng tu tập để chuyển hóa và buông bỏ từ từ.

Tâm kiêu mạn, ganh tị, đố kị thường não hại người tu. Những người cư sĩ và cả những người tu sĩ cũng bị những tâm bất thiện này quấy nhiễu và gây hại cho bản thân và cho người khác. Những tâm bất thiện này huân tập lâu ngày trong tâm thức phàm phu của chúng ta, chúng trở thành tập khí sâu dày, rất khó thay đổi, chuyển hóa. Chúng như các chứng bệnh nan y, rất khó chữa trị. Bây giờ, chúng ta biết được bản chất của chúng rồi, chúng ta hãy cố gắng chuyển hóa và đoạn trừ chúng, đừng để chúng nó lớn mạnh trong tâm của mình nữa.

Mọi thứ trong đời đều có nhân duyên của chúng

Khi chúng ta học Phật, chúng ta biết tu, thì chúng ta hiểu được rằng, phước, nghiệp ai gieo tạo thì tự bản thân người đó nhận lãnh. Những gì mọi người có được, nhận lãnh ngày hôm nay là do nghiệp nhân trước đây bản thân họ đã gieo tạo. Cho nên, chúng ta không còn ganh tị, đố kị với người khác nữa và cũng không hẹp hòi, ích kỷ trong cuộc sống nữa.

Đức Phật đã dạy rằng: Người nào có tâm ganh tị, đổ kỵ (tật đố) thì quả báo thường thiếu oai đức, không được người khác kính trọng, quý mến. Cho nên, việc khởi phát tâm tùy hỷ rất là quan trọng. Dù mình không làm các việc phước thiện, hoặc không có khả năng để làm, nhưng khi thấy người khác làm các việc phước thiện, mình tùy hỷ theo thì mình cũng có được công đức. Ngược lại, nếu mình thấy người khác làm các việc bất thiện mà mình cũng vui theo, hùa theo thì mình vẫn bị quả báo bất thiện. Đối với các việc bất thiện trong đời, chẳng hạn như sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu (sử dụng các chất kích thích nói chung), nếu mình thấy người khác làm mà mình vui theo, tán đồng hoặc cổ xúy người khác làm... thì chắc chắn trong tương lai mình sẽ phải nhận lãnh quả báo cho những tác ý, những hành nghiệp bất thiện đó.

Trong kinh điển, Đức Phật đã dạy rất cụ thể và rõ ràng mọi sự trên đời đều có nhân, có quả. Chúng ta vì phàm phu, mê muội nên tưởng nhân quả không có thật, cho nên ta mới vô tình hoặc cố ý gây tạo các ác nghiệp.

Cũng trong bài kinh Anh Vũ này, Đức Phật còn dạy, Ma-nạp Anh Vũ rằng: “Ma-nạp, do nhân gì, duyên gì mà kẻ nam hay người nữ có uy đức rất lớn? Nếu có kẻ nam hay người nữ không ôm lòng tật đố; thấy kẻ khác được cung kính cúng dường, không sanh lòng tật đố; thấy kẻ khác có của, không có lòng ham muốn của ấy được về ta. Người ấy tạo nghiệp này, phát thành đầy đủ rồi, đến khi thân ngoại mạng chung, chắc chắn tiến lên chỗ lành, sanh vào trong cõi Trời, muôn kiếp ở cõi Trời, rồi sanh lại trong nhân gian, có uy đức rất lớn. Ma-nạp, nên biết nghiệp này có quả báo như vậy”. Như thế là vì ôm lòng tật đố mà người ta mất hết uy đức. Cho nên, muốn có uy đức thì chẳng những không ôm lòng tật đố, mà còn phải tùy hỷ khi thấy người khác được những điều tốt lành, và quan trọng là không được tham lam, không có ý niệm chiếm đoạt của người khác làm của mình. Khi biết tu học, chúng ta biết mọi thứ đều có nhân có quả, ai có phước thì được hưởng, ai có tội thì bị khổ. Nhân, quả của mỗi người tự gieo thì tự nhận, không ai nhận thay hoặc lãnh thay cho mình cả.

Đức Phật dạy tiếp: “Này Ma-nạp, do nhân gì, duyên gì mà kẻ nam hay người nữ sanh vào vòng đê tiện? Nếu có kẻ nam hay người nữ nào kiêu ngạo, ngã mạn, người đáng cung kính thì không cung kính, đáng tôn trọng thì không tôn trọng, đáng quý thì không quý, đáng phụng thờ thì không phụng thờ, đáng cúng dường thì không cúng dường, đáng nhường lối thì không nhường lối, đáng nhường chỗ ngồi thì không nhường chỗ ngồi, đáng chắp tay hướng về lễ bái, thăm hỏi thì không chắp tay hướng về lễ bái, thăm hỏi. Người ấy thọ nghiệp này, tác thành đầy đủ rồi, đến khi thân hoại mạng chung, chắc chắn đưa đến chỗ ác, sanh vào trong địa ngục. Mãn kiếp địa ngục, lại sanh vào nhân gian, sanh nhằm dòng dõi ti tiện”.

Sau khi thân hoại mạng chung, thần thức của chúng sanh đi đầu thai thì tùy theo nghiệp lực nó dẫn dắt để rồi đi đầu thai, tái sinh, chứ hàng phàm phu thì không ai có khả năng lựa chọn nơi chốn, lựa chọn hoàn cảnh gia đình để tái sanh cả. Như vậy là sự kiêu ngạo, ngã mạn khiến cho con người chẳng những không có uy đức, mà còn bị sanh vào gia đình nghèo khổ, rồi còn ti tiện, bị người khác khinh miệt. Chúng ta nhờ có học đạo, nghe kinh, nghe những lời dạy của Phật, cho nên chúng ta đừng để tâm tự cao, tự đại nó chiếm ngữ tâm của mình. Nhờ biết tu, chúng ta không tham lam, ích kỷ mà còn biết đem phước đức của mình san sẻ cho đời, cho người còn khốn khó. Nếu không may bị sanh vào chỗ nghèo khổ, gia đình thấp kém, nhờ biết tu nên mình không mặc cảm, tự ti nữa; trái lại người ấy nỗ lực thực hành thiện pháp, tài bồi công đức cho đời sau.

Những người đời trước vụng tu, đời này phải sanh vô chỗ khổ, bị người khác coi thường, khinh miệt, thì hãy xem chuyện đó như là để trả cái nghiệp, cái quả cũ cho nó mau hết, bình tĩnh đón nhận, chứ không oán giận người khác, cũng không mặc cảm, tự ti, không buồn phiền ai hết. Nếu ai bị coi thường, bị khinh miệt mà biết nghĩ rằng do mình có món nợ lớn với chúng sanh từ nhiều đời trước, bởi sự tật đố, kiêu căng của mình gây ra, cho nên bây giờ mình vui vẻ đón nhận để trả cho hết nợ. Nghĩ được như thế thì tâm sẽ dịu, sẽ lắng xuống, chứ không còn bực tức, không còn sân hận để tạo thêm những nghiệp bất thiện khi bị người khác coi thường, khinh miệt nữa.

Như vậy là với người biết tu thì khi có phước, họ không bao giờ hưởng hết, mà biết chia ra, san sẻ ra cho người khác; còn nếu thọ nhận nghiệp quả bất thiện thì họ không mặc cảm, không buồn khổ, mà họ biết tự vui, vui gánh những gánh nặng đang gánh, tức là vui trả những cái nghiệp quả cũ mà bản thân đã gây tạo trong nhiều đời, nhiều kiếp vụng tu trước đây đã gây tạo. Đấy là những lợi lạc vô cùng lớn của người có học Phật pháp và có thực hành giáo pháp của Phật. Nhờ ánh sáng của Phật pháp soi sáng trong cuộc sống để khi gặp mọi chuyện trong đời, dù chuyện tốt hay chuyện xấu, chúng ta cũng biết cách để tích lũy phước đức, tạo ra sự an lạc cho mình và cho người. Nhờ vậy mà những điều thiện lành ngày càng tăng trưởng và những tâm bất thiện như kiêu căng, ngã mạn, mặc cảm, sân hận... không có cơ hội nảy sinh và chi phối chúng ta.

Vừa qua, trên các phương tiện truyền thông có đưa tin về một người thanh niên chuyên đón đường các nữ sinh, rồi dùng dao lam rạch lên tay, lên đùi các nữ sinh. Vì thường làm việc này nên người dân đã trình báo công an, sau đó anh ta bị công an bắt lại. Hỏi lý do vì sao lại đi làm chuyện hại người vô cớ như vậy, thì anh ta cho biết là gia đình anh không được hạnh phúc. Cha mẹ ly hôn, anh sống với mẹ. Người mẹ thì bỏ bê không quan tâm đến con cái. Quá chán nản, buồn khổ và thất vọng vì không được ai quan tâm, nên anh ta đi làm như thế. Câu chuyện này, cho chúng ta thấy trong cuộc đời, con người gặp rất nhiều nỗi khổ, niềm đau mà không biết cách để giải tỏa, để chuyển hóa, rồi từ đó lại gây thêm những nghiệp nhân bất thiện, để rồi khổ càng thêm khổ. Chúng ta may mắn được biết đến Phật pháp, được nghe, được học những lời dạy của Phật. Vì thế, phải luôn tin vào luật nhân quả, nghiệp báo và sống theo tinh thần nhân quả, sống một đời sống hướng thiện, hướng thượng để tâm chúng ta được an lạc, hạnh phúc trong đời này và đời sau.

Sống trong đời, mỗi người mỗi nghiệp. Mỗi người có những nghiệp quả, có những nhân duyên khác nhau. Chúng ta thấy có khi trong cùng một gia đình, có 5-7 anh em thì chỉ có người anh cả có uy đức, hoặc chỉ có người em út có uy đức mà thôi. Hễ những người này nói gì là cả nhà đều nghe theo, làm theo. Ngay chính cha mẹ trong nhà cũng thừa nhận cái uy đức của người con đó và còn bảo những đứa con khác nghe theo lời của người đó. Có gia đình thì người chồng có uy đức, hễ chồng nói gì là vợ con đều răm rắp nghe theo. Lại có gia đình thì người vợ có uy đức, hễ người vợ nói gì là chồng con đều im lặng và làm theo. Sở dĩ có sự khác nhau như thế là do nghiệp nhân từ nhiều đời trước, có người ôm lòng tật đố, ganh tỵ đố kỵ với người khác, tham lam của người khác. Có người thì không ôm lòng tật đố, ganh tị, đố kỵ; lại còn tùy hỷ với những chuyện tốt lành của người khác; không tham lam mà còn bố thí, sẻ chia với người khác, cho nên mới kết thành nghiệp quả là người này có uy đức, được may mắn; người kia thì nói không ai nghe, luôn gặp điều bất như ý.

Bên cạnh đó, trong xã hội, có những người đáng cung kính thì lại không cung kính, đáng tôn trọng thì không tôn trọng, đáng quý thì không quý, đáng phụng thờ thì không phụng thờ. Cụ thể là có những lúc, có những người, trong những tình huống nhất định, cần nhường đường thì chúng ta lại không nhường; đáng lúc cần nhường chỗ ngồi thì cũng không nhường; đáng để chắp tay hướng về lễ bái, thăm hỏi thì cũng không chắp tay hướng về lễ bái, thăm hỏi. Tất cả là vì lòng tự ngã, tự ái, tự kiêu của chúng ta mà ra cả. Thực ra, trong cuộc sống, có một số người tốt, nhưng vì có một vài người ghét họ, có hiềm khích với họ nên đặt điều, bịa chuyện để nói xấu, vu khống cho họ. Ngay cả với tầng lớp tu sĩ cũng thế, có những vị tu rất tốt, nhưng vẫn có một số người nào đó không thích rồi nói xấu, thêu dệt đủ điều. Chúng ta bàng quan, không biết rõ tình hình nhưng nghe người ta nói xấu thì mình cũng hùa theo, rồi không còn tâm cung kính, thăm viếng cúng dường nữa. Như vậy là chúng ta bị mất phước.

Nói về việc nhường chỗ ngồi cho người khác, ở các nước văn minh, họ có nếp sống và nếp văn hóa rất đáng quý, có cách hành xử ở nơi công cộng rất đáng nể phục. Chẳng hạn, ở trên xe buýt, người trẻ đang ngồi trên xe mà thấy có người lớn tuổi, người phụ nữ đang mang thai, thấy người đang bế trẻ nhỏ, hoặc thấy người tàn tật, hay thấy các vị tu sĩ thì họ đều đứng dậy, nhường ghế cho những người đó. Việc chúng ta nhường chỗ cho những người đáng được nhường như thế, vừa thể hiện nét văn minh, lịch sự trong giao tiếp của mình, vừa được phước báu tốt lành. Ngược lại, nếu ai không nhường chỗ cho người đáng được nhường chỗ, không cung kính người đáng cung kính, không lễ bái những người đáng lễ bái, thì sẽ nhận lấy những quả báo không được tốt đẹp trong đời này và đời sau. Chúng ta thấy rất rõ sự khác biệt về nghiệp báo, nhân quả của mỗi người trong cuộc đời này. Ngay từ thời còn đi học, ngay trong lớp học, chúng ta thấy có bạn thì con của những gia đình giàu sang, có bạn thì con của những gia đình trung lưu, lại có bạn thì con của những gia đình nghèo khổ, thậm chí có bạn còn thiếu ăn, thiếu mặc, áo quần rách rưới. Nghiệp nhân đã gieo tạo thì chắc chắn phải nhận lấy nghiệp quả của nó, không thể nào trốn chạy được. Chúng ta biết vậy để cố gắng tu tập, tránh dữ, làm lành, để đem lại an vui, hạnh phúc cho mình và cho người trong hiện tại cũng như trong tương lai.

 

(Còn tiếp)

Bình luận bài viết

    Tin sinh hoạt phật sự

    Video bài giảng

    Pháp âm

    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 113)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Tú Trinh
    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 112)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Tú Trinh
    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 111)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Tú Trinh
    Pháp âm khác >>

    Thống kê truy cập

    • Online: 52
    • Số lượt truy cập : 10789469