Thông tin

MỘT THOÁNG TÂM LINH

 

VU GIA

 

 

Đến các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, chưa hẳn là tín đồ thuần thành, nhưng trước cuộc sống bộn bề với nhiều áp lực bủa vây, người ta cần tìm nơi gửi gắm niềm tin, ước nguyện, hoặc tìm chút tĩnh lặng trong tâm hồn sau một chặng đường nỗ lực tự thân.

Cách nay 2.570 năm, đức Phật Thích Ca đản sanh, chỉ cho chúng sinh con đường lìa khổ đạt vui bằng thực tế bản thân mình, chứ không thuần lý thuyết và khẳng định: “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”. Ai cũng sẽ thành Phật chứ không chỉ riêng Ngài. Trong kinh Hoa Nghiêm, Ngài nhiều lần nhắc: “Tất cả chúng sinh vốn là Phật”, chỉ vì chưa giải mê khai ngộ nên chìm đắm trong bể khổ trầm luân.

Thực tế cuộc sống của những ngày hôm nay cho chúng ta thấy bất kỳ tôn giáo đến với bất kỳ dân tộc nào cũng phải nương theo tín ngưỡng dân gian mới có khả năng tồn tại, bởi tín ngưỡng dân gian có trước tôn giáo. Ở Việt Nam cũng thế.

Mỗi dịp Xuân về, thường từ ngày mồng 10 đến ngày rằm tháng giêng, nhiều người đến chùa, phủ, đền,... xin dâng sao giải hạn. Đây là nghi lễ tâm linh dân gian phổ biến đầu năm mới, dựa trên niềm tin mỗi người có một vị sao chiếu mệnh mang lại vận tốt hoặc hạn xấu. Theo tín ngưỡng dân gian Đông Á, 9 vị Cửu Diệu Tinh Quân là 9 vị sao chiếu mệnh, bao gồm: Thái Dương, Thái Âm, Mộc Đức, Thủy Diệu, Thổ Tú, Thái Bạch, Vân Hớn (Hỏa Đức), La Hầu và Kế Đô. Chu kỳ 9 năm/lần, mỗi người sẽ gặp một sao tốt/xấu tương ứng. Lễ này giúp hóa giải sao xấu, cầu mong bình an, sức khỏe và tài lộc, đồng thời mang lại sự an tâm, lạc quan cho gia chủ trong năm mới.

Đây thuộc về lĩnh vực tâm linh. Tâm linh là khía cạnh phi vật chất, tinh thần sâu sắc của con người, liên quan đến việc tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống, bình an nội tâm và kết nối với những điều thiêng liêng, vũ trụ, hoặc bản thể cao hơn. Nó không nhất thiết gắn liền với tôn giáo, mà là niềm tin cá nhân giúp con người hướng thiện, giảm căng thẳng và phát triển giá trị đạo đức.

Đại nguyện của Bồ tát Phổ Hiền

Có người khẳng định không có trong giáo lý Phật giáo, nhưng dâng sao giải hạn lại trở thành một trong những nghi thức đông người nhất mỗi dịp đầu Xuân. Có người cho đó là mê tín, trình độ dân trí thấp kém mới có những việc làm như thế. Đúng sai thật khó nói rạch ròi, bởi... linh tại ngã, bất linh tại ngã (tin do mình, không tin cũng do mình). Từ nhãn quan của người học Phật, lý giải chuyện này như thế nào?

Đọc không nhiều lắm, nhưng tôi biết 10 đại nguyện của Bồ tát Phổ Hiền (Phổ Hiền Thập Đại Nguyện) là nền tảng tu học quan trọng trong Phật giáo Đại thừa, giúp phát triển Bồ đề tâm và công đức vô lượng. Mười nguyện gồm: 1. Lễ kính chư Phật, 2. Xưng tán Như Lai, 3. Quảng tu cúng dường, 4. Sám hối nghiệp chướng, 5. Tùy hỷ công đức, 6. Thỉnh chuyển pháp luân, 7. Thỉnh Phật trụ thế, 8. Thường tùy Phật học, 9. Hằng thuận chúng sinh, 10. Phổ giai hồi hướng.

 

 

Phổ Hiền Bồ tát

 

Lễ kính chư Phật là kính lễ tất cả chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai khắp mười phương, trong đó có ta, có người, có chúng sinh. Trong Bồ Tát Giới Kinh, Phật dạy: “Tất cả người nam là cha ta. Tất cả người 0nữ là mẹ ta”, vậy có cần kính lễ với mọi người không?

Cây cỏ giúp cho không khí trong lành, giúp cho cuộc sống tươi mát, thậm chí còn điều trị một số bệnh, bao đời qua con người nhờ nó mà khai chi tán diệp. Một bài báo vừa được công bố trên tạp chí Foods - tạp chí khoa học quốc tế uy tín chuyên về nghiên cứu thực phẩm của Thụy Sĩ, cho thấy hiệu quả điều trị bệnh của các chất dinh dưỡng từ cây cỏ thiên nhiên, trong đó có bệnh béo phì, như nho, táo, chè xanh, ớt chuông, hành tây, hẹ, măng tây, cà chua, táo, anh đào, bông cải xanh, cải xoăn, rau diếp lá đỏ, quả việt quất, mâm xôi, bưởi, hòe, cà chua, đinh lăng, tam thất, đậu đỏ, đậu đen,... Như vậy, cây cỏ không đáng cho chúng ta kính lễ ư?

Những người cơ nhỡ, thân thể khiếm khuyết, ngày ngày lao động kiếm sống so với những kẻ lừa đảo, cướp giật, xem nhẹ luật pháp nhà nước, không đáng cho ta kính lễ ư?

Như vậy, Lễ kính chư Phật, không phải chỉ lễ kính những vị Phật thờ trong chùa, trong nhà mà lễ kính tất cả chúng sinh, trong đó có những bậc tiền nhân, những người khuất mày khuất mặt.

Hằng thuận chúng sinh là biết nhường nhịn, tôn trọng sự khác biệt, không chấp nhặt, tạo ra môi trường hòa hợp (lắng nghe, thấu hiểu) thay vì đối đầu. Đây là cách ứng xử, tiếp cận chúng sinh dựa trên căn cơ (trình độ, hoàn cảnh) của họ, chứ không ép buộc họ theo ý mình. Bồ tát thuận theo căn cơ để dìu dắt, giúp đỡ chúng sinh thoát khỏi khổ đau.

49 năm hoằng pháp độ sanh, đức Thích Ca Mâu Ni chưa lần nào nói chỉ có ta mới đúng còn người khác là sai, chưa khi nào phân biệt quý tiện sang hèn, chưa bao giờ khuyên ai bỏ niềm tin tôn giáo của mình để theo Ngài... Ngài dạy: “Giữ thân đừng nóng giận/ Điều phục thân an hòa/ Từ bỏ thân làm ác/ Thân chánh trực hiền hòa” (Kinh Pháp Cú, số 231), và “Vui thay hiếu kính mẹ/ Vui thay hiếu kính cha/ Vui thay kính sa môn/ Vui thay kính hiền thánh” (Kinh Pháp Cú, số 332).

Nhìn chung, Hằng thuận chúng sinh nhằm giúp con người nuôi dưỡng tâm từ bi, giảm bớt cái “tôi” (ngã chấp), tạo thiện duyên. Vì thế, đạo Phật dễ hòa quyện với tín ngưỡng dân gian, với văn hóa truyền thống. Đạo Phật luôn lấy từ, bi, hỉ, xả để hóa độ chúng sinh, chứ không dùng bạo lực để hóa độ chúng sinh.

Tùy hỉ công đức là vui cùng với niềm vui của người khác, tán thán việc thiện mà người khác làm, giúp chúng ta phá bỏ tâm đố kỵ, ích kỷ. Khi thấy người khác làm việc thiện, dù lớn hay nhỏ, mình đều vui vẻ tán dương, từ đó tích lũy công đức.

Do vậy, đến các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, chưa hẳn là tín đồ thuần thành, nhưng trước cuộc sống bộn bề với nhiều áp lực bủa vây, người ta cần tìm nơi gửi gắm niềm tin, ước nguyện, hoặc tìm chút tĩnh lặng trong tâm hồn sau một chặng đường nỗ lực tự thân. Đây là dạng liệu pháp tâm lý, chỉ cần tấm lòng, hằng thuận chúng sinh, tùy hỉ công đức là đủ, không bắt buộc tốn tiền. Nếu có tốn tiền cũng không đáng là bao so với tìm tới những trung tâm tư vấn của người phàm xác thịt có đầy đủ dục vọng như mình, thậm chí có khi còn nhiều hơn mình.

Tùy duyên bất biến

Trong cuộc sống, chúng ta có thể thấy đại nguyện Hằng thuận chúng sinh Tùy hỉ công đức mang ý nghĩa ứng xử văn hóa cao đẹp, tạo nên sự hòa thuận trong gia đình và xã hội. Khẩu vị của mỗi người không giống nhau, không thể yêu cầu người khác phải giống hệt mình. Bồ tát Phổ Hiền nói: “Hằng thuận chúng sinh/ Tùy hỉ công đức”, chính là dạy chúng ta phải thuận theo người khác chứ đừng yêu cầu người khác thuận theo mình, đây là chỗ khác biệt giữa Phật, Bồ tát với phàm phu. Phật, Bồ tát có thể tôn trọng, thuận theo người khác, phàm phu là muốn người khác tuân theo mình, phục tùng mình, cho nên phàm - thánh chỉ khác nhau ở trong một niệm.

Thực tế cuộc sống, ai cũng biết khi tâm an thì trí sáng. Tâm mạnh khỏe, thân liền mạnh khỏe. Nguyễn Du cũng từng viết: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” (Kiều). Tâm bất an, cảnh cũng bất an, nên “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” (Kiều). Thường ngày, chúng ta nghe nói “tâm hiền hậu”, “tâm thiện lương”, “tâm tốt”, “toàn tâm toàn ý”,... Nhà Phật thường nói “vọng tâm”, “chân tâm”, nhưng đã có người nói với tôi đó là chuyện... tào lao, bởi mình nghĩ, mình quyết, mình làm, mình chịu trách, chẳng có tâm nào chi phối cả.

Khoa học ngày nay đã khẳng định tâm là một hiện tượng phi vật chất, bao gồm toàn bộ hoạt động tinh thần, nhận thức, cảm xúc, tư duy và ý thức của con người. Trong đạo Phật, tâm (chitta) là sự ghi nhận, phân biệt, phản ứng với đối tượng bên ngoài, đồng thời là gốc rễ tạo tác hành vi, quyết định sự an định hay loạn động của cuộc sống.

Theo nhà Phật, “vọng tâm” là “tâm phàm phu”, bởi nó bị động, biến đổi theo cảnh (vui buồn theo sự việc, tham lam, sân hận, si mê), còn “chân tâm” là “tâm thanh tịnh”, vì nó sáng suốt, an nhiên, không bị dao động bởi ngoại cảnh, như kinh Thủ Lăng Nghiêm viết: “Tùy duyên bất biến”. Tùy duyên, không bị duyên xoay chuyển, không bị duyên ảnh hưởng. Tâm nương theo nhân duyên mà khởi lên, không có một “cái tôi” cố định, dẫn đầu các pháp thiện hay bất thiện.

Người ta đến các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo cầu mong sự an tâm, lạc quan thì chẳng có gì chê trách. Nếu ai đến gieo hạt đắng thì sẽ nhận quả đắng, nhân quả nhãn tiền, nên chúng ta hãy “hằng thuận chúng sinh, tùy hỉ công đức” sẽ thấy nhẹ lòng. Sống ở đời, không mấy ai không gặp những điều không tốt, không hay, cho rằng vận khí của mình kém thì dễ buông tay, phó mặc dòng đời đưa đẩy. Nhưng từ thực tế cuộc sống, tôi thấy nếu ai có kiên trì nỗ lực vượt qua, thì sẽ tạo thêm lòng tự tin. Bên cạnh đó, nếu mọi thứ đều ôm lấy tâm lý may mắn, đem sinh mệnh cùng tương lai ký thác tại vận khí, thì người ấy cũng khó đi được xa. Vì thế, vận rủi quấn thân chưa hẳn là điều xấu, hãy tự tin tiến bước, dẫu giữa đường gục ngã cũng mãn nguyện còn hơn làm con cá muối. Chỉ có sức mạnh trí tuệ, sức mạnh thân thể mới thuộc về mình, ai muốn hưởng dụng phải bỏ ra cái giá tương ứng. Muốn được vậy, nhiều người dựa vào niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo, chúng ta cũng nên tôn trọng, nếu họ không vi phạm pháp luật.

Những ngày hôm nay, muốn có việc làm ổn định và không bị AI thay thế, người lao động cần dựa vào mục tiêu nghề nghiệp, thu nhập theo từng mốc tuổi để nhìn lại mình nhằm tăng giá trị bản thân. Cần xác định học thêm gì (ngoại ngữ, kỹ năng số, kỹ năng mềm) hay làm thêm gì để đạt mục tiêu. Điều này buộc người lao động, nhất là lao động trẻ phải liên tục học hỏi, trau dồi kỹ năng mới thay vì chỉ dựa vào bằng cấp. Và trước nỗi lo mất việc, tìm không được việc làm phù hợp, mấy ai không tìm tới liệu pháp tâm lý?

Lúc khó khăn không hướng vận mệnh cúi đầu, lúc mê man không phủ định chính mình, trong tuyệt cảnh không buông bỏ hy vọng, đã có không ít người nhờ liệu pháp tâm lý mà kiên trì vượt qua chính mình với hy vọng đón ánh rạng đông.

Nhân sinh không phải là vùng đất bằng phẳng, có núi cao thì nhất định có thung lũng. Nhưng dù ở đâu, làm việc gì, nhất trong thời buổi cạnh tranh với AI này, thì luôn nhắc nhở mình cần phải đề cao tính kỷ luật và hiệu quả. Liệu pháp tâm lý chỉ giúp chúng ta yên tâm mà nỗ lực hơn nữa, chứ không thể giúp chúng ta ngồi không mà hưởng. Hãy luôn nhớ rằng ai cũng chỉ giúp ta một vài lần chứ không thể giúp ta cả một đời, muốn có chút thành tựu phải cần dựa vào chính mình.

Dùng liệu pháp tâm lý làm bệ đỡ

Vào đời, dường như ai cũng gặp phải không ít người nói như rồng leo, làm như mèo mửa, luôn tự cho mình thông minh nhất trần đời. Chúng ta đừng chê trách họ, đừng tranh cãi mà mích lòng nhau dẫn đến những chuyện không hay. Nếu khen được thì nên khen họ vài câu, còn bản thân mình phải nỗ lực nhiều hơn để có sản phẩm. Khi sản phẩm của mình được trưng bày, thì đó là câu trả lời hay nhất và chúng ta sẽ có thêm bạn, sẽ được tôn trọng. Phùng mang trợn mắt hơn nhau vài câu nói chẳng là gì cả. Phải chứng thực từ việc làm cụ thể của mình, chứ không phải từ những lời nói suông sướng miệng, nói theo nhà Phật là thân hành ngôn giáo. Đó cũng là “hằng thuận chúng sinh, tùy hỉ công đức”.

Gần đây, tôi đọc bài viết của Nguyễn Xuân Xanh trên trang mạng rosetta.vn, có đoạn: “Tôi đã mua được quyển sách Why the Science and Religion Dialogue Matters, thì thấy trong bài Science and Buddhism của GS Trịnh Xuân Thuận, có viết như thế này: “The religion of the future will be a cosmic religion. It will have to transcend a personal God and avoid dogma and theology. Encompassing both the natural and the spiritual, it will have to be based on a religious sense arising from the experience of all things, natural and spiritual, considered as a meaningful unity... Buddhism answers this description ... If there is any religion that could respond to the needs of modern science, it would be Buddhism” (Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo vũ trụ. Nó sẽ phải vượt lên một Thiên Chúa hình hài con người và tránh giáo điều và thần học. Bao gồm cả tự nhiên và tâm linh, nó sẽ phải dựa trên một ý nghĩa tôn giáo phát sinh từ trải nghiệm về vạn vật, tự nhiên và tâm linh, được coi như một thể thống nhất có ý nghĩa... Phật giáo đáp ứng những đòi hỏi này... Nếu có bất kỳ một tôn giáo có thể đáp ứng các nhu cầu của khoa học hiện đại, thì đó sẽ là Phật giáo - trang118). Nguyễn Xuân Xanh cho biết GS Trịnh Xuân Thuận trích dẫn từ nguồn Thinley Norbu (Rinpoche): “Welcoming Flowers” in Across the Cleansed Threshold of Hope: An Answer to the Pope’s Criticism of Buddhism (New York: Jewel Publication House, 1997).

Nói tới chuyện tâm linh, thì tôi cho rằng đã là con người không ở đâu không có và cũng chẳng phải trình độ dân trí thấp mới có. Báo Người Lao Động, ngày 07/3/2026, cho hay: “Theo Hãng tin AFP ngày 6-3, Phó chánh Văn phòng Nhà Trắng Dan Scavino đã chia sẻ một video trên nền tảng X cho thấy Tổng thống Mỹ Donald Trump đang ngồi trong Phòng Bầu dục trong khi các mục sư đứng cầu nguyện xung quanh ông”. Và “Các nhân vật trên đã tham gia cầu nguyện xin Chúa ban cho ông Trump sự khôn ngoan, bảo vệ ông khỏi mọi tai họa và giúp thúc đẩy các chính sách dựa trên những giá trị mà họ mô tả là giá trị đức tin và công lý”.

 


Gs Trịnh Xuân Thuận, nhà khoa học người Mỹ gốc Việt trong lĩnh vực vật lý thiên văn

 

Nhìn lại lịch sử nhân loại, lịch sử nước nhà, những nhân vật đại danh đỉnh đỉnh được nhân dân tôn thờ, có ai trưởng thành trong thế giới an vui? Hầu hết, họ trưởng thành từ trong nghịch cảnh áp bức. Và trong nghịch cảnh áp bức ấy, tôi không tin không có mấy ai không dựa vào niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo để làm bệ đỡ. Do đó, liệu pháp tâm lý cũng góp phần giúp con người an tâm hơn trước thử thách, trước khó khăn gặp phải.

Mặt trời soi sáng khắp nơi, nhưng vẫn có chỗ tối tăm nhìn không rõ mặt người. Nước nhuận càn khôn, nhưng vẫn có sa mạc hoang nguyên. Trên thế gian này, đồ vật chúng ta nhìn không thấy rất nhiều, nhưng không phải vì nhìn không thấy mà trực tiếp phủ nhận nó.

Qua việc đọc sách, trong đó có kinh sách tôn giáo, tôi nghĩ tùy theo căn cơ mà mỗi người có cách lĩnh ngộ riêng, nên người xưa mới nói “nhân giả kiến nhân, trí giả kiến trí”. Sức đọc và việc học Phật của tôi cũng chỉ đến chừng ấy. Nhân mùa Phật đản và không khí phấn khởi của mùa xuân còn sót lại, tôi lạm bàn một chút về lĩnh vực tâm linh, mong bạn đọc hoan hỉ chia sẻ.

Bình luận bài viết

    Tin sinh hoạt phật sự

    Video bài giảng

    Pháp âm

    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 113)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Tú Trinh
    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 112)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Tú Trinh
    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 111)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Tú Trinh
    Pháp âm khác >>

    Thống kê truy cập

    • Online: 70
    • Số lượt truy cập : 10789490