Thông tin

MÙA XUÂN, NGHĨ VỀ TỊNH ĐỘ GIỮA NHÂN GIAN

 

NGUYÊN CẨN

 

 

Từ ngàn xưa, con người đã mơ ước về một xã hội hay một thế giới lý tưởng, một chế độ chính trị và xã hội mà họ tin rằng sẽ giúp cho con người được no ấm và hạnh phúc. Thomas Moore, nhà văn Anh đã viết “Utopia” (1516) mô tả một xã hội tuyệt vời trên hòn đảo giả tưởng, hoàn hảo và công bằng, từ đó đặt ra một khái niệm về một nơi chốn không có thật, nhưng đáng mơ tưởng... Những giải pháp cho mọi vấn nạn nhân gian trong Utopia có thể là ngây thơ, là không tưởng, nhưng những ước mơ và nền tảng tư tưởng của nó thật sự làm kinh ngạc và xúc động lòng người. Thế giới phương Tây gọi nó là “cuốn sách nhỏ vĩ đại”. Chữ Utopia đã trở thành một danh từ trong ngôn ngữ của rất nhiều nước trên thế giới, đứng tên cho cái mơ ước và cũng là niềm thất vọng triền miên của nhân loại trên con đường tự hoàn thiện mình.

Con người từng thao thức về khu vườn Eden của thuở tạo thiên lập địa. Vườn Địa đàng, nơi đó mọi sự đều được dựng nên thật tốt đẹp, và tất cả sự tốt đẹp đó đều dành cho con người...

Thế nhưng, trải qua dòng lịch sử của nhân loại, chính con người lại phá đi sự tốt đẹp đó bằng những cách đầu độc mặt đất này để chạy theo lợi nhuận, theo lợi ích cá nhân. Đất Mẹ ngày càng khô cằn, nguồn nước sạch ngày càng cạn kiệt; cây trái, thực phẩm ngày càng mang nhiều hóa chất độc hại...

Hòn đảo Utopia là một hòn đảo được cai trị bởi chế độ cộng hòa nơi tư hữu không tồn tại. “Utopia” đại diện cho mơ ước và cũng là niềm thất vọng triền miên của nhân loại trên con đường tự hoàn thiện mình. Ở “Utopia”, bạo lực, đổ máu và những thói xấu dường như không tồn tại. Ở đấy, mọi sản phẩm lao động đều được phân phối đồng đều, mọi thứ đều sẵn sàng thừa thãi, chẳng ai lấy nhiều hơn mức cần thiết, chẳng ai muốn tích trữ khi biết rằng sẽ không bao giờ thiếu thốn. Họ coi khinh vàng bạc, dùng vàng bạc để làm gông xích cho tù nhân, dùng ngọc trai châu báu để làm trang sức cho trẻ con mẫu giáo. Cuộc sống ở “Utopia”, người dân biết thế nào là đủ. Mọi người sống với nhau bình đẳng, không có giàu nghèo, mọi của cải đều thuộc sở hữu cộng đồng, tất cả cùng lao động và cùng hưởng hạnh phúc, cùng tìm kiếm khoái lạc.

Thế nhưng, tác giả cũng như nhiều người khác cho rằng lòng tham đã hủy hoại tất cả và cái thế giới ấy chỉ có “trong mơ”!

Điều kiện cần và đủ về xã hội hài hòa

Xã hội vốn mang nghĩa hài hòa. Với Tây phương là société, society từ tiếng La tinh socius, có nghĩa companion, bạn cùng sống, bạn đồng hành.

Ước mơ và thực hiện của Khổng Tử là đi từ xã hội tiểu khang đến xã hội đại đồng. Có nền văn hóa, tôn giáo thực sự nào không nhắm đến việc thực hiện điều đó?

Nói theo Nguyễn Thế Đăng “Vậy thì xã hội hài hòa là gì? Trước hết, là sự hài hòa từng bộ môn. Chẳng hạn kinh tế phải tạo ra sự hài hòa trong chính nó: Hài hòa giữa thành thị với nông thôn, hài hòa giữa giàu và nghèo, hài hòa với môi trường sinh thái, với địa lý tự nhiên, với tài nguyên. Hài hòa được như thế tức là kinh tế phát triển bền vững. Mỗi bộ môn cần có sự hài hòa trong chính ngành ấy.

Sự hài hòa căn bản và rộng lớn là sự hài hòa của ba lĩnh vực, ba phạm trù ở trên, thế giới vật lý (Địa), thế giới con người (Nhân), thế giới tâm linh (Thiên). Việc thực hiện sự hài hòa hợp nhất này đều do con người (Nhân) đảm nhiệm. Đây là sứ mệnh vinh quang của con người. Qua con người, Đất và Trời được hài hòa hợp nhất. Hay nói theo hệ thống Bát nhã của Phật giáo, qua con người, thế giới vật lý hay thế giới hiện tượng (sắc) được hài hòa và hợp nhất với thế giới bản thể (tánh Không). Hoàn thành được sứ mệnh ấy là hoàn thành được ý nghĩa của con người và cũng là hoàn thành ý nghĩa của vũ trụ” (https://thuvienhoasen.org/a22157/xa-hoi-hai-hoa).

Khổng giáo và Lão giáo, kể cả trống đồng thời tiền sử ở Việt Nam, văn hóa Ấn với mục đích hài hòa và hợp nhất (đây là ý nghĩa chữ yoga), đều nhấn mạnh chữ Hòa, nghĩa là sự hài hòa của 3 lĩnh vực Thiên, Địa, Nhân. Chính vì lý tưởng chung này mà Phật giáo Đại thừa dễ dàng đi vào vùng Đông Nam Á, đã trở thành cột trụ chính làm cho triết học và văn hóa bản địa phát triển rực rỡ. Bởi vì mục đích của Đại thừa là sự hòa hợp, hợp nhất của sinh tử và Niết bàn, của Sắc và Không, của con người chúng sinh và Phật tính, của đời và đạo.

Jefferson và sau này Hồ Chủ tịch trong những tuyên ngôn của mình đã khẳng định quyền mưu cầu hạnh phúc (the right to pursue happiness) là quyền do tạo hóa ban cho tất cả mọi người và họ đều bình đẳng về cơ hội. Thế nhưng, quyền ấy không phải từ trên trời rơi xuống mà phải được xây dựng trên những định chế, những khuôn khổ luật pháp công minh, trên nền tảng kinh tế xã hội phát triển, chứ không đơn thuần là những khẩu hiệu. Nói như Dasho Meghraj Gurung, Quốc vương (Bhutan) tin tưởng rằng mục tiêu cuối cùng của chính quyền là vun đắp hạnh phúc cho toàn dân. Chính xuất phát từ niềm tin này mà ngài đã khẳng định rằng “Tổng hạnh phúc quốc gia còn quan trọng hơn Tổng sản phẩm quốc gia (GNP), do hạnh phúc luôn được xem là ưu tiên hàng đầu trên cả sự phồn vinh kinh tế trong  quá trình phát triển đất nước”. Nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nước không sợ loạn, chỉ sợ lòng dân không yên. Nước không sợ nghèo, chỉ sợ chia không đều”. Muốn lòng dân yên, thì phải tạo cơ hội bình đẳng cho mọi người cùng góp phần xây nên hạnh phúc cho mọi người, trong đó có cả quan chức và nhân dân. Nói theo ngôn ngữ kinh văn thì: “Nội dung quốc độ ấy là thanh tịnh hay uế trược, tùy theo loại chúng sinh tồn tại trong đó... Vì lợi ích và sự an lạc của chúng sinh, Bồ tát cần làm sạch môi trường sống. Làm sạch môi trường sống là điều kiện tốt, thuận duyên để chúng sinh tu tập và phát triển thiện căn như là gốc rễ của an lạc. Nhưng không thể làm sạch môi trường sống nếu không làm sạch tâm tư của chúng sinh” (Tuệ Sỹ - Huyền thoại Duy-Ma-Cật).

Cõi tịnh đâu xa

Trước thềm xuân Bính Ngọ, chúng ta tự hỏi có thể thiết lập Tịnh độ giữa nhân gian không?

Theo Hòa thượng Thích Chơn Thiện, trong “Tư tưởng kinh A Di Đà”, “Cõi Cực Lạc trên là cõi nước lý tưởng của các bậc Thánh thể hiện ước mơ của người đời, của chúng sinh, trong sinh tử đầy ô trược, khổ đau. (...) Mặt khác nếu hiểu cảnh giới A Di Đà là cảnh giới của tâm thức thì hạnh phúc của chúng sinh Cực Lạc có thể tìm thấy ngay ở đời” (Thích Chơn Thiện (2010) Tư tưởng Kinh A Di Đà, Nxb Phương Đông).

Với một tâm hồn hiền thiện, có chính kiến trí tuệ thấy vô ngã tướng của các pháp, thì tâm thức sẽ đón nhận ngay trong hiện tại những nguồn cảm thọ thanh thoát của hỷ lạc. Người ấy nghe như đời này có nhạc và hoa, thấy và nghe vô ngã, vô thường khắp mọi nơi, ý thức rõ ràng chỉ có các hiện tượng mệnh danh là khổ đau và ngay cả hiện tượng gọi là khổ đau, thì cũng chỉ là một nhóm nhân duyên và không có khổ đau thật. Hòa thượng đã phân tích 48 lời nguyện của Đức A Di Đà về việc thiết kế hay xây dựng Tịnh độ.

Xã hội đó, nói như Nguyễn Thế Đăng ở trên phải dựa trên nền tảng văn hóa vững chắc, văn minh cao, xã hội không có trộm cắp giặc giã, ác độc theo lời nguyện của Phật A Di Đà là không có ba đường dữ.

Xã hội gồm những con người khỏe mạnh, vui tươi, đẹp đẽ (theo lời nguyện (LN) số 3: Nhân dân đều có sắc vàng) và sống thiện, an lạc và hạnh phúc (LN số 4: Không có ranh giới khu biệt giữa trời và người).

Nhân dân biết tự giác để hướng thượng, học hỏi kinh nghiệm để hướng thượng (LN số 5: Nhân dân có túc mệnh thông).

Con người biết phát minh nhiều máy móc tinh vi có thể thu nhiếp hình ảnh từ những hành tinh xa xôi (LN số 6: Nhân dân có thiên nhãn thông).

Nhân dân sống thành thật, có lý tưởng phục vụ tập thể rõ ràng (LN số 7: Tha tâm trí).

Họ có các phương tiện di chuyển nhanh chóng thuận lợi và hiện đại (LN số 8: Biết bay đi tự tại).

Họ có các máy móc truyền âm, ghi âm tốt và thiện xảo (LN số 19: Nhân dân có thiên nhĩ thông - nghe xa như ý muốn).

Con người ở đó học hỏi nhiều, có kiến thức rộng (LN số 15 và 19: Biện tài vô ngại, hiểu xa).

Tất cả có học hiểu và hành đạo giải thoát của Giới, Định, Tuệ (LN số 28: Tất cả thấy cây Bồ đề).

Xứ sở sạch sẽ, vệ sinh, trật tự (LN số 31 và 32: Đất bằng phẳng, trong suốt như gươm, đầy hương thơm).

Ăn mặc đầy đủ, đẹp đẽ (LN số 38; Y phục tự nhiên có).

Nhân dân hạnh phúc, sáng tạo và trí tuệ phát triển vô hạn (LN số 44 và 48).

Về tư tưởng kiến thiết thế gian Tịnh Độ, Tiểu phẩm và đại phẩm Bát nhã có ghi các lời nguyện tương tự và cụ thể hơn các điều sau:

Nhân dân không phân biệt 4 giai cấp (LN số 12).

Trong nước tình trạng y tế tốt, ít người mắc bệnh (LN số 2).

Hệ thống giáo dục, tổ chức xã hội vận hành tốt, kinh tế phồn vinh.

Tất cả học hỏi và sống với thái độ nhân bản, xóa bỏ động cơ tranh chấp tham, sân, si, tâm vị kỷ, biết sống vì hạnh phúc nhân dân, đi vào cõi Tịnh độ. Tịnh độ không phải chỉ là một cõi ở phương Tây mà còn là trạng thái tâm không vọng động.

Một xã hội kết nối, tương thông

Mùa xuân, người ta thường ngồi lại bên nhau, nói chuyện để hiểu nhau hơn, vì mùa xuân là mùa đoàn tụ. Chúng ta gặp gỡ những người thân yêu, bè bạn; con cái từ nhiều nơi, hay từ phương xa về, quây quần sum họp, bên mâm cơm, tách trà, ly rượu hàn huyên. Vậy mà trong thời đại internet này, chúng ta rất thường bắt gặp hình ảnh cha con, chồng vợ vào quán, hay ngồi trong nhà, đối diện nhau mà mạnh ai nấy quẹt “iphone”, “ipad”, chả nói với nhau câu nào (!)Vậy làm sao kết nối yêu thương?

Nói theo Thiền sư Nhất Hạnh, chúng ta đã bỏ qua cơ hội “thiết lập truyền thông” với nhau. Làm sao mà tương tác (interact), lấy gì mà chia sẻ, cảm thông. Thiền sư Nhất Hạnh dạy rằng “Chúng ta truyền thông để hiểu người khác và để người khác hiểu ta. Nếu ta nói mà không ai nghe ta, thì ta không thực sự truyền thông. Có hai điều kiện căn bản để truyền thông có hiệu quả là: Thứ nhất là nghe sâu và thứ nhì là ái ngữ. Nghe sâu là nghe với ý muốn giúp người khác bớt khổ.

Khi lắng nghe với tâm thương yêu thì ta không bị kẹt vì óc phán xét.” (Thích Nhất Hạnh - The Art of Communicating). Người nói thêm rằng “nghe với tâm thương yêu là trở về với mái ấm”. Vậy thì mùa xuân chính là cơ hội cho chúng ta ngồi lại lắng nghe, chia sẻ và động viên nhau, tiếp thêm sức mạnh đi tiếp cuộc hành trình cam go của cá nhân, của cộng đồng hay đất nước nhất là trong giai đoạn còn nhiều khó khăn phía trước.

Trời với đất tụ về chung một góc

Một đêm nào đời đứng lại nghe xuân.

(Bùi Giáng)

Một xã hội mà người dân có quyền chia sẻ những phúc lợi, hưởng những thành quả văn hóa, kinh tế mà thành phố mình, đất nước mình đã đạt được, thì xem như một xã hội bền vững. Làm thế nào dẫn dắt toàn dân đến một xã hội hài hòa cả Thiên-Địa - Nhân, trong đó sự phát triển tâm linh và nền tảng văn hóa là yêu cầu tất yếu.

Nói cách khác, theo ngôn ngữ thời đại là cộng đồng gồm những kẻ thiện tâm cùng xây dựng một xã hội kết nối yêu thương, tương thông, với một nền kinh tế tri thức, phát triển bền vững, khai thông mọi điểm nghẽn, tập trung nguồn lực, vì mục tiêu của kỷ nguyên mới, chuyển mình trở thành một quốc gia cường thịnh, đáng sống, và xây dựng một thể chế công bình. Chúc cho những khát vọng mùa xuân của bạn, của tôi, và của tất cả chúng ta đều sẽ thành hiện thực. Một mùa xuân mới, Bính Ngọ, đang chờ phía trước - hãy cùng nhau đón chào, tràn đầy năng lượng và nhiệt huyết!

Bình luận bài viết

    Tin sinh hoạt phật sự

    Video bài giảng

    Pháp âm

    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 79)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Tú Trinh
    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 78)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Tú Trinh
    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 77)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Tú Trinh
    Pháp âm khác >>

    Thống kê truy cập

    • Online: 34
    • Số lượt truy cập : 9385575