Thông tin

NHÂN VẬT PHẬT GIÁO VIỆT NAM - VẦN Hưng

Hưng

 

- Thích Huệ Hưng (1917-1990), Hòa thượng, Thiền sư, Luật sư, thế danh Nguyễn Thanh Chẩm, xuất gia với HT Chánh Thành - chùa Vạn An - Sa Đéc, pháp danh Ngộ Trí, pháp tự Huệ Hưng. Năm 1945, ngài vào PHĐ Lưỡng Xuyên được 6 tháng thì trường đóng cửa, ngài về học với HT Hành Trụ ở chùa Long An - Sa Đéc. Năm 1947, ngài học ở PHĐ Liên Hải - Sài Gòn. Năm 1951, ngài giảng dạy tại PHĐ Giác Nguyên và dịch thuật kinh điển. Năm 1954, ngài dạy tại PHĐ Nam Việt - chùa Ấn Quang. Năm 1956, ngài trụ trì chùa Kim Huê - Sa Đéc và dạy PHĐ Phước Hòa - Trà Vinh. Năm 1962, ngài khai sơn thiền viện Tập Thành - Bà Chiểu. Năm 1966-1969, ngài làm Giáo thọ sư Cao đẳng Phật học viện Huệ Nghiêm. Năm 1970 khai sơn tu viện Huệ Quang. Năm 1974, ngài là Tổng lý Hội đồng Quản trị tổ đình Ấn Quang. Năm 1982, là Phó BTS THPG TP Hồ Chí Minh. Năm 1984 là Trưởng ban Chuyên môn Viện NCPH Việt Nam kiêm Hiệu phó trường Cao cấp Phật học Việt Nam cơ sở 2. Ngài là thiền sư thiền phái Đốn ngộ Việt Nam (hợp tác với thiền sư Duy Lực khôi phục Tổ sư thiền Việt Nam), tác phẩm: Kinh Duy Ma Cật (dịch); Kim Cang Giảng lục; Lược sử đức Lục Tổ; Pháp môn tu chứng Lăng Nghiêm đại định; Kinh Phật thuyết Đương lai biến; Kinh Phật thuyết diệt tận; Tập Tri kiến Giải thoát; Kinh Phạm Võng hiệp chú. Cuối đời ước nguyện lớn của ngài là làm sao để tiếp tục thực hiện những điều mà ngài đã hứa với Hòa thượng Phó Tăng thống Thích Thiện Hòa trong việc gìn giữ và phát triển Đại Tòng Lâm cho xứng tầm với công cuộc hòa nhập cộng đồng, phát triển của đạo pháp và dân tộc. Thế nhưng lực bất tòng tâm bởi tuổi cao sức yếu, và dự án Viện Chuyên tu tại Đại Tòng Lâm bất thành. Ngài viên tịch ngày 28 tháng Giêng năm Canh Ngọ, thọ 74 tuổi, 46 hạ lạp, nguyên quán Đồng Tháp, trú quán TP Hồ Chí Minh - xem thêm ở Danh Tăng Việt Nam tập 1.

- Khái Hưng (1896-1947), nhà văn, cây bút chính của Tự Lực văn đoàn, ông tên thật là Trần Khánh Giư, bút danh Khái Hưng, sinh năm 1896, đỗ Tú Tài và dạy ở trường tư thục Thăng Long - Hà Nội. Tác phẩm của ông đề cao tính nhân văn, bối cảnh làng quê chùa chiền Việt Nam nên được mọi giới hâm mộ. Trong những năm 1935-1945, ông là cây bút được giới trẻ thành thị ưa chuộng. Những tác phẩm của Tự Lực văn đoàn nói chung và Khái hưng nói riêng, có sức lan tỏa trong giới PG sâu rộng và sống mãi với thời gian. Tác phẩm liên quan PG: Hồn Bướm Mơ Tiên (1933); Tiêu Sơn Tráng Sĩ (1937). Ông mất năm 1947, nguyên quán Hải Phòng, trú quán Hà Nội.

- Trang Quảng Hưng (1893-1946), Hòa thượng, pháp danh Như Tiến, pháp tự Giải Hinh, pháp hiệu Quảng Hưng, đời 41 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 8 pháp phái Chúc Thánh. Ngài thế danh Trang Văn Trí, sinh năm Quý Tỵ (1893) tại làng Cẩm Phô, Hội An, Quảng Nam. Xuất gia với Hòa thượng Phước Trí tại chùa Tam Thai, thọ Tỳ kheo với tổ Vĩnh Gia tại chùa Phước Lâm năm 1910, đắc pháp với HT Phước Điền với hiệu là Quảng Hưng. Năm 1924, ngài mua đất lập chùa Từ Vân tại Đà Nẵng. Năm 1928 mở giới đàn tại đây và HT. Thích Trí Thủ là thủ Sa di giới đàn này. Năm 1930, ngài vào Phan Thiết lập chùa Pháp Bảo tại phường Lạc Đạo, tham gia nhiều trường Hương, trường Kỳ và các giới đàn tại Phan Thiết và miền Nam. Ngài chủ trương chấn hưng Phật giáo phải như sau: "CHPG phải vừa có lý thuyết vừa có thực hành". Ngoài việc lập trường Phật học nên chú ý đến cứu khổ chúng sanh như lập Nhà Dục Anh nuôi trể mồ côi, lập bệnh viện từ thiện... Ngài tịch ngày 17 tháng 12 năm Bính Tuất (1946) tại Phan Thiết. Ngài nguyên quán Quảng Nam, trú quán Phan Thiết - theo Thích Như Tịnh sưu khảo.

- Thích Trí Hưng (1908-1986), Hòa thượng, thế danh Nguyễn Tăng, năm 1930, ngài lập thảo am hiệu Thạch Liêm để tu học. Năm 1933, ngài xuất gia thọ pháp với HT Hoằng Thạc - chùa sắc tứ Thạch Sơn, pháp danh Chơn Miên, pháp tự Đạo Long, pháp hiệu Trí Hưng, được bổn sư giao chức Giám viện chùa Sắc tứ Thạch Sơn. Năm 1938, ngài giữ chức Kiểm Tăng tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1939, ngài trụ trì chùa Sắc tứ Thạch Sơn và Kiểm Tăng Sơn môn. Năm 1938, hội An Nam Phật học tỉnh Quảng Ngãi thành lập, ngài được cung thỉnh làm Chứng minh đạo sư của Hội. Năm 1939, ngài được triều đình phong Tăng cang chùa Từ Lâm. Năm 1947, ngài làm Tổng thư ký Hội đồng Trị sự Sơn môn tỉnh Thừa Thiên. Năm 1955, ngài trùng tu tổ đình Thiên Ấn - Quảng Ngãi và thành lập GHPG tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1958 ngài làm Tăng trưởng PG Cổ Sơn môn tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1963, ngài là Phó tăng thống Giáo hội PG Cổ Sơn Môn. Năm 1965, ngài trụ trì chùa Thiền Lâm - Chợ Lớn, ngài tịch tại chùa Thiền Lâm ngày 14 tháng 9 năm Bính Dần (17-10-1986), thọ 79 tuổi, 57 tuổi đạo, nguyên quán Quảng Ngãi, trú quán TP Hồ Chí Minh - xem thêm ở Danh Tăng Việt Nam tập 1.

Bình luận bài viết

    Tin sinh hoạt phật sự

    Video bài giảng

    Pháp âm

    • Những áng mây trắng - Thơ: Hoang Phong - Diễn ngâm: Hồng Vân
    • Mẹ ơi - Thơ: Thích Phước Hạnh - Nhạc: Hoàng Lan
    • Khúc ca Tịnh Độ - Lời: Thích Phước Hạnh - Nhạc: An Sơn
    Pháp âm khác >>

    Thống kê truy cập

    • Online: 23
    • Số lượt truy cập : 6267069