Thông tin

NHÂN VẬT PHẬT GIÁO VIỆT NAM - VẦN T

T

 

- Thích Thiện Tài (1912-1985), Hòa thượng, thế danh Trần Văn Tài, xuất gia năm 1919 với HT Như Liễn Phổ Lý - chùa Bửu Lâm - Sa Đéc, pháp danh Hồng Thanh. Năm 1929, ngài theo học với Pháp sư Bửu Chung Như Kim - chùa Phước Long và HT Chánh Thành - chùa Vạn An - Sa Đéc. Năm 1942, ngài theo học tại PHĐ Lưỡng Xuyên - Trà Vinh. Năm 1945, ngài làm Pháp sư cho PHĐ Tăng Già và Giác Nguyên - Xóm Chiếu - Sài Gòn. Ngài được thỉnh kế truyền tổ vị chùa Bình Hòa và được HT Đạt Tỷ Hoằng Đức trao pháp tự Ngộ Tài, pháp hiệu Pháp Bảo, đời 30 dòng Lâm Tế Tổ Đạo (?). Năm 1947, ngài về Sa Đéc kế thế trụ trì chùa Bửu Lâm.  Năm 1951, ngài làm Trị Sự trưởng Giáo hội Tăng già tỉnh Kiến Phong. Năm 1964, ngài làm Chánh Đại diện GHPGVNTN tỉnh Kiến Phong. Năm 1982, ngài được suy tôn Chứng minh Tỉnh hội PG Đồng Tháp. Ngài có công khai sơn các chùa: Hòa Long- Cao Lãnh; chùa Phát Quang - Tam Nông; nhận chùa Linh Phước- Sa Đéc; nhận chùa Vạn Phước - Tân Khánh Đông; nhận chùa Thiền Lâm - Châu Thành; nhận chùa Linh Phước - Cao Lãnh. Ngài đã biên soạn và giảng dạy các bộ: Tòng Lâm Quy Thức (5 quyển); Tòng Lâm Thanh Quy (5 quyển); Di Giáo Kinh giảng giải (5 quyển); Tứ Thập Nhị Chương giảng giải (1 quyển); Quy Nguyên Trực Chỉ giảng giải (3 quyển); Nhị thời khóa tụng giảng giải (2 quyển). Ngài xả báo thân ngày 14 tháng 6 năm Ất Sửu (1985), thọ 73 năm, 52 hạ lạp; nguyên, trú quán Đồng Tháp - xem thêm Danh Tăng Việt Nam, tập 3.

- Hải Bình Bảo Tạng (1818-1862) Hòa thượng, tổ sư, thiền phái Lâm Tế Liễu Quán, khai sơn các chùa Cổ Thạch, Thiền Lâm ở Ninh Thuận. Tổ vào Đất Đỏ Bà Rịa lập Châu Viên Sơn Tự và chùa Ngọc Tuyền, Bửu Long; nguyên quán Phú Yên, trú quán Bà Rịa, Phú Yên - xem thêm Thích Thanh Từ, Thiền sư Việt Nam.

- Thích Nguyên Tạng (bút danh Tịnh Tuệ, Phổ Trí, Nhân Văn, Vĩnh Thái...) sinh ngày 05-12-1967 tại Vĩnh Thái, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa; xuất gia năm 1980 tại chùa An Dưỡng - Nha Trang, thọ giới Sa di năm 1985 và thọ giới Cụ túc năm 1988. Thầy tốt nghiệp Trường Cơ bản Phật học Vĩnh Nghiêm năm 1992, Trường Đại học Sư phạm (ngành ngoại ngữ Anh) năm 1995 và Trường Cao cấp Phật học năm 1997. Sau khi đến Úc định cư vào năm 1998, thầy đã học và lấy bằng Cử nhân Xã hội học tại Đại học La Trobe năm 2006. Thích Nguyên Tạng có một anh ruột là Thượng tọa Thích Tâm Phương, khai sơn và trụ trì tu viện Quảng Đức - Melbourne - Úc. Từ năm 1990, thầy là cộng tác viên thường trực cho báo Giác Ngộ (phụ trách trang Phật giáo Quốc tế) cho đến năm 1998 rời VN và đến định cư tại Úc theo diện Nhà truyền giáo (Minister of Religion). Sau khi đến Úc, thầy đã sáng lập trang nhà điện tử quangduc.com vào mùa Phật Đản 1999 để phổ biến giáo lý của 2 truyền thống: PG Nguyên thủy và PG Phát triển. Đây là một trong số ít trang nhà PG đầu tiên của PGVN trong và ngoài nước vào cuối thập niên 90, sau khi mạng lưới internet toàn cầu chính thức phổ cập vào cuối thập niên 90. Vì những đóng góp thiết thực cho Tôn giáo, Văn hóa, Giáo dục, Từ thiện... năm 2001, thầy được Chính phủ Liên bang Úc trao tặng Huy Chương Thiên Niên Kỷ (Centenary Medal) nhân dịp kỷ niệm 100 năm thành lập Chính quyền Liên bang (1901-2001) của quốc gia này. Hiện nay, thầy đang là Phó Tổng Thư ký, kiêm Tổng Vụ phó Tổng Vụ Hoằng pháp của GHPGVNTN Hải ngoại tại Úc và New Zealand. Ngày 17-7-2009, tại khóa An cư Kiết hạ, tổ chức tại chùa Pháp Bảo - Sydney - Úc, thầy được Hội đồng Giáo phẩm Trung ương của Giáo hội tấn phong lên Thượng tọa. Đầu tháng 7-2014, TT Thích Nguyên Tạng chính thức được GHPGVNTN Hải ngoại bổ nhiệm làm trụ trì tu viện Quảng Đức; nguyên quán Nha Trang, Khánh Hòa, trú quán Australia - Thích Vân Phong biên khảo.

- Lâm Như Tạng, Cư sĩ, Tiến sĩ, sinh năm 1943 tại Quảng Ngãi, nguyên là tu sĩ PG, pháp danh Thích Như Tạng. Năm 1967, ông tốt nghiệp Cao đẳng PHV Huệ Nghiêm - Sài Gòn. Năm 1968, ông học cả 2 trường Đại học Luật khoa Sài Gòn và Đại học Vạn Hạnh. Năm 1969, ông du học Nhật Bản cùng các ngài Chơn Thành, Minh Tâm... Năm 1975, ông tốt nghiệp cử nhân Kinh tế Chính trị học - Đại học Meijji. Năm 1977, ông tốt nghiệp Tiến sĩ Chính trị học - Đại học Meijji - Tokyo - Nhật Bản. Năm 1986, ông định cư tại Sydney - Australia. Từ năm 1987, ông làm việc trong Bộ Tư pháp bang New South wales - Sydney. Về hoạt động PG, ông là Phó Tổng Vụ trưởng Tổng Vụ Văn hóa Giáo dục thuộc Hội đồng Ðiều hành GHPGVNTN tại Australia và New Zealand; tác phẩm: So Sánh Hai Chế Ðộ Chính Trị của Anh và Hoa Kỳ - Tokyo, 1977; Tự Ðiển Vietnamese - Japanese - Ede  (Lâm Như Tạng và T. Shintani  etc.), Tokyo, 1981; Nghiên Cứu về Ðiều Chín Hiến Pháp Nhật Bản, Tokyo, 1983; Những Ðặc Ðiểm Trong Phương Pháp Quản Lý Xí Nghiệp tại Nhật Bản (bằng tiếng Việt và tiếng Anh),  Sydney, 1988; Về thơ: Gởi Về Quê Mẹ, Tokyo, 1978; Hạnh Phúc Từ Ðây (Như Tạng và Ngọc Bích), Tokyo, 1982; Những Bước Thời Gian, Tokyo, 1984; Trọn Vẹn Một Tình Yêu, Sydney, 1991; Con Ðường Cảm Thông (truyện thơ), Sydney, 1986. Hiện, ông đang cộng tác với các báo Viên Giác - Đức Quốc và báo Pháp Bảo - Sydney và các trang mạng PG trong, ngoài nước; nguyên quán Quảng Ngãi, trú quán Australia - trang nhà www.quangduc.com

- Minh Huyên Pháp Tạng (1807-1856), Giáo chủ Bửu Sơn Kỳ Hương, sinh ngày 15-10-Đinh Mão (14-11-1807), tại làng Tòng Sơn, thuộc tổng An Tịnh, huyện Vĩnh An, phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thành, thuộc địa phận Gia Định thành. Sau này, làng Tòng Sơn thành xã Mỹ An Hưng, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp; thế danh Đoàn Minh Huyên, pháp danh Minh Huyên, đạo hiệu Giác Linh, dòng Lâm Tế Chánh tông đời 38, được tín đồ gọi tôn kính là Phật Thầy Tây An. Năm 1849, ngài sáng lập giáo phái (Bửu Sơn Kỳ Hương) bản địa đầu tiên ở An Giang, với tôn chỉ “Học Phật Tu nhân”, tích cực thực hành Giáo lý Tứ ân của đạo Phật: “Ân tổ tiên cha mẹ, Ân Tổ quốc, Ân Tam bảo, Ân đồng bào nhân loại”. Ngài còn là một chí sĩ yêu nước, nhà dinh điền đã có công khai hoang nhiều vùng đất ở Nam Bộ (Việt Nam), chuẩn bị việc binh lương cho cuộc khởi nghĩa của nhị vị đệ tử anh hùng Phật tử Nguyễn Trung Trực, Trần Văn Thành... (Trại ruộng Láng Linh, Bảy Thưa). Ngài nhập Niết bàn vào giờ Ngọ, ngày 12 tháng 8 năm Bính Thìn (10-9-1856), an  táng tại Tây An Cổ Tự - Châu Đốc - Thích Vân Phong biên khảo.

- Chơn Chánh Pháp Tạng (?-?), Hòa thượng, dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời 40, xuất gia thuở nhỏ với tổ Ấn Thiên Huệ Nhãn - chùa Từ Quang, pháp danh Chơn Chánh, pháp tự Đạo Tâm, pháp hiệu Pháp Tạng. Sau khi tổ Huệ Nhãn viên tịch, ngài đến cầu pháp với tổ Ấn Chánh Huệ Minh tại tổ đình Bảo Sơn - Tuy An và kế thừa trụ trì tổ đình Phước Sơn - Đồng Tròn. Thời gian kế thừa, ngài đã mua thêm ruộng đất và trùng tu ngôi tổ đình. Năm 1889-1890, ngài được mời ra Huế thuyết pháp tại chùa Kim Quang và chùa Viên Thông, được vua Thành Thái mến mộ, tặng áo cà sa và mũ Quan Âm cùng với kim ngân. Tại đây, ngài đã chú nguyện đúc một đại hồng chung  100 kg. Năm 1893, ngài được cung thỉnh làm Yết ma A xà lê tại đại giới đàn chùa Chúc Thánh - Quảng Nam. Năm 1906, ngài được cung thỉnh làm Đàn đầu Hòa thượng tại giới đàn chùa Sắc tứ Từ Quang. Năm 1907, ngài tổ  chức đại giới đàn tại tổ đình Sắc tứ Phước Sơn; không rõ năm sinh năm mất; nguyên, trú quán Phú Yên - Thích Thanh Minh sưu khảo.

- Thích Quang Tạng (1934-2004), Hòa thượng, xuất gia với HT Diệu Quả - chùa Từ Quang, pháp danh Tâm Bửu, pháp tự Quang Tạng, thế danh Nguyễn Nghiêm. Năm 1965, y chỉ với HT Mật Hiển - chùa Trúc Lâm, ngài được phân công làm Giảng sư lưu động trong và ngoài tỉnh. Năm 1970, ngài được Giáo hội bổ nhiệm trụ trì chùa Hương Từ - thị trấn Phú Bài. Năm 1972, ngài xây dựng Trường Bồ Đề Hương Từ và đảm trách Giám đốc trường. Năm 1982, ngài là Ủy viên BTS PG tỉnh, Chánh Đại diện PG huyện Hương Phú, rồi Hương Thủy; nguyên, trú quán Thừa Thiên Huế - theo Chư tôn Thiền đức & Cư sĩ hữu công Thuận Hóa.

- Tổ Tuệ Tạng (1889-1959), hiệu Thích Tâm Thi, Hòa thượng, Luật sư, trụ trì chùa Quy Hồn (tức chùa Cồn), nên cũng có hiệu là Tổ Cồn. Ngài thế danh Trân Thanh Thuyên, xuất gia với sư tổ chùa Phúc Lâm - Quần Phương Thượng - Nam Định, pháp danh Tâm Thi, pháp hiệu Tuệ Tạng. Năm 1920, ngài cùng chư Tôn đức lập Hội Tiến Đức Cảnh Sách, thâu nhận Tăng ni hữu học có đức hạnh, không phân biệt sơn môn pháp phái, để huấn luyện làm đống lương cho Phật pháp sau này. Năm 1934, miền Bắc dấy lên phong trào chấn hưng Phật giáo, ngài cùng chư Tôn đức và hàng cư sĩ đứng ra thành lập Hội Bắc kỳ Phật giáo - trụ sở  đặt tại chùa Quán Sứ - Hà Nội. Năm 1935, ngài giữ chức Giám viện chùa Quán Sứ. Năm 1936, ngài là Giám quản, kiêm Đốc giáo Tăng học đường chùa Bằng Sở - Hà Nội. Từ 1941 đến 1945, ngài kiêm nhiệm Giám đốc và Đốc giáo Tăng học đường Bắc Việt trong thời kỳ chiến tranh, vừa lo việc hậu cần (ăn, mặc, ở) và lo cho hơn 50 vị tăng sinh khi trường phải di chuyển từ chùa này sang chùa khác trước khi trở lại chùa Quán Sứ và được cụ Hội trưởng Hội Tế Sinh Bắc Việt cúng dường một ngôi chùa, một tăng học đường và 100 mẫu ruộng ở tỉnh Phúc Yên. Đầu năm 1945, thời Nhật Bản chiếm đóng, ngài nhận trách nhiệm Chánh Hội trưởng Hội PGVN, phương trượng trụ trì chùa Quán Sứ. Năm 1946, ngài xin từ chức, trở về chùa Cồn - Nam Định tịnh dưỡng. Năm 1949, thường có khoảng hơn 60 vị tăng sinh theo học với ngài. Ngài được cung thỉnh Chứng minh đạo sư Tổng hội Phật giáo Việt Nam. Năm 1952, ngài được suy tôn Thượng thủ Tăng già toàn quốc. Ngài viên tịch vào ngày 10-5-1959 tại Nam Định, thọ 71 năm. Ngài được tứ chúng Phật tử và giới văn nghệ sĩ trí thức kính trọng và tôn vinh vị Luật sư đệ nhất trì luật. Ngài nguyên quán Nam Định, trú quán Hà Nội, Nam Định - xem thêm Danh Tăng Việt Nam, tập 1.

- Chơn Tâm - Đạo Tánh (1869-1896), Hòa thượng, thế danh Nguyễn Phúc Ưng Dỗ, cháu nội Tuy Lý Vương, vào trú ở Tuy An - Phú Yên, xuất gia với ngài Ấn Thiên - Tổ Hòa, được pháp danh là Chơn Tâm, pháp tự Đạo Tánh. Ngài học đạo với ngài Ấn Chánh - Tổ Tông ở chùa Bảo Sơn, được pháp hiệu Pháp Thân, dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời 39, trụ trì chùa Phước Huệ - Huế; nguyên, trú quán Thừa Thiên Huế - theo Chư tôn Thiền đức & Cư sĩ tiều bối hữu công PG Thuận Hóa.

- Thích Đức Tánh (1946-2004), Hòa thượng, dòng Lâm Tế Liễu Quán đời 44, đệ tử HT Trí Thủ - chùa Báo Quốc, pháp danh Nguyên Thuận, pháp tự Đức Tánh, thế danh Hồ Văn Sanh. Năm 1970, ngài làm trong Ban Giám đốc hãng Vị trai Lá Bồ Đề. Trước 1975, ngài là giáo viên dạy toán các trường Bồ Đề và giáo thọ sư dạy kinh điển PG các trường Phật học. Năm 1997-2002, ngài là thành viên BTS PG tỉnh Thừa Thiên Huế; đến nhiệm kỳ 2002-2007, ngài là Phó Ban Giáo dục Tăng ni PG tỉnh Thừa Thiên Huế; nguyên, trú quán Thừa Thiên Huế - theo Chư tôn Thiền đức & Cư sĩ Thuận Hóa.

- Thích Giác Tánh (?-1978), Hòa thượng, Trưởng lão, Tăng chủ Giáo hội Tăng già Khất sĩ Việt Nam, viên tịch ngày 21-12-1978 tại tịnh xá Trung Tâm - Bình Thạnh; chưa rõ thân thế - theo Biên niên sử PG Sài Gòn - Gia Định.

- Thích Giác Tánh (1911-1987), Hòa thượng, thiền phái Lâm Tế Liễu Quán đời 44, đệ tử HT Huệ Chiếu - chùa Hưng Long, pháp danh Nguyên Lưu, pháp tự Chí Ý, pháp hiệu Giác Tánh, thế danh Võ Phi Long. Năm 1936, ngài là học tăng PHĐ Tây Thiên và Báo Quốc. Năm 1943, ngài về chùa Hưng Long mở PHĐ và thành lập Đoàn thanh niên Tăng sĩ Bình Định. Năm 1945, ngài cùng các HT sáng  lập Chúng Lục Hòa PG Liên khu 5 và đến năm sau đổi tên thành Hội PG Cứu quốc Liên khu 5. Từ năm 1948-1958, ngài làm Phó Giám đốc các Phật học đường Thiên Đức, Nhạn Sơn và Thập Tháp, Phó Trị sự trưởng Giáo hội Tăng già Trung phần. Năm 1964, ngài là Chánh Đại diện PG miền Liễu Quán và là Trưởng lão Viện Tăng thống GHPGVNTN. Năm 1981, GHPGVN thành lập, ngài được cung thỉnh vào thành viên HĐCM TW GHPGVN, viên tịch ngày mồng 4 tháng Giêng năm Đinh Mão (01-02-1987) tại chùa Thiên Đức, thọ 77 tuổi đời, 57 hạ lạp; nguyên, trú quán Bình Định - xem thêm Danh Tăng Việt Nam, tập 1.

- Thích Minh Tánh (1924-1995), Hòa thượng, dòng Lâm tế Liễu Quán đời 44, xuất gia năm 1940 với HT Tâm Thông - chùa Linh Quang - Đà Lạt, pháp danh Nguyên Chơn, pháp hiệu Minh Tánh, thế danh Từ Phước Thành. Năm 1949-1959, ngài trụ trì chùa Tỉnh hội Bình Thuận và chùa Linh Quang - Đà Lạt. Năm 1964, ngài là Chánh Đại diện GHPGVNTN tỉnh Long An, trụ trì chùa Thiên Khánh - Long An. Năm 1983, ngài là Phó Ban Thường trực BTS GHPGVN tỉnh Long An. Năm 1992, ngài là Hiệu trưởng Trường Cơ bản Phật học tỉnh Long An. Ngài xả báo thân ngày 9 tháng 8 năm Ất Hợi (1995), thọ 72 năm, 47 hạ lạp, bảo tháp lập ở vườn tháp chùa Thiên Khánh  - Long An; nguyên quán Quảng Ngãi, trú quán Long An - xem thêm Danh Tăng Việt Nam, tập 2.

- Thích Thiện Tánh (1912-2016), Hòa thượng, dòng Lâm Tế Liễu Quán đời 44, xuất gia năm 1960 với HT Từ Ý - chùa Hòa An - Tam Kỳ, pháp danh Nguyên Trí, pháp tự Thiện Tánh, pháp hiệu Quang Minh, thế danh Huỳnh Viết Tấn. Năm 1972, ngài thọ Tỳ kheo tại giới đàn chùa Phật Ân - Mỹ Tho. Sau khi thọ giới, ngài về trụ trì chùa Giác Nguyên - Thăng Bình. Năm 1981, GHPGVN thành lập, ngài làm Chánh Đại diện PG huyện Thăng Bình. Năm 1986, GHPGVN tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng thành lập, ngài làm ủy viên BTS PG tỉnh QNĐN. Năm 1997, tỉnh QNĐN lại chia tách, ngài làm Cố vấn BĐD PG huyện Thăng Bình. Năm 2011, ngài làm Chứng minh BĐD PG huyện Thăng Bình. Năm 2012, ngài đứng ra trùng tu chùa Giác Nguyên. Ngài mãn duyên vào Rằm tháng 6 năm Bính Thân (18-7-2016), trụ thế 95 năm, 45 hạ lạp; nguyên quán Hội An, trú quán Thăng Bình - Quảng Nam - trang nhà www.phatgiaoquangnam.vn

- Thích Thiện Tánh, Hòa thượng, thế danh Nguyễn Minh Tâm, sinh năm 1948, tại Mõ Cày, Bến Tre, Ủy viên HĐTS GHPGVN, kiêm Trưởng Ban Kiểm soát TW GHPGVN, Phó Ban Thường trực BTS GHPGVN TP Hồ Chí Minh, đại biểu HĐND TP Hồ Chí Minh, được tặng thưởng: Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Lao động hạng Ba, Huy chương “Vì sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân”, Huy chương “Vì sự nghiệp khuyến học”, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ,...; trụ trì chùa Khánh Anh - quận 10; nguyên quán Bến Tre, trú quán TP Hồ Chí Minh.

Bình luận bài viết

    Tin sinh hoạt phật sự

    Video bài giảng

    Pháp âm

    • Những áng mây trắng - Thơ: Hoang Phong - Diễn ngâm: Hồng Vân
    • Mẹ ơi - Thơ: Thích Phước Hạnh - Nhạc: Hoàng Lan
    • Khúc ca Tịnh Độ - Lời: Thích Phước Hạnh - Nhạc: An Sơn
    Pháp âm khác >>

    Thống kê truy cập

    • Online: 36
    • Số lượt truy cập : 6290068