Thông tin

NHÂN VẬT PHẬT GIÁO VIỆT NAM - VẦN Thành

Thành

 

- Thích Chánh Thành (1872-1949), Hòa thượng, còn được gọi là Tổ Vạn An, thế danh Phạm Văn Vịnh. Năm 1883, ngài xuất gia với tổ Liễu Ngọc Châu Hoàn - chùa Hội Phước - Nha Mân, pháp danh Đạt Thới, pháp hiệu Chánh Thành. Năm 1896, ngài được bổn sư đưa về trụ trì chùa Vạn An - Cái Xếp. Năm 1902, bổn sư viên tịch, ngài cầu pháp với tổ Minh Thông - Hải Huệ - chùa Linh Thứu - Mỹ Tho, được pháp danh là Như Vịnh, pháp hiệu Diệu Liên. Năm 1914, do hưởng ứng phong trào chống Pháp, ngài bị Pháp bắt giam 9 tháng, do không có chứng cớ, chúng phải thả ngài. Năm 1934, phong chấn hưng Phật giáo phát triển mạnh ở Nam bộ, ngài được mời làm Pháp sư giảng dạy ở Phật học đường Lưỡng Xuyên. Năm 1940, PHĐ Lưỡng Xuyên tan rã, ngài về mở PHĐ gia giáo đào tạo tăng ni tại chùa Vạn An - Cái Xếp - Sa Đéc. Ngài có công diễn Nôm một số kinh điển lưu hành tại miền Nam, như: Di Đà Sớ Sao; Kinh Pháp Hoa; Pháp Bảo Đàn; Phật Tổ Tam Kinh; Quy Nguyên Trực Chỉ; Long Thơ Tịnh Độ; Tứ Phần Như Thích; Bồ Tát Giới Kinh; Sa Di Sớ; Tỳ Ni Hương Nhũ; Sám Quy Mạng; Sám Khể Thủ, Đại học Hoằng giới (in bản kẽm); nguyên, trú quán Sa Đéc - xem thêm Danh Tăng Việt Nam, tập 1.

- Ấn Thanh Chí Thành (1841-1895), Hòa thượng, Tổ sư, pháp danh Ấn Thanh, pháp tự Tổ Đạo, pháp hiệu Chí Thành, đời 39 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 6 pháp phái Chúc Thánh. Ngài thế danh Trần Văn Thành, sinh năm Tân Sửu (1841) tại thôn Long Bình, tổng Xuân Đài, huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Ngài xuất gia với tổ Chương Tín Hoằng Ân với pháp danh Ấn Thanh, pháp tự Tổ Đạo, sau cầu pháp với tổ Chương Tư Huệ Quang, nên có đạo hiệu Chí Thành. Năm Quý Dậu (1873), ngài được triều đình cử làm trụ trì chùa Linh Ứng, đến năm Giáp Thân (1884) được cải bổ trụ trì chùa Tam Thai. Năm Quý Tỵ (1893), ngài được cung thỉnh làm Đàn đầu Hòa thượng tại giới đàn chùa Chúc Thánh, Hội An. Ngài là người tánh tình nghiêm cẩn, dõng mãnh tu hành, sáng tối hai thời kinh chú không trể nãi. Đặc biệt, gần như suốt cuộc đời hầu như ngài chưa một lần nhuốm bệnh. Ngài viên tịch ngày 25 tháng 4 năm Ất Mùi (1895), trụ thế 55 tuổi, tháp lập bên tháp bổn sư Huệ Quang tại ngọn Âm Hỏa Sơn. Đệ tử ngài có các vị tiêu biểu như: Chơn Pháp Phước Trí; Chơn Đỉnh Phước Thông; Chơn Nhẫn Phước Điền, Chơn Đức Phước Long; Chơn Bổn Phước Khánh... Ngài nguyên quán Phú Yên, trú quán tại Đà Nẵng - Thích Như Tịnh sưu khảo.

- Thích Chơn Thành, Hòa thượng, sinh năm 1934, thế danh Nguyễn Thứ, xuất gia năm 22 tuổi với HT Quảng Liên - tu viện Quảng Đức - Thủ Đức, pháp danh Chơn Thành. Năm 1957, ngài theo học tại PHĐ Lưỡng Xuyên - Trà Vinh, sau đó lên Sài Gòn học ở PHV Giác Sanh. Năm sau, ngài về chùa Trà Cú - Phan Thiết, học với HT Vĩnh Thọ một thời gian, rồi vào PHV Hải Đức - Nha Trang, tu học. Năm 1962, ngài vào học ở PHĐ Nam Việt - chùa Ấn Quang. Năm 1966, ngài theo học cử nhân tại Viện Đại học Vạn Hạnh. Năm 1969, ngài du học tại Đại học Rissso University - Nhật Bản. Năm 1973, ngài là Chi bộ trưởng GHPGVNTN tại Nhật Bản. Năm 1985, ngài định cư tại Hoa Kỳ và trú xứ chùa Phật Tổ do HT Thiện Thanh trụ trì ở Long Beach. Năm 1987, ngài khai sơn và  trụ trì chùa Liên Hoa - Garden Grove- California. Ngài chủ trương chương trình phát thanh PG hàng tuần Tiếng Từ Bi và làm chủ bút tạp chí Trúc Lâm; tác phẩm đã xuất bản: - Thánh Kinh Thiện Thệ - Bình An Thiên Lộ; - Thánh Kinh Thiện Thế - Bình An Thiên Lộ; - Thánh Kinh Thiện Đức - Bình An Thiên Lộ; - Thánh Kinh Chân Trời Rộng - Bình An Thiên Lộ; - Mười Bàn Chân - Thi tập, Bình An Thiên Lộ. Ngài còn chủ trương Trung tâm Từ thiện xã hội PG để giúp đỡ thiên tai, hoạn nạn các vùng ở Việt Nam, Đông Nam Á và Hoa Kỳ. Ngài nguyên quán Sông Cầu - Phú Yên, trú quán Hoa Kỳ - trang nhà www.vinhhao.info

- Ấn Hiệp Huệ Thành (1863-1908), Hòa thượng, trụ trì chùa Tập Phước - Gò Vấp. Ngài viên tịch ngày 25 tháng 10 năm Mậu Thân; chưa rõ nguyên quán, trú quán Gia Định - theo Biên niên sử PG Sài Gòn - Gia Định.

- Thích Huệ Thành (1912-1998), Hòa thượng, dòng Lâm Tế Gia Phổ đời 39, thế danh Nguyễn Toàn Trung, xuất gia với tổ Pháp Ấn Như Quới - chùa  Phước Tường - Thủ Đức, pháp danh Hồng Tín, pháp tự Bửu Thành, pháp hiệu Huệ Thành. Năm 1934, ngài thọ đại giới ở giới đàn chùa Phước Thạnh - Tây Ninh. Năm 1942, ngài được bổn sư cử trụ trì chùa Long Thiền - Biên Hòa. Sau khi bổn sư viên tịch, ngài cầu pháp với tổ Như Thông Đạt Thanh - chùa Long Quang - Hóc Môn. Năm 1945, ngài làm Hội trưởng Hội PG Cứu quốc tỉnh Biên Hòa. Năm 1947, ngài được mời tham dự hội nghị PG tại chùa Ô Môi - Đồng Tháp Mười, thành lập Hội Phật giáo Cứu quốc Nam bộ, và được bầu làm Đệ nhất Phó Hội trưởng, kiêm Ủy viên Liên Việt Nam bộ. Năm 1952, ngài được cung thỉnh làm Đàn đầu giới đàn chùa Đại Phước - Biên Hòa. Cùng năm, ngài làm Đệ nhất Phó Tăng giám; Trưởng Ban Hoằng Pháp; Tăng trưởng Giáo hội Lục Hòa Tăng tỉnh Biên Hòa. Năm 1955, ngài làm Đàn đầu truyền giới trong giới đàn chùa Thanh Long - Biên Hòa. Năm 1960, ngài làm Tăng giám Giáo hội Lục Hòa Tăng Việt Nam. Năm 1967, ngài làm Đại Tăng trưởng Giáo hội Lục Hòa Tăng Việt Nam. Năm 1968, ngài được suy tôn ngôi vị Tăng Thống Giáo hội PG Cổ truyền Việt Nam (1968-1981). Năm 1970, ngài làm Đàn đầu truyền giới tại giới đàn chùa Thanh Long - Biên Hòa. Năm 1981, ngài được suy tôn Phó Pháp chủ GHPGVN. Năm 1982, ngài làm Trưởng BTS PG tỉnh Đồng Nai đến khi viên tịch. Ngài xả báo thân ngày Rằm tháng 7 năm Mậu Thìn (1988), thọ 86 năm, 66 hạ lạp; nguyên quán Gia Định, trú quán Biên Hòa - Đồng Nai - xem thêm Danh Tăng Việt Nam, tập 3.

- Thích Minh Thành (1937-2000), Hòa thượng, dòng Lâm Tế Gia Phổ đời 41, thế danh Hà Văn Xin, xuất gia năm 1941 với HT Hồng Phó Huệ Pháp - chùa Long Khánh - Châu Đốc, pháp danh Nhựt Sanh. Năm 1951, ngài cầu pháp với HT Thiện Ngôn - chùa Phước Hậu - Long Xuyên, được pháp tự Thiện Xuân. Năm 1952, ngài lên Sài Gòn học ở PHĐ Giác Nguyên, do HT Hành Trụ chủ giảng. Năm 1964, ngài làm Chánh Đại diện PG phường Yên Đỗ và xây dựng Niệm Phật đường Minh Đạo - quận 3 - Sài Gòn. Năm 1965, ngài xây dựng Niệm Phật đường Pháp Vân và lập Trường Tiểu học Bồ Đề Pháp Vân - quận 3. Năm 1969, ngài làm Giám đốc Trường Trung tiểu học Bồ Đề Chợ Lớn. Năm 1979, ngài là Trưởng Ban Quản trị tổ đình Ấn Quang và Giám đốc PHV Trung đẳng Thiện Hòa. Năm 1993, ngài trụ trì chùa Ấn Quang; chùa Minh Đạo, kiêm Giám đốc Đại Tòng Lâm - Bà Rịa; tác phẩm: Phật học đức dục; Luật học Cơ bản; Tỳ ni Sa di yếu giải; Oai nghi - Cảnh sách yếu giải; Bồ tát giới yếu giải; Tỳ kheo giới yếu giải; Bồ tát Ưu Bà Tắc giới kinh; Kỷ yếu 50 năm tổ đình Ấn Quang (đồng soạn). Ngài xả báo thân ngày mồng 9 tháng Chạp năm Kỷ Mão (15-01-2000), thọ 63 năm, 38 hạ lạp; nguyên quán Châu Đốc, trú quán TP Hồ Chí Minh - xem thêm Danh Tăng Việt Nam, tập 2.

- Thích Nguyên Thành (1926-1996), Hòa thượng, trụ trì chùa Trúc Lâm - huyện Thuận An - Bình Dương. Năm 1945, ngài tham gia phong trào PG Cứu quốc Liên khu 5. Năm 1963, ngài cùng đồng bào Phật tử  đấu tranh chống chế độ độc tài Diệm - Nhu. Năm 1975, sau ngày đất nước thống nhất, ngài về trụ trì chùa Trúc Lâm. Ngài viên tịch ngày mồng 7 tháng 5 năm Bính Tý (1996), thọ 70 năm, 45 hạ lạp; nguyên quán Phú Yên, trú quán Bình Dương - theo báo Giác Ngộ, số 75 năm 1997.

- Dương Kinh Thành, Cư sĩ, sinh năm 1957, pháp danh Giác Đạo, soạn giả sân khấu, sáng tác nhiều bài bản cổ nhạc PG, họa sĩ truyện tranh Phật giáo. Năm 1977, ông là Huynh trưởng Đoàn Học sinh Phật tử thuộc Tổng Vụ Thanh niên. Năm 1997, ông là thành viên Trung tâm Nghiên cứu Phật giáo Việt Nam; nguyên, trú quán TP Hồ Chí Minh.

- Công chúa Long Thành (1759-1826), Phật tử, thọ Bồ tát giới, pháp danh Tế Minh, pháp tự Thiên Nhựt, tên là Ngọc Tú, con đầu lòng của đức Hưng Tổ Nguyễn Phước Côn và bà nguyên phối Nguyễn Thị Ngọc Hoàn. Năm 1779, bà kết duyên cùng Cai cơ Lê Phước Điển, sau đó ông hy sinh thế mạng cho chúa Nguyễn. Năm 1802, Nguyễn vương xưng hiệu Gia Long, thống nhất đất nước, bà xin vua cho xuống tóc xuất gia nhưng không được đồng ý. Từ đó, bà làm người Phật tử ủng hộ Tam bảo, nhất là có công lớn với hai chùa Từ Ân (Gia Định) và Quốc Ân (Huế) nên hai chùa này cùng thiết linh vị “Thích môn hộ giáo hoàng cô, thọ Bồ tát giới, pháp danh Tế Minh, tự Thiên Nhựt chi vị”. Truyền thuyết về bà là mối tình tuyệt vọng với HT Liên Hoa (Liễu Đạt - Thiệt Thành) ở chùa Đại Giác - Biên Hòa, là một câu chuyên thương tâm không rõ thực hư, nhưng công đức ủng hộ Tam bảo của bà thì được sử sách công nhận. Bà nguyên quán Thanh Hóa, trú quán Phú Xuân - theo Trần Đình Sơn, NXB Trẻ, 2001.

- Thích Phước Thành (1918-2014), Hòa thượng, Trưởng lão, xuất gia năm 1930 với Thiền sư Nguyên Quì Trí Minh - chùa Phước Hải - An Nhơn - Bình Định. Năm 1937, ngài thọ đại giới tại giới đàn chùa Tịnh Lâm - Phù Cát, do HT Huyền Giác làm Đàn đầu truyền giới. Năm 1940, ngài được bổn sư giao trông coi chùa Thiên Phước, đến năm 1952, ngài chính thức trụ trì chùa này. Năm 1968, ngài được HT Thọ Sơn truyền trao mật pháp Du Già Chẩn thí khoa nghi. Ngài đảm nhiệm qua các chức vụ: - Năm 1947, Chủ tịch Hội PG Cứu quốc quận Phù Mỹ. - Năm 1956, Tuần chúng Giáo hội Tăng già tỉnh Bình Định. - Năm 1957, Chi hội trưởng PG quận Phù Mỹ. - Năm 1963, Chánh Đại diện PG huyện Phù Mỹ. - Năm 1991, Phó Trưởng BTS, đặc trách Tăng sự GHPGVN tỉnh Bình Định. - Năm 1996, Trưởng BTS GHPGVN tỉnh Bình Định. - Năm 1997, được suy tôn vào HĐCM GHPGVN. Ngài được cung thỉnh làm giới sư, Đàn đầu Hòa thượng các đại giới đàn trong và ngoài nước. Ngài khai sơn chùa Phổ Đà Quan Âm - Phù Mỹ - Bình Định (1959). Ngài xả báo thân ngày 18 tháng Chạp năm Quý Tỵ (18-01-2014), thọ 101 năm, 72 hạ lạp; nguyên, trú quán Bình Định - xem thêm Danh Tăng Việt Nam, tập 3.

- Thích Phước Thành (1948-2008), Hòa thượng, dòng Lâm Tế Liễu Quán đời 44, đệ tử HT Viên Quang - chùa Châu Lâm - Huế, pháp danh Nguyên Minh, pháp tự Phước Thành. Năm 1976, ngài kế thế trụ trì chùa Châu Lâm. Năm 1986, ngài nhận chức Phó Ban Kinh tế nhà chùa và Từ thiện xã hội. Năm 1989, ngài thành lập Tổ hợp Mây Tre xuất khẩu. Năm 1992, ngài là Trưởng Ban Kinh tế  BTS PG Thừa Thiên Huế. Năm 1995, ngài thành lập Tuệ Tĩnh đường chùa Diệu Đế. Năm 2000, ngài tham gia Festival Huế với chuyên môn thư pháp nghệ thuật và sau đó là triển lãm thư pháp tại Pháp. Ngài được mời làm thành viên Unesco về thư pháp; nguyên, trú quán Thừa Thiên Huế -theo Chư tôn Thiền đức & Cư sĩ hữu công Thuận Hóa. 

- Thích Tắc Thành (1930-1009), Hòa thượng, dòng Thiên Thai Giáo Quán Tông đời 23, thế danh Lê Văn Mười, xuất gia năm 1937 với HT Đạt Lai - chùa Pháp Môn - Cần Giuộc - Long An,  pháp danh Lãng Công, pháp hiệu Tắc Thành. Năm 1950, ngài thọ Tỳ kheo tại giới đàn chùa Tôn Thạnh, do HT Liễu Thoàn làm Đàn đầu truyền giới. Năm 1954, ngài theo học tại PHV Lục Hòa - chùa Giác Viên - Chợ Lớn. Năm 1959, ngài trụ trì chùa Đông Phước - quận 8. Năm 1971, ngài làm Tổng Thư ký Giáo hội Thiên Thai Giáo Quán Tông Việt Nam nhiều nhiệm kỳ. Năm 1973, ngài làm Phó Tổng Vụ trưởng Tổng Vụ Tăng sự GHPGVNTN. Năm 1974, ngài kiêm Chánh Đại diện GHPGVNTN liên quận 7 và 8. Năm 2002, ngài là Phó BTS, kiêm Trưởng Ban Tăng sự Thành hội PG TP Hồ Chí Minh. Ngài được cung thỉnh làm Đường đầu HT các đại giới đàn Phổ Chí và Nguyệt Chiếu do BTS PG tỉnh Bạc Liêu tổ chức. Ngài xả báo thân ngày 26 tháng Chạp năm Mậu Tý (21-01-2009), thọ 80 năm, 60 mùa an cư; nguyên quán Long An, trú quán TP Hồ Chí Minh - xem thêm Danh Tăng Việt Nam, tập 3.

- Thanh Vân Tâm Thành (1857-1915), Hòa thượng, dòng Lâm Tế Liễu Quán đời 41, là đệ tử thứ 6 của ngài Diệu Giác - Hải Thuận, năm 1899. Bộ Lễ cấp độ điệp ngài trụ trì chùa Diệu Đế - Huế, năm 1911, được phong Tăng cang quốc tự Diệu Đế. Về già, ngài trú tại chùa Từ Quang - Huế và viên tịch tại đây; nguyên quán Quảng Trị, trú quán Thừa Thiên Huế - theo Chư tôn Thiền đức & Cư sĩ hữu công PG Thuận Hóa.

- Thích Tâm Thành (1930-2004), Hòa thượng, sơn môn Trà Lũ Bắc; vào Nam ở chùa Giác Minh, tham gia Tuyên úy PG Hải quân Nha Trang. Sau 1975, ngài trụ trì chùa Quan Âm - Los Angeles; nguyên quán Nam Định, trú quán Hoa Kỳ.

- Thích Thiện Thành (1903-1986), Hòa thượng, là đệ tử của Hòa thượng Thiện Hòa - chùa Ấn Quang, ngài trụ trì chùa Giác Sanh - Bình Thới. Năm 1962, ngài mở Phật học đường Sơ đẳng tại chùa Giác Sanh. Phật học đường hoạt động từ năm 1962 đến 1973 được 7 khóa; nguyên quán Tiền Giang, trú quán TP Hồ Chí Minh.

- Thích Tịnh Thành, Hòa thượng, sinh năm 1953, xuất gia với HT Giác Điền - chùa núi Tây Ninh, pháp danh Tịnh Thành, sau đắc pháp với HT Hiển Pháp - chùa Hưng Phước,  pháp danh Nhuận Viên. Ngài trú xứ chùa Trúc Lâm - Gò Vấp và được HT Đồng Bổn trụ trì cử làm tri sự. Ngài được Giáo hội cử làm Phó Trưởng Ban Đại diện PG quận Gò Vấp nhiều nhiệm kỳ. Năm 2014, ngài kế thế trụ trì chùa Trúc Lâm. Các chức vụ hiện nay: Phó Văn phòng Thường trực Ban Pháp chế TW GHPGVN, Chánh Thư ký Ban Pháp chế BTS GHPGVN TP Hồ Chí Minh; nguyên quán Tây Ninh, trú quán TP Hồ Chí Minh.

- Tra Am Viên Thành (1879-1928), Hòa thượng, thế danh Công Tôn Hoài Trấp, nguyên là hoàng tộc triều Nguyễn, xuất gia năm 1896 với tổ Thanh Chân - Viên Giác, tại chùa Ba La Mật, pháp danh Trừng Thông, pháp tự Viên Thành, nối pháp dòng Lâm Tế Liễu Quán đời 42. Năm 1900, ngài kế thế trụ trì chùa Ba La Mật. Năm 1923, ngài khai sơn chùa Tra Am. Năm 1924, ngài được cung thỉnh làm Đệ nhị tôn chứng trong đại giới đàn chùa Từ Hiếu. Ngài xả báo thân tại chùa Tra Am năm Mậu Thìn (1928), hưởng 49 tuổi, 32 năm hành đạo, bảo tháp xây bên phải chùa Tra Am; nguyên, trú quán Thừa Thiên Huế - xem thêm Danh Tăng Việt Nam, tập 2.

- Thích Viên Thành (1950-2002) Hòa thượng, thế danh Phùng Xuân Đào, xuất gia năm 12 tuổi với HT Thích Thanh Chân - chùa Hương Tích - Hà Tây. Năm 1972, ngài thọ đại giới tại giới đàn chùa Tỉnh hội PG Hà Sơn Bình. Năm 1973-1976, ngài học khóa Trung cấp Phật học tại chùa Quảng Bá và Quán Sứ - Hà Nội. Năm 1981-1985, ngài học Trường Cao cấp Phật học Việt Nam, khóa I,
tại Hà Nội. Năm 1884, ngài nhận trụ trì chùa Thầy - Sơn Tây. Năm 1985, ngài kế thừa trụ trì động chủ Hương Tích Sơn - Hà Tây. Năm 1987, ngài là Ủy viên HĐTS GHPGVN, kiêm Phó Ban - Chánh Thư ký Tỉnh hội PG Hà Tây. Năm 1993, ngài là Ủy viên Thường trực HĐTS GHPGVN, kiêm Phó Trưởng Ban Từ thiện xã hội TW, Ủy viên Ban Hoằng pháp TW. Năm 1998, ngài là Phó Trưởng Ban Giáo dục Tăng ni, kiêm Trưởng BTS GHPGVN tỉnh Phú Thọ. Từ năm 1998, ngài khởi công trùng tu chốn tổ chùa Hương, công trình hơn 10 năm mới hoàn thành; tác phẩm: Đại Bi nghi quỷ; Lục độ Ta Ra; Du già nghi quỷ; Lục Đạo tập; Truy môn cảnh huấn; Bút ký bên cửa trúc; Khóa lễ Phổ Môn; Lược sử các tông phái Phật giáo; Xuân Thu lễ tụng; Giới Phạm Võng; Chùa Hương ngày nay; Danh thắng chùa Thầy; Truyện Phật Bà chùa Hương; Quan Âm Thị Kính; Kỷ niệm chùa Hương; Văn khấn Nôm truyền thống; Bầu trời cảnh Bụt; Bức tranh quê hương; Thuyền môn thi ký... Ngài có công xiển dương giáo phái Mật giáo Kim cang thừa Bhutan tại Việt Nam. Ngài xả báo thân ngày 20 tháng 4 năm Nhâm Ngọ (31-5-2002), hưởng 53 năm, 32 hạ lạp; nguyên quán Hà Nội, trú quán Hà Tây - xem thêm Danh Tăng Việt Nam, tập 3.

- Thích Hưng Thạnh (1894-1964), Hòa thượng, đệ tử HT Tâm Khoan - chùa Thiền Tôn - Huế, trụ trì đời thứ 2 chùa sắc tứ Phước Điền - Huế; nguyên quán Điện Bàn - Quảng Nam, trú quán Thừa Thiên Huế - theo Chư tôn Thiền đức & Cư sĩ hữu công Thuận Hóa.

- Thích Quang Thạnh, Tiến sĩ, giảng sư, thế danh Trần Xuân Nhàn, sinh năm 1968, Chánh Thư ký Ban Phật giáo Quốc tế Trung ương GHPGVN, Tổng Thư ký Hội đồng Điều hành Học viện Phật giáo VN tại TP.HCM, Phó Tổng Thư ký Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Ủy viên Thường trực Ban Trị sự Thành hội Phật giáo TP.HCM, Phó Thư ký Ban Hoằng pháp THPG TP.HCM, Phó Trưởng phòng Hành chánh - Đào tạo, kiêm giảng viên Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM, trụ trì chùa Kỳ Quang II; nguyên, trú quán TP Hồ Chí Minh.

Bình luận bài viết

    Tin sinh hoạt phật sự

    Video bài giảng

    Pháp âm

    • Những áng mây trắng - Thơ: Hoang Phong - Diễn ngâm: Hồng Vân
    • Mẹ ơi - Thơ: Thích Phước Hạnh - Nhạc: Hoàng Lan
    • Khúc ca Tịnh Độ - Lời: Thích Phước Hạnh - Nhạc: An Sơn
    Pháp âm khác >>

    Thống kê truy cập

    • Online: 22
    • Số lượt truy cập : 6290177