SƯ ÔNG HẢI CHÂU VŨ ĐÌNH ỨNG
NGUYỄN ĐẠI ĐỒNG

Đọc bài Chấn hưng Phật giáo, đăng trên báo Đông Pháp, số 320, ra ngày 8 tháng 2 năm 1927, người ta biết được tác giả Vũ Đình Ứng sinh ra trong một gia đình nông dân bậc trung, được theo học trường làng tới năm 11 tuổi. Nhờ được học chữ quốc ngữ mà mấy năm sau cậu bé Ứng đầu Phật xuất gia, trong khi học kinh sách Phật, làm việc chùa, rỗi lúc nào cũng tranh thủ xem các sách quốc ngữ và nhật trình tiếng Việt. Nhờ vậy, ông sớm biết Phật giáo nước nhà đang có bước chuyển mình mà sư Tâm Lai ở chùa Hang (Tiên Lữ Động Tự, thị trấn Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên), người cùng sơn môn Dư Hàng Hải Phòng là người khởi xướng chấn hưng Phật giáo xứ Bắc. Đối với việc “chấn hưng Phật giáo” này trong hoài bão Tâm Ứng đã lâu. Và ông (ký tên pháp tăng tự Tâm Ứng môn thuộc Dư Hàng, Hải Phòng) viết bài Chấn hưng Phật giáo đăng trên báo Đông Pháp số 320, 321, 323, đăng ngày 8, 10 và 15 tháng 2 năm 1927, cổ vũ cho lời kêu gọi của sư Tâm Lai. “Vạn sự khởi đầu nan, những hễ cố công thời việc gì cũng xong được cả. Ngày nay nhà chùa hay các ngài hữu tâm ta chỉ nên tìm nhau liên lạc cho đoàn thể, kết cho chặt mối đồng tâm, trong nhờ thế lực báo quán, ngoài nhờ tín ngưỡng thập phương, một hai ba năm hay bốn năm sáu năm bao giờ thành cũng là, xin cùng nhau cố gắng thời có công mài sắt có ngày nên kim vậy. Tôi cũng xin ghé vai vào gánh vác với các ngài cái trách nhiệm này. A Di Đà Phật”.
Sơn môn Dư Hàng Hải Phòng là một chi nhánh của sơn môn Lâm Tế Linh Quang - Bà Đá Hà Nội, tuân theo đường lối bảo thủ do Tăng cương Đỗ Xuân Hỷ đứng đầu. Vì thế, những bài báo của sư Tâm Ứng và Tâm Thái đi ngược lại chủ trương của sơn môn. Đương gia chùa Dư Hàng (Phúc Lâm tự) cho biết: “Nguyên bài dư luận ấy của mấy chú tiểu ở chùa làm ra không bạch lại cùng sư trưởng hay, cứ tự nhiên đăng lên báo chương. Hiện, hai chú tiểu ấy đã bị tác trách phải xuất viện ra ở ngoài trong thời kỳ một tháng và không được tham dự đến việc chùa nữa”1. Nghĩa là, do viết bài ủng hộ chấn hưng Phật giáo của sư Tâm Lai mà chú tiểu Tâm Ứng bị sư trụ trì chùa Dư Hàng kỷ luật.
Sau ngày thụ đại giới ở giới đàn chùa Dư Hàng, nhà sư trẻ Tâm Ứng về hành đạo tại một ngôi chùa làng ở tỉnh Hà Nam. Tại đây, năm 1932 ông tham gia nhóm Phật học tùng thư do Sa môn Thích Trí Hải ở chùa Mai Xá, huyện Lý Nhân đứng đầu. Hồi ký thành lập Hội Phật giáo Việt Nam, ngài Trí Hải viết: “Chuyển sang thành lập Phật học tùng thư, bên xuất gia có Thượng tọa Thái Hòa, sư ông Hải Châu (Vũ Đình Ứng) và tôi (Trí Hải); bên tại gia có ông Lê Toại, ông Trần Văn Giác và ông Nguyễn Hữu Kha (Thiều Chửu). Tất cả chúng tôi đều cùng chung lo mọi phương diện như khảo cứu, phiên dịch, ấn loát, tài chính và phát hành”2. Trụ sở Phật học tùng thư tại chùa Mai Xá, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.
Phật học tùng thư đã hấp dẫn được những nhà trí thức, nhà văn, nhà báo lúc bấy giờ, như các ông Lê Dư, Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Dương Bá Trạc, Nguyễn Văn Vĩnh, v.v... Khi gặp nhau, trao đổi về việc thành lập hội Phật giáo nhằm chấn chỉ lại tinh thần Phật giáo nước nhà, thì tất cả mọi người đều nói là đã có hoài bão từ lâu cả rồi nhưng chưa gặp được các sư cộng tác, cũng như chưa có cơ hội thuận tiện. Ít lâu sau, nhờ có sự giúp đỡ của ông Lê Dư ở Sở Toàn quyền, nhóm đã nhận chùa Quán Sứ làm trụ sở3.
Sau một thời gian tích cực vận động, ngày 6 tháng 11 năm 1934, nhà cầm quyền Bắc Kỳ đã ký Nghị định số 4283, cho phép thành lập Hội Phật giáo Bắc Kỳ.
Ngày 18 tháng 11 năm 1934, Đại hội đồng họp dưới sự chủ tọa của ông Nguyễn Năng Quốc, bầu Ban Quản trị chính thức và ghi tên sáng lập Hội viên đều là vĩnh viễn cố vấn hội viên của Hội gồm 27 cư sĩ và 5 Tăng sĩ, trong đó có sư ông Vũ Đình Ứng ở Hà Đông4.
Sau đó, sư Hải Châu về hành đạo ở huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.
Báo Trung Bắc Tân Văn, số ra ngày 25 tháng 8 năm 1935, cho biết:
Việc nhà sư Hải Châu Vũ Đình Ứng, tác giả quyển Tinh thần đạo Phật có chân trong Ban Sáng lập Hội Phật giáo Bắc Kỳ, hiện nay trụ trì tại chùa làng Lai Khê, tổng Lai Vu, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương, đang đêm bị bọn cường hào xông vào chùa bắt ép ký nhận một tờ giấy trái phép, bản báo Trung Bắc Tân Văn đã đăng tin rõ ngay dạo mới xảy ra. Nguyên đêm hôm 22 tháng 7 năm 1935, trong lúc sư ông còn thức, vào hồi 9 giờ tối, bỗng nghe tiếng chó sủa động rào, thì liền sai 2 chú tiểu Bưởi và Bồi lên đánh chuông báo làng và đi báo hương lý. Sư Ứng ra bắt được 2 tên với một ngọn mác. Bùi Quý Tám và Nguyễn Đức Tô đều làm tuần tráng làng Lai Khê. Chú tiểu Bưởi lên trình Lý trưởng Bùi Văn Thiết, Phó hội Nguyễn Đức Niệm và Phó lý Nguyễn Đức Sai. Mấy viên này đến bảo rằng hai tên kia là tuần liền bắt sư Ứng ký giấy nhận thực rằng mình lầm tuần làm cướp, và không được khiếu nại gì. Dùng dằng, sư Ứng không chịu ký. Nửa giờ sau, trương tuần Bùi Quý Phiên đưa một người con gái tên là Thị Mai 22 tuổi, người làng ấy, đến chùa. Bọn hương lý hòa giải mãi hết dỗ ngọt, lại sẵng: Nếu nhà sư không bằng lòng thỏa thuận, chúng tôi có quyền bắt trói giải trình và niêm phong chùa lại. Tứ cố vô thân, nhà sư sợ hại đến danh mệnh của mình nên phải ký. Thế là giấy tờ ấy lý trưởng giữ.
Hôm kia (27-8-1935), tòa án Hải Dương họp đã đem vụ này ra xử. Sư Ứng khai rõ rằng: Trước sư tu tại chùa Dư Hàng, Hải Phòng, có học biết quốc ngữ, sau tu tại chùa Quán Sứ, Hà Nội, nhưng hôm rằm tháng Chạp năm ngoái, vị sư chùa Lai Khê không thể ở lại chùa làng ấy được nên sư Ứng xuống thay. Hiện nay, sư thường vẫn ở chùa Quán Sứ, Hà Nội, thường đi về chùa Lai Khê, vì chùa ấy ít việc, đã có 2 chú tiểu trông coi. Còn sự thể việc bắt ức ký nhận giấy má như thế nào, nhà sư đã khai như lời thuật trên này. Những tay đầu trò như Nguyễn Đức Sai, Phó hội Nguyễn Đức Niệm và Lý trưởng Bùi Văn Thiết đều từ chối hết tội, chỉ khai rằng nghe tiếng đồn sư vẫn mang gái vào chùa nên rình bắt, đáng lẽ hôm ấy bắt được, nhưng vì nhà sư cản lại nên Thị Mai chạy mất. Thị Mai khai rằng còn cha, mất mẹ, hôm ấy cha thị đi vắng mà ở nhà chỉ có bà già và con bé em, lúc đang ngủ nghe tiếng trương tuần Phiên và Tổ gọi cửa bảo rằng nhà chùa mất trộm thì vào làm chứng. Thị không đi, chúng đạp cửa vào khiêng Thị Mai đem đến chùa! Chứ thị không hề có lễ bái lai vãng đến chùa bao giờ. Tòa xét ra về tội bắt ký nhận trái phép không đủ chứng cứ, gia dĩ bọn tuần tráng chỉ là tay sai nên tòa nghị phạt như sau này: Phó lý Sai và Trương tuần Phiên mỗi tên 15 ngày tù án treo, còn Lý Thiết, Phó hội Niệm và 2 tên tuần Tam, Tổ được trắng án.
Báo Đuốc Tuệ, ra ngày 1 tháng 5 năm 1937, đăng Bá cáo: Ảnh đây của sư ông Vũ Đình Ứng, Hội Phật giáo Bắc Kỳ xin kính Bá cáo để thập phương thiện tín biết rằng Hội không ủy sư ông Ứng đi cổ động cho báo Đuốc Tuệ nữa và cũng không ủy cho sư này làm một việc gì khác ở trong Hội cả5. Điều này, có nghĩa sư Vũ Đình Ứng không còn hoạt động trong Phật giáo nữa.
Theo lời kể của cụ Hoàng Ngọc Lương, thị giả Tổ Tế Cát Thích Doãn Hài, thì cụ và sư Hải Châu Vũ Đình Ứng cùng thoát ly đi hoạt động Cách mạng ở các tỉnh Hà Nam, Hải Dương, và Quảng Ninh (Đông Triều)6.
Bẵng đi mấy năm, báo Cứu Quốc đăng tin: Ngày 2 tháng 8 năm 1946, đại biểu Tăng già tỉnh Hải Dương đã họp kỳ hội đồng tại chùa Đông Thuần, Hội quán Hội Phật giáo tỉnh. Hội nghị đã bầu Ban Chấp hành Tăng già Cứu quốc tỉnh: Chánh Chủ tịch: Sư cụ Thái Hòa; Phó Chủ tịch: Cụ Mạnh Danh; Thư ký: Đồng chí Quang Thuận; Thủ quỹ: Sư cụ Giác Lai; Ủy viên Giám sát: Đồng chí Vũ Đình Ứng, sư cụ Bùi Như Lạc, sư ông Tuệ Văn7. Báo Cứu Quốc gọi sư Ứng là đồng chí, chứng tỏ ông đã là cán bộ Việt Minh không còn là nhà sư.
Từ đây về sau, không thấy tài liệu nói về hành trạng của ông Vũ Đình Ứng. Kính mong quý độc giả ai có tư liệu xin bổ túc để hoàn chỉnh tiểu sử của một trong những vị sáng lập Hội Phật giáo Bắc Kỳ.![]()
1. Khai hóa nhật báo, ra ngày 27 tháng 2 năm 1927.
2. Sa môn Thích Trí Hải, Hồi ký thành lập Hội Phật giáo Việt Nam, Nxb Tôn giáo, 2004, tr. 19.
3. Sa môn Thích Trí Hải, Hồi ký thành lập Hội Phật giáo Việt Nam, Nxb Tôn giáo, 2004, tr. 21, 24, 25
4. Nguyễn Đại Đồng, Biên niên sử Phật giáo miền Bắc (1920-1953), Nxb Tôn giáo, 2009, tr. 44, 45.
5. Nguyễn Đại Đồng, Biên niên sử Phật giáo miền Bắc (1920-1953), Nxb Tôn giáo, 2009, tr. 117.
6. Tác giả ghi theo lời kể của Lão thành cách mạng Hoàng Ngọc Lương và Đại tá CCB Đinh Thế Hinh trong tọa đàm tháng 8 năm 2009 tại phường Cống Vị, quận Ba Đình, Hà Nội.
7. Nguyễn Đại Đồng, Biên niên sử Phật giáo miền Bắc (1920-1953), Nxb Tôn giáo, 2009, tr. 266.


























































































































































Bình luận bài viết