Thông tin

TẢN MẠN VỀ LỄ CÚNG GIAO THỪA

 

ThS. HUỲNH THANH BÌNH

 

 

Sống ở đời, ai không muốn “minh niên khang thái, vạn sự tốt lành, bốn mùa tám tiết được chữ bình an, gia đạo hưng long thịnh vượng, bách sự hanh thông”?

Giờ phút thiêng liêng tiễn năm cũ đón năm mới, hầu như nhà nào cũng bày mâm lễ cúng Giao thừa (thường từ 23g đến 1g sáng) trên tinh thần “lễ tuy bất túc, tâm rày hữu dư”. Theo lệ xưa, cúng Giao thừa là lễ cúng tế thần Hành khiển năm cũ và năm mới, gọi là “tống cựu nghênh tân” (tiễn thần Hành khiển năm cũ về trời, đón thần Hành khiển năm mới tới).

Văn khấn cúng Giao thừa theo sách Văn khấn Nôm

“Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Con kính lạy chín phương trời, mười phương chư Phật, chư Phật mười phương

Con kính lạy đức Đương lai hạ sinh Di Lặc Tôn Phật

Con kính lạy đức Bồ-tát Quán Thế Âm cứu nạn cứu khổ chúng sinh

Con kính lạy Hoàng thiên, Hậu thổ, chư vị tôn thần

Con kính lạy ngài Cựu niên Đương cai Hành Khiển:...

Con kính lạy ngài Đương niên Thiên quan:...

Con kính lạy các ngài Ngũ phương, Ngũ hổ, Long mạch, Táo quân, chư vị tôn thần.

Nay là phút Giao thừa năm... và năm...

Chúng con là...

Ngụ tại...”

Gia chủ nói lên lý do và mời những vị này giáng lâm trước án thụ hưởng lễ vật. Cuối cùng là cầu xin: “Nguyện cho tín chủ, minh niên khang thái, vạn sự tốt lành, bốn mùa tám tiết được chữ bình an, gia đạo hưng long thịnh vượng, bách sự hanh thông, ngày ngày được hưởng ơn trời, Phật, chư vị tôn thần. Chúng con kính cẩn tiến dâng lễ vật, thành tâm cầu nguyện. Cúi xin chín phương trời, mười phương chư Phật cùng chư vị tôn thần chứng giám phù hộ độ trì.

Nam mô A Di Đà Phật (3 lần, 3 lạy)”.

Tín niệm dân gian

Đêm cuối cùng của năm cũ, gọi là “trừ tịch”. “Trừ” là trao lại chức quan, “tịch” là ban đêm. Gọi là “trao lại chức quan” là do tín niệm rằng trần gian có 12 bộ đôi quan Hành khiển – Hành binh, mỗi bộ đôi phụ trách một năm, luân phiên từ năm Tý đến năm Hợi thì quay trở lại. Lễ trừ tịch là lễ cúng hai vị Hành khiển - Hành binh, một là tiễn hai vị cai quản năm cũ và một là đón hai vị cai quản năm mới. Khoảnh khắc hết đêm 30 rạng sáng mồng Một là thời điểm giao thừa: Cũ giao lại, mới tiếp lấy, nên đây là thời điểm thiêng để trừ tiệt cái cũ với các hoạt động trừ khử điều xấu, tà ma quỷ mị. Do đó, trừ tịch còn được hiểu là trừ khử cái xấu cũ để đón cái mới tốt.

Qua bài văn khấn trong lễ cúng Giao thừa, chúng ta thấy đối tượng cung thỉnh rất đông đảo, bao quát “Chín phương trời, mười phương chư Phật”, trong đó, chư Thần, ngoài đối tượng chính của lễ là Thái Tuế tôn thần là các thần Bản Cảnh Thành Hoàng, Thổ Địa, Thần Ngữ Phương Ngũ Thổ, Long Mạch Thần Tài, Bản Gia Táo Quân và Chư vị thần linh bản xứ...

Thái Tuế là tên gọi của vị thần cai trị mỗi năm trong Đạo giáo: Trị Niên Thái Tuế. Tín ngưỡng này có nguồn gốc từ việc sùng bái các vì sao thời cổ của người Trung Quốc. Trong khoa thiên văn, sao Thái Tuế là sao Mộc/ Mộc tinh trên bầu trời. Chu kỳ của sao Mộc quay quanh mặt trời là 12 năm, nên sao Mộc còn được gọi là Tuế tinh, sau phát triển thành Thái Tuế tinh quân hay Tuế quân, Thái Tuế tôn thần. Do là Tuế tinh/ sao của năm nên được thế nhân tôn thành 12 Hành khiển: “Hành khiển thập nhị chư thần”. Theo Đạo giáo, thần Thái Tuế đều là võ tướng xuất thân và tương truyền là những hung thần trên thiên giới. Trong tín niệm phổ thông, đây là tập hợp 12 vị thần Hành khiển (quan văn), Hành binh (võ tướng) luân phiên thay mặt Ngọc Hoàng thượng đế trông coi việc ở thế gian trong một năm, tính từ năm Tý tới năm Hợi, phụ tá các thần có một Phán quan. Các thần lo việc thi hành mệnh lệnh của Ngọc Hoàng thượng đế, còn Phán quan lo việc ghi chép công tội của mọi người, mọi gia đình, mọi cộng đồng thôn xã...

 

Quan Hành khiển, Hành binh và Phán quan - 3 vị quan cai quản nhân gian

 

Tại sao có liên quan tới Phật giáo?

Trong kinh Hoa Nghiêm có ghi nhiều lần lời Phật dạy: “Nhất thiết chúng sinh bản lai thị Phật” (Hết thảy chúng sinh vốn là Phật), nên không thể xem thường chúng sinh, trái lại phải “Nhất thiết cung kính. Nhất tâm đảnh lễ”. Ông cha ta cũng dạy: “Lời nói  chẳng mất tiền mua/ Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”, huống gì với tiền nhân. Cuộc sống thường ngày, ai không đối diện với bát khổ theo quan niệm nhà Phật: “Sanh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, ái biệt ly khổ, oán tắng hội khổ, cầu bất đắc khổ, ngũ uẩn xí thạnh khổ”, nên tìm chỗ dựa tinh thần để vui vẻ sống trọn kiếp người cũng chẳng có gì sai. Sống ở đời, ai không muốn “minh niên khang thái, vạn sự tốt lành, bốn mùa tám tiết được chữ bình an, gia đạo hưng long thịnh vượng, bách sự hanh thông”?

Tôi nghĩ, Phật giáo có liên quan tới lễ cúng này là xuất phát từ tinh thần “Tùy duyên diệu dụng, hằng thuận chúng sinh” của nhà Phật. Trong Tự điển Phật học cũng có mục từ về nhân vật Hành khiển này: “(行譴大王): Theo quan niệm tín ngưỡng dân gian của Trung Quốc, có 12 vị Đại Vương Hành Khiển, được gọi là Thập Nhị Hành Khiển Đại Vương (十二行譴大王), cai quản nhân gian. 12 vị ứng với 12 Chi (Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi). Các Đại Vương này còn được gọi là đương (kim) niên chi thần (當[今]年之神, vị thần của năm nay). Mỗi vị có trách nhiệm thống nhiếp thế gian trong vòng 1  năm, xem xét mọi chuyện tốt xấu của từng người, từng gia đình,từng thôn xã, cho đến từng quốc gia để luận tội và trình tấu lên Ngọc Hoàng Thượng Đế. Bên cạnh mỗi vị Đại Vương, thường có một vị Phán Quan trợ lý. Trong số 12 vị này, có rất nhân đức, độ lượng; có vị cương trực và cũng có vị rất nghiêm khắc. Tương truyền rằng có năm xảy ra loạn lạc, chiến tranh, mất mùa, thiên tai, v.v., cũng do các vị Đại Vương Hành Khiển gây ra để trừng phạt nhân gian. Tên gọi các vị Đại Vương Hành Khiển và Phán Quan như sau:

(1) Năm Tý: Chu Vương Hành Khiển Đại Vương (周王行譴), Thiên Ôn Hành Binh Chi Thần, Lý Tào Phán Quan;

(2) Năm Sửu: Triệu Vương Hành Khiển (趙王行譴), Tam Thập Lục Phương Hành Binh Chi Thần, Tiêu Tào Phán Quan;

(3) Năm Dần: Ngụy Vương Hành Khiển (魏王行譴), Mộc Tinh Chi Thần, Tiêu Tào Phán Quan;

(4) Năm Mão: Trịnh Vương Hành Khiển (鄭王行譴), Thạch Tinh Chi Thần, Liễu Tào Phán Quan;

(5) Năm Thìn: Sở Vương Hành Khiển (楚王行譴), Hỏa Tinh Chi Thần, Biểu Tào Phán Quan;

(6) Năm Tỵ: Ngô Vương Hành Khiển (呉王行譴), Thiên Hải Chi Thần, Hứa Tào Phán Quan;

(7) Năm Ngọ: Tần Vương Hành Khiển (秦王行譴), Thiên Hao Chi Thần, Nhân Tào Phán Quan;

(8) Năm Mùi: Tống Vương Hành Khiển (宋王行譴), Ngũ Đạo Chi Thần, Lâm Tào Phán Quan;

(9) Năm Thân: Tề Vương Hành Khiển (齊王行譴), Ngũ Miếu Chi Thần, Tống Tào Phán Quan;

(10) Năm Dậu: Lỗ Vương Hành Khiển (魯王行譴), Ngũ Nhạc Chi Thần, Cựu Tào Phán Quan;

(11) Năm Tuất: Việt Vương Hành Khiển (越王行譴), Thiên Bá Chi Thần, Thành Tào Phán Quan;

(12) Năm Hợi: Lưu Vương Hành Khiển (劉王行譴), Ngũ Ôn Chi Thần, Nguyễn Tào Phán Quan.

* * *

Khi đề cập đến quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, Hồ Chí Minh thể hiện rõ quan điểm về việc chống vi phạm tự do tín ngưỡng dưới mọi hình thức. Đối với cán bộ của Đảng và Nhà nước, Người luôn nhắc nhở phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, phong tục tập quán của nhân dân. Ngay sau khi Nhà nước giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 4, ngày 09-9-1952 về “Bảo vệ đền chùa, nhà thờ trường học, nhà thương và các cơ quan văn hóa, xã hội khác”, ghi rõ “chính quyền, quân đội và đoàn thể phải tôn trọng tín ngưỡng, phong tục tập quán của đồng bào” (Hồ Chí Minh toàn tập, T.6, NXB Chính trị quốc gia, H, 2003, trang 565).

Do đó, khi người biết tôn trọng người chung quanh, tôn trọng cha mẹ, ông bà, tổ tiên, tiền nhân,... là tốt, chẳng xấu chút nào. Nói như  Hữu Tử được ghi trong sách Luận  Ngữ: “Kỳ vi nhân dã hiếu đễ nhi hiếu phạm thượng giả tiển hĩ. Bất hiếu phạm thượng nhi hiếu tác loạn giả, vị chi hữu giả” (Làm người có nết hiếu, đễ thì ít ai dám xúc phạm bề trên. Không thích xúc phạm bề trên mà thích làm loạn thì chưa từng có).

 

Bình luận bài viết

    Tin sinh hoạt phật sự

    Video bài giảng

    Pháp âm

    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 79)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Tú Trinh
    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 78)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Tú Trinh
    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 77)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Tú Trinh
    Pháp âm khác >>

    Thống kê truy cập

    • Online: 41
    • Số lượt truy cập : 9386777