TỊNH ĐỘ ĐẠI KINH GIẢI DIỄN NGHĨA - TẬP 140

Chủ giảng: LÃO PHÁP SƯ TỊNH KHÔNG
*****
Trưởng ban biên dịch:
TK. Thích Đồng Bổn
QUYỂN 14
(Tập 131 – 140)
TẬP 140
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Giảo duyệt: Huệ Trang và Đức Phong
Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin xem tiếp Đại thừa Vô Lượng Thọ Kinh Giải, trang 162, dòng thứ 4.
“Bảo sát trang nghiêm, tập tự Tống dịch. Thượng hữu diện sắc viên mãn tứ tự” (“Bảo sát trang nghiêm”: Câu này được hội tập từ bản Tống dịch, phía trước câu này có 4 từ “sắc mặt viên mãn”). Câu kinh văn này đọc như sau: “Diện sắc viên mãn, bảo sát trang nghiêm”. “Biểu Phật diện dung sở phóng diệu quang minh trung, ánh hiện thập phương Phật độ chi trang nghiêm bảo sát” (Ý nói: Trong quang minh vi diệu phóng ra từ khuôn mặt đức Phật, hiện bóng cõi nước báu trang nghiêm của mười phương cõi Phật).
Tiếp đó là: “Sát giả, Pháp Hoa Văn Cú Ký nhị” (Sát: Theo quyển 2, sách Pháp Hoa Văn Cú Ký). Đây là cuốn thứ 2, “Viết: Thử vân Điền” (Giảng: “Cõi này nói là Điền”).
“Thử” là Trung Hoa, chữ Sát (剎) được dịch sang nghĩa tiếng Hán là điền địa (田地). “Tứcnhất Phật sở vương thổ dã. Cố tri Sát tức Phật độ, Phật quốc chi nghĩa” (Tức là vương thổ của một đức Phật. Vì thế, “Sát” có nghĩa là cõi Phật hoặc nước Phật). “Bảo Sát” (寶剎) chỉ một cõi nước Phật. Nói theo cách hiện thời, sẽ là khu vực dạy học của đức Phật, chúng ta càng dễ hiểu. Do đó, sát có nghĩa là sát độ (ksetra).
Vào thời cổ, tại Trung Hoa, người ta dịch chữ này là điền địa. Thuở đức Thế Tôn tại thế, giáo học, Ngài chẳng dựng đạo tràng. Nói theo hiện thời, Ngài và Tăng đoàn sống theo phương thức du mục, không ở một nơi cố định mà di chuyển khắp nơi. Ở đâu có duyên bèn đến đó. Đức Phật vô cùng tự tại, cũng chẳng có bất cứ điều kiện gì. Người nào thành tâm thành ý đến khải thỉnh, Ngài đều chấp thuận, nhận lời mời. Vì các Ngài đều trụ trong núi, rừng, ven sông, đêm nghỉ dưới cội cây, nên chẳng cần nơi chốn riêng biệt, bất luận chỗ nào cũng đều được. Đó là phương thức giáo học của đức Thế Tôn trong thuở ấy.
Chúng tôi cảm thấy phương thức này hết sức tự tại, chẳng phiền nhiễu người khác chút nào! Người lễ thỉnh rất tự tại, chẳng có bất cứ gánh nặng gì. Khi đức Phật nhận lời mời cũng tự tại. Chúng ta nói là ứng xử với các Ngài cũng rất tự tại, chẳng làm phiền người khác. Đây là nguyên tắc giáo học cơ bản của đức Phật. Đức Phật chẳng khiến cho người nào khởi phiền não. Vì thế, nói đến điền địa, thì điền địa chính là chỗ Ngài giảng kinh, thuyết pháp, chẳng cần bất cứ dụng cụ gia đình nào! Đức Phật trải một chút cỏ tươi rồi ngồi trên đó, các học trò cũng là như thế, ngồi trên cỏ vây quanh đức Phật. Chẳng như hiện thời có giảng đường, có bàn ghế, có lắm thiết bị như vậy, lắm thứ bắt buộc phải có, thời ấy chẳng có.
Vì thế, chúng ta liễu giải trạng huống khi ấy. Đó chính là ý nghĩa của “Sát”. “Bảo sát” (寶剎): Bảo (寶) là hình dung sự giáo học và thuyết pháp của đức Phật, nên gọi là Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo. Tam bảo trọn đủ, 3 thứ này đều hết sức khó có. Phật là thầy, là người có thể thuyết pháp, Tăng là học trò, bao gồm thính chúng tại gia. Ý nghĩa gốc của chữ Tăng là đoàn thể. 4 người trở lên, cùng học tập một chỗ thì gọi là Tăng chúng, bất luận tại gia hay xuất gia, chư vị nhất định phải biết điều này.
Do vậy, Tăng đoàn là đoàn thể học tập giáo pháp của Thích Ca Mâu Ni Phật. Không nhất định là tại gia hay xuất gia, nam chúng hay nữ chúng đều gọi là Tăng đoàn. Nếu gọi là tỳ-kheo Tăng đoàn thì khác, nhất định phải là nói về xuất gia nam chúng. Không nói cố định, thì tại gia hay xuất gia đều gọi là Tăng đoàn. Điều kiện nhất định của một Tăng đoàn là trì giới, nhất định là LụcHòa. Nếu chẳng trì giới, chẳng có LụcHòa, chẳng tính là Tăng đoàn, giống như hiện thời đạo tràng quy mô to đến mấy, đều chẳng thể gọi là Tăng đoàn. Đối với hàm nghĩa của những danh từ thuật ngữ trong Phật môn, chúng ta phải nhận biết chính xác!
Nay, đức Phật muốn giới thiệu cùng mọi người Tây Phương Cực Lạc thế giới, tuyên giảng kinh VôLượng Thọ, nên Ngài đặc biệt hoan hỷ. Trong phần trước, chúng ta đã thấy Ngài vô cùng hoan hỷ. Hoan hỷ là do cơ duyên chín muồi, vô lượng chúng sinh sẽ do lần giảng diễn này mà đạt đến lợi ích thù thắng khôn sánh, trong một đời này có thể vĩnh viễn thoát ly lục đạo luân hồi, thoát ly mười pháp giới. Lại còn đúng như Mật tông đã nói “Tứcthânthành Phật”(Thành Phật ngay trong thân này). Điều này, chẳng giả tí nào!
Trong phần trước, chúng ta đã đọc rất nhiều. Dẫu là hạ hạ phẩm vãng sinh trong cõi Phàm Thánh Đồng Cư, sẽ như nguyện thứ 20 đã nói: “Giai tác A Duy Việt Trí Bồ tát” (Đều là A Duy Việt Trí Bồ tát). Tiêu chuẩn của A Duy Việt Trí Bồ tát, tiêu chuẩn thấp nhất, chính là như Thiền tông Trung Hoa đã nói “minh tâm kiến tính, kiến tính thành Phật”, tiêu chuẩn ấy! Vì thế, A Duy Việt Trí Bồ tát vượt trội mười pháp giới. Ngài ở nơi đâu? Trụ trong cõi Thật Báo Trang Nghiêm của Phật. Cõi Thật Báo Trang Nghiêm của Phật cũng là cõi Thật Báo Trang Nghiêm của chính mình, chư vị phải biết điều này. Đức Phật có 4 cõi, mỗi người chúng ta đều có 4 cõi. 4 cõi hiển hiện như thế nào? Đều do ý niệm của chính mình hiển hiện. Nói cách này, mọi người sẽ dễ hiểu.
Kinh Phật có nói: “Hết thảy các pháp sinh từ tâm tưởng”, cũng có nghĩa là 4 cõi sanh từ tâm tưởng. Trong tâm quý vị có Vô Minh phiền não, có Trần Sa phiền não, có Kiến Tư phiền não, tâm quý vị có 3 thứ phiền não ấy, cõi Phàm Thánh Đồng Cư trong tự tính của quý vị liền hiện tiền. Như quả địa cầu hiện thời là cõi Phàm Thánh Đồng Cư, khởi tâm động niệm, 3 loại phiền não ấy thảy đều trọn đủ. Trong cõi Phàm Thánh Đồng Cư cũng có người rất hạnh phúc, rất sung sướng, có người rất đau khổ, chịu tội, do nguyên nhân nào? Mỗi người có nghiệp lực khác nhau. Người tâm thiện, hành vi thiện, ở trong cõi Đồng Cư bèn có hạnh phúc, mỹ mãn, sung sướng, cảnh giới ấy hiện tiền. Nếu tâm hạnh người ấy chẳng lành, tiêu chuẩn thiện là Thập Thiện Nghiệp Đạo, do tâm hạnh của người ấy trái nghịch Thập Thiện Nghiệp Đạo, sẽ hiện thành cõi nước bất thiện, có lắm nỗi đau khổ, như kinh đã nói “8 nỗi khổ xen nhau nung nấu”, có hiện tượng ấy xuất hiện. Nếu nghiêm trọng thì trong cõi Đồng Cư sẽ hiện gì? Hiện ra 3 ác đạo là ngạ quỷ, súc sinh, địa ngục. Chẳng phải do điều gì khác mà có, mà do tự tâm hiện ra.
Trong kinh Đại thừa, đức Phật thường nói “Duythứcsở biến”. Thức là phân biệt, chấp trước. Từ phân biệt, chấp trước của quý vị mà biến hiện cảnh giới ấy, cho nên đạo lý “Cảnhchuyểntheo tâm” là ở chỗ này. Chúng ta liễu giải đạo lý này, biết chân tướng sự thật này, đối với lời Phật dạy, chẳng hoài nghi mảy may. Vì thế, trong bất cứ hoàn cảnh nào, cũng chẳng oán trời hờn người, vì tự làm tự chịu, chẳng liên quan đến ai khác. Bởi lẽ, nhân quả cá nhân do chính mình gánh vác. Nếu quý vị oán người khác, sẽ là tội càng thêm tội, phiền phức có thể to lớn, hứng chịu khổ báo chẳng hết. Vì thế, phải hiểu rõ. Như thế nào, thì sẽ có thể thoát ly biển khổ, thoát khổ, thoát nghèo? Phật pháp dạy chúng ta lìa khổ, được vui. Lìa khổ là lìa thoát nghèo khổ, lìa thoát bệnh khổ, đạt được an lạc, quý vị đoạn ác tu thiện. Quý vị đoạn hết Thập ác, nghiêm túc nỗ lực tu Thập thiện, mạng vận sẽ chuyển biến, quả báo cũng chuyển biến. Phật pháp nói mạng vận, nhưng mạng vận không phải là nhất định, nó biến đổi theo ý niệm. Một niệm thiện, cảnh giới thiện quả nhân thiên bèn hiện tiền. Một niệm ác, cảnh giới 3 ác đạo liền hiện tiền. Thiên biến vạn hóa, chẳng nhất định!
Hiện thời, cả thế giới động loạn, tai biến dị thường trên địa cầu toàn thể thế giới đều có. Do nguyên nhân nào? Các đồng học học Phật đều biết, do tâm hạnh chẳng lành của chúng sinh sống trên địa cầu cảm vời, chứ chẳng do điều gì khác! Nếu chúng ta hỏi, khi nào xã hội sẽ có thể khôi phục hòa hài, người xưa gọi chuyện đó là “thiên hạ thái bình”. Nhưng khi nào sẽ có thể khôi phục? Khi nào hoàn cảnh vật chất trên địa cầu sẽ khôi phục bình thường? Các khoa học gia cho biết: Năm nay, rất bất thường, tai nạn nhiều, mùa Đông lại còn đặc biệt lạnh, mùa Hạ đặc biệt nóng, thời gian 2 mùa Xuân và Thu rất ngắn. Xuân, Thu vốn đều là 3 tháng, có thể là mùa Xuân chỉ có một tháng rưỡi, mùa Thu cũng chỉ có một tháng rưỡi.
Thời gian Đông và Hạ rất dài, vốn cũng là 3 tháng, có thể [bị kéo dài] từ 4 tháng đến 5 tháng, bất bình thường! Vì sao phát sinh tình hình này? Do ý niệm của chúng ta sai trái. Hoàn cảnh là thức biến. Thức là ý niệm. Ý niệm của chúng ta chẳng lành, nên phải chịu tội nhiều hơn. Mùa Đông đặc biệt lạnh, quý vị thấy 4-5 tháng lạnh cóng, chịu tội nhiều! Mùa Hạ đặc biệt nóng, thời gian Xuân và Thu rút ngắn, chẳng phải là tự nhiên, do con người gây ra! Kinh Phật nói kiểu này, hết sức khó có. Hiện thời, các nhà lượng tử lực học đã chứng minh. Họ chứng minh như thế nào? Họ chứng minh hiện tượng vật chất là giả, hoàn cảnh cư trú của chúng ta là hiện tượng vật chất. Còn có nhà khoa học nói: Về căn bản, thế gian này chẳng có vật chất tồn tại, vậy thì chân tướng của vật chất là gì? Họ nói vật chất là huyễn tướng do ý niệm tích lũy liên tục sanh ra. Chúng ta thật sự hiểu đạo lý này. Quý vị thấy đức Phật đã nói từ 3.000 năm trước, đến gần đây, các nhà khoa học mới phát hiện, có cùng ý nghĩa như đức Phật nó. Ngôn ngữ hơi bất đồng, nhưng ý nghĩa hoàn toàn giống như nhau, chứng minh những điều kinh điển đã nói là đúng, trong kinh điển có khoa học cao cấp. Những thông tin ấy đem lại tin tức tốt đẹp cho chúng ta: Chúng ta có năng lực khôi phục trật tự xã hội, khôi phục địa cầu bình thường, chỉ cần biến đổi ý niệm là được rồi.
Đối với khởi tâm động niệm, người xưa đã nói luân lý, đạo đức, Ngũ luân, Ngũ thường, Tứ duy, Bát đức, đơn giản lắm. Đơn giản, thì quý vị mới có thể ghi nhớ. Đơn giản thì lưu truyền ức vạn năm chẳng bị sai. Cương lãnh trọng yếu chỉ như vậy đó. Chúng ta phải nghiêm túc nỗ lực thực hiện: “Phụ tử hữu thân” (Cha con có tình thân). Thật sự làm được niềm thân ái ấy, tức là hiếu đạo. Giáo học của thánh hiền không gì chẳng đặt vững căn cội nơi chữ Hiếu. Giáo học của thánh hiền là cội gốc to lớn. Hiếu là nói tới điều gì? Quý vị nhìn vào chữ Hán, chữ Hiếu (孝) biểu thị ý nghĩa gì? Nửa phần trên là chữ Lão (老), nửa phần dưới là chữ Tử (子), 2 phần ấy hợp thành chữ Hiếu, chúng ta có thể thấu hiểu ý nghĩa ấy. Thế hệ trước và thế hệ sau cùng một Thể, chẳng thể tách rời.
Trên đời trước còn có đời trước nữa, sau đời sau còn có đời sau nữa; ý nghĩa này đã được bao hàm trong ấy. Lão Tử nói: “Thiên địa và ta cùng gốc. Vạn vật và ta cùng một Thể”, chẳng phải là ý nghĩa này ư? Chẳng khác với những điều kinh Đại thừa đã dạy. Kinh giáo Đại thừa giảng rõ ràng hơn.
Trong Bồ Tát Giới Kinh có nói: “Hết thảy người nam là cha ta. Hết thảy người nữ là mẹ ta”. Đấy là nói về quan hệ Ngũ luân. Trong Phật pháp có nói: “Hết thảy chúng sinh vốn là Phật”. Những lời ấy đều do đức Phật nói. Vì vậy, giáo dục truyền thống Trung Quốc và các nước đồng văn vun quén căn bản nơi “Phụ tử hữu thân”, còn giáo học Phật pháp đặt vững căn bản nơi “Hết thảy chúng sinh vốn là Phật”. Mục đích giáo dục và giáo học của đức Phật ở chỗ nào? Nay, quý vị đang mê mất tự tính. Quý vị vốn là Phật, nay đã mê, biến thành lục đạo phàm phu. Mục tiêu chung cực của đức Phật trong việc dạy bảo chúng ta là muốn khiến cho chúng ta chuyển phàm thành thánh, trở về vị Phật vốn sẵn có, thì sự giáo dục của đức Phật bèn viên mãn. Thành Phật có khó hay không? Sau khi quý vị đã hiểu rõ nguyên lý được giảng trong kinh, sẽ biết là chẳng khó chút nào, buông xuống mà thôi! Buông Kiến Tư phiền não xuống, bèn thành A La Hán, buông Trần Sa phiền não xuống, sẽ là Bồ tát, buông Vô Minh phiền não xuống, quý vị bèn thành Phật, trở về tự tính.
Do vậy, tu học Phật pháp, nói tới công phu tu hành thật sự thì là gì? Từ đầu tới cuối là buông xuống mà thôi! Vì sao bảo quý vị buông xuống? “Phàm những gì có tướng đều là hư vọng”, chẳng có gì là thật. Nếu là thật, đức Phật sẽ chẳng bảo chúng ta buông xuống. Bảo quý vị buông xuống, vì tất cả đều là hư vọng. Quý vị buông những thứ hư vọng xuống, chân thật liền hiện tiền. Chân thật là gì? Phật tính.
“Tựtínhthanhtịnhviênminhthể” như Hoàn Nguyên Quán đã nói bèn hiện tiền. Buông vọng xuống, chân liền hiện tiền, đó gọi là “chứng chân”. Trong kinh, đức Phật đã giảng vấn đề này, giảng về nguyên khởi của vũ trụ, giảng Chính báo do đâu mà có. Chính báo là gì? Chính mình, chính bản thân ta, ta do đâu mà có. Kinh Đại thừa nói rất rõ ràng, rốt cuộc thân thể của ta là như thế nào? Nhục thân bao gồm xương, máu, lông trên da, lông tơ, tóc, đều thuộc về Chính báo. Đó là hiện tượng vật chất. Vật chất và tinh thần đồng thời phát sinh. Vì sao? Trong tự tính vốn trọn đủ. Huệ Năng Đại sư kiến tính đã bảo: “Nào ngờ tự tính bổn tự trọn đủ”. Trọn đủ những gì? Trọn đủ vô lượng trí tuệ, vô lượng đức năng, vô lượng thần thông, vô lượng tướng hảo, hết thảy đều là vô lượng, chẳng khiếm khuyết mảy may! Vì sao nói là vô lượng? Thật sự là vô lượng.
Các khoa học gia hiện thời có tính toán, đáng tiếc là tôi chẳng ghi chép những con số ấy. Sau này, tôi tìm người giỏi toán viết những con số ấy ra. Trên thân người chúng ta, họ biết trên thân người có bao nhiêu tế bào. Những tế bào ấy phân tích ra thành bao nhiêu phân tử, lại phân tích ra thành bao nhiêu nguyên tử, sẽ biết trên thân có bao nhiêu nguyên tử, bao nhiêu lạp tử. Nay, đã phân tích đến lượng tử, trên thân này có bao nhiêu lượng tử. Những lượng tử nhỏ như vậy vẫn là Ngũ uẩn như đức Phật đã nói.
Đức Phật giảng rất hay, lớn đến mức như vũ trụ, nhỏ đến mức như lượng tử, đều chẳng thể vượt ngoài Ngũ uẩn. Ngũ uẩn là gì? Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Sắc là vật chất. Thọ, Tưởng, Hành, Thức là tinh thần. Thọ (受) là gì? Nó có năng lực cảm thụ, tiếp nhận. Nó có thể thấy, có thể nghe, có thể tiếp xúc bên ngoài. Nó có Tưởng, có Hành. Hành (行) là gì? Hành là như trong phần trước của kinh đã nói “mấy trăm ngàn thứ biến hóa”. Đó là Hành, mấy trăm ngàn thứ biến hóa là hình dung nó có thể biến hóa. Nó có Thức, nay chúng ta gọi Thức là “tư tấn” (資訊), tức tin tức. Có bao nhiêu tin tức? Trong một tiểu quang tử có tin tức trọn khắp pháp giới hư không giới. Tất cả tin tức đều ở trong đó, chẳng sót một điều nào. Vì vậy, trong Phật pháp có khoa học bậc cao. Có người hỏi tôi một câu hỏi khó: Con giun, tức là một loại trùng bò nho nhỏ, quý vị dùng dao chặt nó làm đôi, nó liền biến thành 2 con. Nó chẳng chết, cả 2 con đều sống. Người ấy hỏi tôi chuyện gì? Người ấy nói thần thức là một, nay biến thành 2 con giun, có phải là có 2 thần thức? Đúng vậy! Có 2 thần thức, thì trong tương lai, chúng thành Phật chẳng phải là thành 2 vị Phật ư? Giải đáp vấn đề này như thế nào? Chúng tôi giải đáp theo tướng. Nói theo sự, nói theo tướng, thân của nó tồn tại. Tồn tại ở chỗ nào? Mỗi tiểu quang tử đều là một thể hoàn chỉnh. Nói cách khác, thần thức là vô lượng vô biên, chẳng sai!
Một người có thể trở thành vô lượng, vô biên Phật. Nói cho quý vị biết là thật, cũng chẳng giả! Nếu một người tạo tác tội nghiệp trong địa ngục, có phải là vô lượng vô biên thân hứng chịu vô lượng vô biên tội hay không? Đúng vậy! Trong kinh, đức Phật đã nói như thế. Vì sao chúng ta nói rất nhiều người đầu thai trong lục đạo, đầu thai là 1 thần thức, chẳng phải là 2 ư? Nói cho thông suốt, hết thảy các pháp sinh từ tâm tưởng. Ý niệm của quý vị chấp trước thân này là chính mình. Thân đã chết mà vẫn chẳng nỡ rời khỏi, giữ rịt lấy thân thể này, nên gọi là “thủ thi quỷ” (quỷ giữ thây), trọn chẳng biết thân lẫn tâm đều là giả. Chẳng phải là Bồ tát Quán Thế Âm đã nói rất rõ ràng trong TâmKinh, mọi người hằng ngày đều niệm kinh ấy, vì sao hoàn toàn chẳng sử dụng được?
Bồ tát nói rất rõ ràng: “Hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời, chiếu kiến Ngũ uẩn giai không” (Khi hành sâu xa Bát Nhã Ba La Mật Đa, soi thấy Ngũ uẩn đều không). Sau đấy, càng nói tỉ mỉ hơn: “Sắc bất dị Không, Không bất dị Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức diệc phục như thị” (Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng lại như vậy). Nếu quý vị tham cứu thấu triệt kinh văn ấy, vấn đề của quý vị sẽ được giải đáp. Chẳng còn nữa! Quý vị chẳng có vấn đề ấy! Bởi lẽ, nếu quý vị chấp trước, nó sẽ biến thành một. Nếu chẳng chấp trước, nó liền biến thành rất nhiều. Vì vậy, Phật, Bồ tát có thể phân thành vô lượng vô biên thân. Địa ngục cũng là như thế, xác thực là phân thành vô lượng vô biên thân trong địa ngục để lãnh chịu vô biên hình phạt.
Đến nay, kinh văn đã được học thuyết khoa học chứng minh, dễ hiểu hơn trước kia. Vì thế, đối với kinh văn sâu xa, uyên áo như thế này mà cổ nhân có thể thấu hiểu, chúng ta bội phục họ năm vóc sát đất. Hiện thời, nhờ các báo cáo của các nhà khoa học, chúng ta được đắc lực rất nhiều. Đem chúng so sánh với Phật học, chúng ta liễu giải Phật pháp càng rõ ràng hơn. Ở đây là nói đến nguồn cội của bảo sát (cõi báu). Mặt đức Phật phóng quang, trong quang là gì? Trong quang minh có vô lượng vô biên cõi Phật. Quý vị thấy quang minh hiện bóng cõi báu trang nghiêm của mười phương cõi Phật. Nói cách khác, trong Phật quang hiện ra đạo tràng thuyết pháp giáo học của mười phương chư Phật. Bảo sát là đạo tràng, các Ngài hoạt động tại đó, giảng kinh, dạy học nơi đó. Người nào có thể thấy hiện tượng này? Pháp thân Bồ tát. Vì sao? Các Ngài chẳng có chướng ngại. Phật, Bồ tát trong mười pháp giới vẫn chưa được, chẳng thấy, trừ phi Phật và các Ngài có duyên liền đặc biệt gia trì, thì sẽ có thể thấy. Chẳng được Phật lực gia trì, sẽ chẳng thấy, nhưng Pháp thân Bồ tát không cần gia trì, bất cứ lúc nào cũng đều có thể thấy.
Tiếp đó là: “Tống dịch tục vân: Như thị công đức, đắc vị tằng hữu. Cái vị chiêu thị thập phương, Phật tương khai diễn đệ nhất hy hữu chi pháp, cố hiện thị tiền sở vị kiến chi thụy. Cố bổn kinh trung tục viết: Tùng tích dĩ lai, vị sở tằng kiến, hỷ đắc chiêm ngưỡng, sanh hy hữu tâm” (Bản Tống dịch ghi thêm: “Công đức như vậy là chưa từng có”. Ấy là vì tỏ rõ với mười phương: Đức Phật sẽ khai diễn pháp hy hữu bậc nhất. Vì vậy, đức Phật hiện tướng lành chưa từng bao giờ thấy như thế. Do đó, kinh này chép tiếp rằng: “Từ xưa đến nay, chưa từng được thấy, mừng rằng mình được chiêm ngưỡng, sanh tâm hy hữu”).
Mấy câu này cho biết, trong bản Tống dịch có 2 câu như thế, tiếp theo đó, có tất cả 4 câu: “Diện sắc viên mãn. Bảo sát trang nghiêm. Như thị công đức. Đắc vị tằng hữu” (Sắc mặt viên mãn. Cõi báu trang nghiêm. Công đức như thế. Là chưa từng có). Đó là kinh văn trong bản Tống dịch. “Chiêu thị thập phương”: Chiêu là chiêu minh (昭明: sáng tỏ). Thị (示) là thị hiện (示現). Thị hiện rõ rệt cho mười phương chúng sinh được thấy nghe, bao hàm ý nghĩa: Nay, Phật Thích Ca Mâu Ni sẽ khai diễn pháp hy hữu bậc nhất.
Chúng ta phải ghi nhớ câu này, phương pháp hy hữu bậc nhất là kinh VôLượngThọ. Vì vậy, kinh VôLượngThọ có thể gọi là kinh bậc nhất trong các kinh do chư Phật đã nói. Lời này, cũng chẳng phải do chúng tôi tùy tiện thốt ra. Thiện Đạo Đại sư đã nói: “Chư Phật sở dĩ hưng xuất thế” (Sở dĩ chư Phật xuất hiện trong cõi đời), các Ngài đến hiện thân, thuyết pháp trong thế gian này, “duythuyếtDi Đà bổn nguyện hải” (chỉ để nói biển bổn nguyện của Phật Di Đà), có nghĩa là Phật đến thế gian này để giáo hóa chúng sinh, độ thoát chúng sinh, giúp chúng sinh phá mê khai ngộ, giúp chúng sinh lìa khổ, được vui. Ngài đã dùng phương pháp gì? Thứ nhất là dùng phương pháp này. Vô lượng pháp môn khác nhằm phụ trợ phương pháp này.
Giống như một cội cây to, phương pháp này là cội rễ, ngàn kinh vạn luận là cành cây, thân cây, ngọn cây, lá cây, là những thứ đó, còn kinh này là căn bản. Chúng ta cũng nghe các tổ sư đại đức bảo Hoa Nghiêm là căn bản của hết thảy các pháp. Chẳng sai! Chẳng sai tí nào cả! Kinh Hoa Nghiêm xác thực là căn bản. Vì sao? Phật Thích Ca Mâu Ni minh tâm kiến tính. Sau khi kiến tính, Ngài đã hoàn toàn nói ra cảnh giới đã thấy. Đó là Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh, há có sai! Đương nhiên Hoa Nghiêm là căn bản pháp luân. Hết thảy các pháp được nói trong 49 năm đều là cành lá của Hoa Nghiêm. Từ xưa, các vị tổ sư đại đức đã công nhận điều này. Vậy thì vì sao kinh Vô Lượng Thọ lại biến thành bậc nhất?
Chúng ta đọc kỹ kinh Hoa Nghiêm sẽ hiểu rõ. Kinh Hoa Nghiêm cho đến cuối cùng viên mãn như thế nào? Tự tu viên mãn, độ chúng viên mãn. Viên mãn như thế nào? Cuối cùng, 10 đại nguyện vương của Phổ Hiền Bồ tát dẫn về Cực Lạc. Dẫn về Cực Lạc là dẫn về kinh VôLượngThọ. Hoa Nghiêm đạt đến rốt ráo viên mãn là trở về VôLượngThọ. Do vậy, kinh VôLượngThọ liền biến thành căn bản của căn bản, chúng ta chớ nên không biết điều này, chớ nên không nhận thức rõ ràng! Nếu không, thì sao? Đã gặp pháp môn này vẫn nghĩ pháp môn khác khá lắm, chẳng trọn đủ tín tâm đối với pháp môn này. Tín tâm chẳng đủ, Phật pháp chẳng bị thiệt thòi, mà chính là quý vị bị thiệt thòi: Pháp hy hữu bậc nhất ở ngay trước mặt, mà quý vị bỏ lỡ, đời sau vẫn bị luân hồi, vẫn phải sinh tử, quý vị sai lầm mất rồi! Vì thế, câu này có ý nghĩa sâu xa, quý vị phải thừa nhận bộ kinh này là pháp hy hữu bậc nhất.
“Cốhiện thị tiền sở vị kiến chi thụy” (Nên hiện tướng lành chưa từng thấy như trên đây): Đức Phật hiện tướng lành, “phóng quang hiện thụy” (phóng quang, hiện tướng lành). Trong hết thảy các kinh, quý vị chẳng thấy Ngài toàn thân phóng quang. Vì thế, kinh này nói tiếp: “Tùngtíchdĩ lai” (Từ trước tới nay), đây là nói về Tôn giả A Nan. Ngài A Nan là thị giả của đức Phật. Đức Phật giảng kinh, Ngài chưa hề vắng mặt buổi nào. Trước nay, Ngài chưa thấy đức Phật hoan hỷ dường ấy, đức Phật hiện tướng thù thắng ngần ấy. Chúng ta phải ghi nhớ tướng được biến hiện này. Đức Phật chẳng khởi tâm động niệm, chẳng có phân biệt, chấp trước, vì sao mỗi ngày hiện tướng khác nhau? Đức Phật vĩnh viễn trụ trong tự tính. Sách Hoàn Nguyên Quán nói “Tự tính thanh tịnh viên minh thể”, đó là trụ xứ của Phật, chẳng lìa tự tính.
Trong tự tính, chẳng có phân biệt, chấp trước, chẳng có khởi tâm động niệm. Đức Phật thị hiện trong mười pháp giới, thị hiện trong tam đồ, cũng chẳng có khởi tâm động niệm. Hết thảy chúng sinh thấy Phật thị hiện, toàn là do nghiệp cảm của chúng sinh. Nghiệp của chúng sinh niệm niệm khác nhau. Phàm phu chúng ta không biết, chúng ta biết thô niệm, nhưng chẳng biết tế niệm. Bồ tát Di Lặc bảo: “Một cái khảy ngón tay có ba mươi hai ức trăm ngàn niệm”.
Chúng ta chẳng biết các niệm ấy, chúng là thật, chẳng giả! Nếu là người khảy ngón tay mau lẹ, trong một giây có thể khảy 5 lần, thì trong một giây có bao nhiêu niệm? Tính theo cách nói của Bồ tát Di Lặc, sẽ là một tỷ sáu trăm triệu. Một giây là một tỷ sáu trăm triệu niệm, làm sao quý vị có thể biết được nổi? Niệm niệm đều khác nhau. Vì thế, kinh nói “mấy trăm ngàn thứ biến hóa”, lời ấy là thật, chẳng giả tí nào. Ngài nói toàn là chân tướng sự thật, toàn là cảnh giới Như Lai đích thân chứng đắc, chẳng phải là tùy thuận ý niệm của phàm phu chúng ta, mà là cảnh giới do Ngài đích thân chứng. Vì thế, Ngài A Nan trông thấy. A Nan đại diện cho đại chúng dự hội, “hỷđắc chiêm ngưỡng, sanh hy hữu tâm” (mừng được chiêm ngưỡng, sanh tâm hy hữu), khẳng định trong các đại chúng dự hội cũng có một tâm trạng ấy.
“Thửbiểu A Nan tuy cửu thị Phật trắc, đản như tư thụy tượng, tiền sở vị kiến. Kim nhật hạnh năng chiêm thị khâm ngưỡng, kiến thử quang minh, tâm trung hoan hỷ, nãi khởi hy hữu nan tao chi tưởng” (Điều này, cho thấy Ngài A Nan tuy hầu bên cạnh Phật đã lâu, nhưng các tướng lành như thế ấy từ trước đến nay Ngài chưa từng được thấy. Ngày nay, may mắn ngắm nhìn, khâm phục. Thấy quang minh này, trong tâm hoan hỷ, liền khởi lên ý tưởng hy hữu, khó gặp). Đoạn này, ý nói lên cảm nhận của Tôn giả A Nan vào lúc ấy, quá hy hữu, cơ hội thành Phật viên mãn trong một đời đã đến rồi!
“Ưthị, A Nan tùng tòa nhi khởi, ca-sa bị thể, đản lộ hữu kiên, thử danh thiên đản hữu kiên, nãi tỳ-kheo trí kính chi cực” (Do vậy, A Nan liền từ chỗ ngồi đứng lên, kéo áo ca- sa đắp thân để lộ vai hữu, chuyện này được gọi là “trật áo vai phải”, đó chính là cách tỏ lòng cung kính cùng cực của tỳ-kheo). Đấy là sự lễ kính của hàng đệ tử xuất gia đối với đức Phật. “Thiên đản hữu kiên” (偏袒右肩: trật áo, lộ vai phải) là cách kính lễ nhất. Tấm y mà giới Phật giáo đắp hiện thời được gọi là ca sa (Kāṣāya), quý vị thấy để lộ vai phải. Vì sao phải lộ vai phải? Niệm niệm chẳng quên phụng sự thầy, đối trước thầy hành lễ. Thầy có chuyện gì muốn sai bảo quý vị làm, sẽ hết sức thuận tiện, tay phải ở ngoài ca-sa, sẽ phục vụ rất nhanh nhẹn, có thể tiếp nhận. Hở vai áo phải, nhằm biểu thị niệm niệm chẳng quên phụng sự sư trưởng. Ở nhà, thì hiếu thuận với cha mẹ, cũng là niệm niệm chẳng quên chuyện do cha mẹ đã giao phó, sẽ thực hiện rất nhanh, chớ nên lười nhác, biểu thị ý nghĩa này. Bình thường thì sao? Bình thường thì y ca-sa phủ kín 2 vai. Hở vai bên phải là hành lễ.
Quý vị thấy trong Tiểu thừa, Nam truyền Tiểu thừa, họ quấn ca sa trên người, bước vào đại điện bèn lộ tay phải. Phật giáo truyền đến Trung Quốc, Trung Quốc thuộc khu vực ôn đới. Thuở Phật cư trụ tại Ấn Độ, Ấn Độ là xứ nhiệt đới, nên họ ăn mặc rất đơn giản, 3 y là đủ rồi. Xứ nhiệt đới, thì đến đêm, 3 y coi như chăn đắp, ban ngày đều phủ lên thân. Khi làm lụng, chỉ dùng một tấm y, thường nói y 5 điều là quần áo lao động. Y 7 điều là lễ phục thông thường, là lễ phục mặc thường xuyên. Từ 9 điều trở lên cho đến 25 điều là đại lễ phục. Tấm y hiện thời của chúng ta là 25 điều, là đại lễ phục, khi hành lễ mới dùng. Đức Phật giảng kinh, chúng ta đến nghe kinh là đại lễ. Bởi lẽ, trong giảng đường, hoạt động Phật giáo là giảng học, chẳng có hoạt động nào khác. Đức Thế Tôn thăng tòa thuyết pháp, học trò cung kính đến nghe giảng, tất cả đều trật áo hở vai phải, đều mặc đại lễ phục.
“Trườngquỵhiệp chưởng: Trường quỵ giả, song tất trước địa” (Quỳ thẳng chắp tay: Quỳ thẳng là 2 gối đặt sát đất), có thể quỳ lâu dài. Khi hành lễ bái Phật, có lúc sử dụng hồ quỵ (胡跪). Hồ quỵ là chỉ có một chân đặt xuống đất, cũng là hành lễ, biểu thị đức Phật có sai phái gì, quý vị bèn đứng lên rất mau, đều là tâm thái ắt phải có để phụng sự bậc trưởng thượng, chẳng dám lười nhác, tán loạn, sử dụng theo ý nghĩa này. Trong trường quỵ cũng có hồ quỵ, một chân đặt sát đất, ở đây nói là 2 gối đặt sát đất, cũng là trường quỵ. Trong trường quỵ có 2 loại, chớ nên không biết.
“Hiệp chưởnggiả, hợp tả hữu lưỡng chưởng chi thập chỉ, cố hựu danh Hiệp Thập. Ấn Độ dĩ hiệp chưởng biểu kính lễ, biểu nhất tâm chuyên chú, cung kính chi nghi” (“Chắp tay” là khép mười ngón tay từ 2 bàn tay trái và phải lại, nên lại gọi là “hiệp thập” (ép sát mười ngón tay lại). Ấn Độ dùng chắp tay để biểu thị sự kính lễ, biểu thị nhất tâm chuyên chú, là nghi lễ tỏ lộ sự cung kính). 10 đầu ngón tay biểu thị điều gì? Biểu thị tán loạn. Chúng ta có rất nhiều ý niệm, nghĩ Đông tưởng Tây. Khi cung kính bèn chắp 2 tay lại, biểu thị chúng ta thu hồi sự tán loạn, nhất tâm chuyên chú, có ý nghĩa này. Vì thế, khi chắp tay, nhất định phải chắp sao cho các ngón thật khít nhau nhằm biểu thị nhất tâm. Có người chắp tay mà các ngón chỉa ra không khít, tức là không chuyên tâm, mà cũng chẳng cung kính, làm cho có mà thôi, chẳng có thành ý! Vì thế, khi thành ý, nhất định phải chắp lại thật khít, biểu thị thành ý. Điều này là lễ tiết nhỏ nhặt, nhưng lễ tiết vụn vặt chớ nên bỏ. Lễ tiết nhỏ nhặt cũng chẳng bỏ mất, thì đại đức mới có thể thành tựu.
Vì vậy, trong hiện thời, thành tựu đại đức rất khó khăn, vấn đề là vì đối với lễ tiết nho nhỏ đã tùy tiện, cứ ngỡ những chi tiết nhỏ nhặt cứ qua loa cũng được. Do đó, chẳng thể thành tựu đại đức. “Bạch” (白) là từ ngữ tôn kính. Đối với bề trên, đối với trưởng bối, như chúng ta thường thấy trong kinh chép là “bạchPhật ngôn” (bạch cùng đức Phật rằng), hiện thời nói là “báo cáo”.
Bạch có nghĩa là báo cáo. “Biểu bạch dã. A Nan trường quỵ, hiệp chưởng, hướng Phật trần thuyết, kính phát sở vấn dã” (“Bạch” là thưa bày. A Nan quỳ dài, chắp tay, hướng về đức Phật tỏ bày, cung kính thốt lời thưa hỏi). Những từ ngữ được nêu trên đây toàn là lễ tiết. Những lễ tiết ấy thường được vận dụng trong cuộc sống hằng ngày, là lễ tiết đối với tất cả các vị tôn trưởng. Đức Phật là thầy, cũng là trưởng bối. Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta có trọn đủ những lễ tiết, lễ phép hay không? Lễ tiết thật sự trọng yếu dường ấy ư? Trọng yếu! Vì sao? Tâm chân thành thanh tịnh của quý vị người khác nhìn chẳng ra, nhưng nó sẽ được bộc lộ qua các động tác.
Chúng ta làm theo cách như vậy, đương nhiên là chính mình chân thành, biểu thị sự chân thành của chính mình, ngoài ra còn là giáo hóa chúng sinh. Đặc biệt là trong thời đại này, mọi người quên khuấy lễ kính, chúng ta bất luận ở nơi đâu, quý vị làm chuyện này sẽ là công đức, là tu công đức. Bất luận ở nơi chốn nào, quý vị thấy người khác, người khác là trưởng bối của chúng ta, hoặc tuổi tác cao hơn chúng ta, lớn hơn 10 tuổi trở lên là trưởng huynh, lớn hơn 20 tuổi là bậc ngang vai vế với cha ta, chính mình là vãn bối, hoặc là [trông thấy người] cấp bậc cao hơn chúng ta, hễ trông thấy phải hành lễ. Lễ thì phải cung kính. Lễ tiết trong Phật môn là khi xá chào phải khom mình 90o để hành lễ, điều này có tất yếu hay không? Có chứ!
Quý vị thấy chúng tôi hễ nhìn thấy người khác bèn khom mình 90o để hành lễ, trong tâm quý vị bèn sanh lòng hoan hỷ. Người hiện thời chẳng có lễ tiết, thấy cha mẹ, người trên mà gật đầu, thì kể ra cũng còn khá, vì có lúc, đầu họ cũng không thèm gật nữa kia! Nếu chẳng có lễ, thưa cùng chư vị, chẳng có tâm cung kính. Vì sao? Điều gìn giữ trong lòng nhất định thấu lộ ra ngoài. Trong tâm quý vị thật sự thành kính, bên ngoài tự nhiên là lễ tiết như vậy, chẳng cần ai dạy. Quý vị rất cung kính một ai đó, trông thấy người ấy, đúng là sẽ cư xử khác hẳn. Vì thế, người hiện thời bỏ sót lễ, cũng chẳng có ai dạy, nên tâm thành kính chẳng có, học thứ gì cũng đều học chẳng thành. Vì sao? Ấn Quang Đại sư nói rất hay: “Một phần thành kính được một phần lợi ích. Mười phần thành kính được mười phần lợi ích”.
Quý vị chẳng có thành kính, làm sao đạt được? Dẫu là vị thầy giỏi đến mấy, hoặc bậc thánh hiền đến dạy quý vị, Phật, Bồ tát đến dạy quý vị, quý vị đều chẳng đạt được lợi ích. Vì sao? Thiếu tâm thành kính. Điều này cho thấy, chẳng phải là Phật, Bồ tát không đến, mà là do Phật, Bồ tát thấy quý vị chẳng có thành kính, có đến cũng vô dụng! Phật, Bồ tát thật sự đến, sẽ giúp quý vị tạo nghiệp, Phật, Bồ tát chẳng nỡ lòng nào! Vì sao? Không chân thành, bất kính là tội, là lỗi, lẽ nào Phật, Bồ tát giúp quý vị tạo tội lỗi? Vì vậy, các Ngài lánh xa, đó là lòng từ bi chân chánh, chẳng khiến cho chúng ta vì bất kính thánh hiền mà phạm tội lỗi, nên các Ngài tránh né.
Quý vị thấy Phật, Bồ tát vì chúng ta thị hiện là từ bi, mà tránh né chẳng đến vẫn là từ bi! Hiểu đạo lý này, chúng ta muốn cầu học, thật sự mong cho học nghiệp và đạo nghiệp của chính mình thành tựu, thì thành tựu từ nơi đâu? Thành tựu từ tâm cung kính. Điều này, rất quan trọng. Bản thân tôi cầu học thuở trước là một thí dụ tốt. Chúng tôi chẳng có quan hệ gì với thầy, căn bản là chẳng quen biết. Nghe tiếng thầy được rất nhiều người cung kính, tán thán, chúng tôi biết đó là một vị thầy tốt, nên được nhiều người tán dương như vậy, học đòi Mao Toại(1) tự tiến cử, viết thư gởi cho thầy. Chúng tôi là một gã nghèo túng, hèn mọn, mong học mà chẳng có duyên phận, viết một bức thư thỉnh cầu thầy chấp thuận cho chúng tôi được học bàng thính.
Khi thầy dạy, cho phép chúng tôi được dự thính. Tôi cung kính viết lá thư ấy. Thầy nhận được thư bèn hẹn tôi gặp mặt, trực tiếp nói chuyện. Chúng tôi giữ lễ đối với thầy, xác thực là có biểu hiện, tuy chẳng phải là 10 phần cung kính, nhưng phải là được 7-8 phần, chẳng giống các bạn học thông thường. Thầy không chỉ là chịu dạy, mà mỗi tuần còn dành cho tôi 2 giờ, dạy tôi ở nhà thầy 2 tiếng đồng hồ, chẳng thể tưởng tượng được! Một xu học phí cũng chẳng có! Nếu gặp người khác, thì trong giờ lên lớp, anh đến nghe ké chẳng phải là đã được rồi hay sao?
Đặc biệt, dành ra thời gian, mỗi tuần dạy tôi 2 giờ, giảng cho tôi một bộ khái luận triết học, chẳng theo sách giáo khoa. Nhân duyên học Phật của tôi do vậy mà có. Chủ đề trong khoa mục cuối cùng là triết học trong kinh Phật, thầy bảo tôi: “Phật Thích Ca Mâu Ni là triết gia vĩ đại nhất trên thế giới. Kinh Phật là đỉnh cao nhất trong triết học trên toàn thế giới. Học Phật là sự hưởng thụ cao nhất trong đời người”, quét sạch mọi thứ hiểu lầm trong thời trẻ của tôi đối với Phật giáo.
Vì chúng tôi vốn nghĩ Phật giáo là tôn giáo, là mê tín, chẳng có ý niệm muốn tiếp xúc. Khi thầy giới thiệu như thế, mới biết trong Phật pháp có đại học vấn, bèn sửa đổi quan niệm trong quá khứ, bắt đầu đến chùa miếu. Đến chùa miếu để làm gì? Tìm xem kinh sách. Thầy chỉ định những kinh điển nào mong chúng tôi sẽ đọc. Thuở ấy, kinh điển chẳng thể mua từ bên ngoài, chỉ trong chùa miếu mới có Đại Tạng Kinh, phải sao chép từ trong Đại Tạng Kinh ra.
Thuở ấy, tôi còn sao chép mười mấy bộ. Đó là gì? Đó là chính mình thuở bé học được đôi chút tôn sư trọng đạo do cha mẹ dạy, sau này đạt được sự tiện nghi ấy, chẳng dễ dàng! Vì thế, thảy đều do từ lễ nghi cung kính mà được thầy hoan hỷ, chịu dạy tôi, chẳng cần đóng học phí, đặc biệt bỏ ra thời gian dạy học, duyên phận ấy hy hữu, khó gặp! Vì thế, cầu thiện tri thức, thì phải đầy đủ điều kiện để cầu thiện tri thức, chớ nên không biết!
Tiếp đó là lời hỏi của A Nan. A Nan mở miệng thưa: “Thế Tôn kim nhật nhập đại tịch định” (Nay, đức Thế Tôn nhập đại tịch định). Ở đây, cụ Niệm Tổ có giải thích: “Ly nhất thiết tán động, cứu cánh tịch tĩnh, vị chi đại tịch” (Lìa hết thảy tán động, tịch tĩnh rốt ráo thì gọi là “đại tịch”).
Tiếp đó là nói: “Đại tịch định giả, Như Lai sở nhập chi thiền định” (Ðại tịch định là thiền định được đức Như Lai nhập). Trên thực tế, đại tịch định là gì? Là tự tính vốn định. Khi kiến tính, Huệ Năng Đại sư đã nói, Ngài báo cáo tâm đắc với Ngũ Tổ, câu thứ tư là: “Nào ngờ tự tính vốn chẳng dao động”. Đó là đại tịch định, trở về tự tính. Vì thế, lìa hết thảy tán động, Trần Sa phiền não là tán, Kiến Tư phiền não là động. Tịch tĩnh rốt ráo, cảnh giới ấy cao lắm. Chẳng có “rốt ráo”, thì tịch tĩnh là Bồ tát, thêm vào được “rốt ráo” sẽ là Như Lai, cao hơn Bồ tát, gọi là “đại tịch”. Vì thế, đại tịch định là môn thiền định do đức Như Lai đã nhập, là tự tính vốn định.
“NiếtBàn kinh tạp viết” (Kinh Niết Bàn, quyển thứ 30 chép), đức Phật nói, “Ngã ư thử gian Sa La song thụ, nhập đại tịch định. Đại tịch định giả, danh Đại Niết Bàn” (Ta ở rừng Sa La song thụ trong cõi này, nhập đại tịch định. Ðại tịch định có tên là Ðại Niết Bàn). Kinh Niết Bàn do đức Thế Tôn nói khi Ngài nhập diệt. Phật Thích Ca Mâu Ni rời khỏi thế gian này, người thế gian nói Phật Thích Ca Mâu Ni đã chết. Phật có sinh tử hay không? Thưa cùng chư vị, chẳng có! Phật chẳng có sinh tử; chúng ta có sinh tử hay không? Nói cho quý vị biết, chúng ta cũng không có sinh tử.
Chúng ta có thân là có sinh tử, nhưng linh hồn chẳng có sinh tử. Thật vậy, chẳng giả! Linh hồn hết sức tích cực trong khoảng thời gian và không gian này. Chúng ta cầu trí tuệ, cầu sống lâu, cầu của cải, trong kinh Phật đều có các phương pháp, có lý luận. Hãy đúng lý, đúng pháp mà cầu. “Trongcửanhà Phật, có cầu ắt ứng”, chẳng có gì không cầu được. Khó nhất là cầu thành Phật. Quý vị thấy thành Phật mà còn có thể cầu được, những thứ tiếng tăm, lợi dưỡng thế gian, thường gọi là “công danh, phú quý”, nhìn theo Phật pháp sẽ toàn là chuyện vặt vãnh, quá nhỏ nhoi, lẽ nào chẳng thể cầu được! Vì sao không dùng phương pháp bình thường để cầu, mà cứ phải dùng thủ đoạn phi pháp? Do thủ đoạn phi pháp mà cầu được, là do trong mạng quý vị có, nhưng vẫn là phạm tội! Phạm tội, thì tuy quý vị cầu được, trong mạng đã bị chiết khấu, suy giảm, nhưng chính quý vị chẳng biết! Nếu quý vị biết, trong mạng quý vị phú quý là do nhiều đời nhiều kiếp trong quá khứ đã tu tập, tích lũy. Trong Phật pháp có đạo lý to lớn, chớ nên không biết.
Kinh văn đã nêu rõ trạng huống khi Phật Thích Ca Mâu Ni diệt độ, Ngài ở trong rừng Sa La song thụ, lìa khỏi thế gian ở nơi ấy, nhập đại tịch định. Đại tịch định là Đại Bát Niết Bàn, nhập Vô Dư Niết Bàn, đức Phật đã khuất bóng. Đây là tướng cuối cùng trong 8 tướng thành đạo của Phật Thích Ca Mâu Ni, vì sao phải thị hiện tướng ấy? Nếu đức Phật chẳng thị hiện tướng ấy, thường trụ trong nhân gian, kẻ bình phàm sẽ nảy sanh hiểu lầm: Phật là một vị thần, trường sinh bất lão, làm sao chúng ta có thể làm được? Chúng ta sẽ chẳng dám học tập Ngài. Vì thế, đức Phật thị hiện giống như kẻ bình phàm chúng ta, có sanh, lão, bệnh, tử, mọi người liền tin tưởng. Phật chẳng phải là thần, Phật là người, Ngài có thể làm được, chúng ta cũng có thể làm được, tín tâm bèn mười phần trọn đủ.
Đồng thời, Ngài đã ban cho chúng ta một sự cảnh giác cao độ, lúc quý vị thấy đức Phật tại thế, tuy theo học với Ngài, nhưng chẳng nghiêm túc, giải đãi, lười nhác, tán loạn. Đức Phật đã tịch rồi, thì không còn chỗ nương cậy, nếu không nghiêm túc nỗ lực, mai sau sẽ xoay xở ra sao? Kích động, phát khởi đạo tâm nghiêm túc tu học của chính mình! Có ý nghĩa như vậy, khiến cho chúng ta biết đức Phật chẳng thường trụ lâu dài trong nhân gian, Phật sẽ ra đi, chúng ta phải nắm chặt thời tiết nhân duyên này! Sau khi đức Phật đã khuất bóng, Ngài có dạy chúng ta, pháp vận của lão nhân gia dài đến một vạn hai ngàn năm. Pháp vận, nói theo cách hiện thời, sẽ là “sức ảnh hưởng”. Nói theo phương diện không gian, Ngài có sức ảnh hưởng trên cả thế giới. Nói theo phương diện thời gian, Ngài có sức ảnh hưởng suốt một vạn hai ngàn năm. Đó là đại đức. Chẳng phải là đại đức, thì làm sao có thời gian ảnh hưởng lâu dài như thế? Chúng ta hiểu rõ, chỉ biết Phật giáo hiện thời tuy suy vi, pháp vận của đức Phật hãy còn kéo dài tới 8.000 năm sau.
Pháp vận của đức Phật có lúc lên cao, có khi xuống thấp, hiện thời nhằm lúc thoái trào, trong tương lai sẽ có cao trào hay chăng? Khẳng định là có. Nhưng chúng ta nhất định phải nhận biết Phật pháp là giáo dục, khẳng định chẳng phải là tôn giáo, phải hiểu rõ điều này. Phật giáo thừa nhận trong vũ trụ có thần, có quỷ thần, có thiên thần, có Phật, Bồ tát trong các thế giới phương khác, đó là vũ trụ quan Phật giáo. Nhưng Phật trọn chẳng sùng kính thần, chư vị phải biết điều này. Nói đúng ra là quan hệ giữa chúng ta và Phật giống như quan hệ giữa người và người, chỉ là chúng sinh trong các chiều không gian khác nhau. Dục Giới Thiên và Sắc Giới Thiên khác chiều không gian với chúng ta. Quỷ thần cũng chẳng thuộc cùng một kích thước không gian với chúng ta.
Nếu chúng ta có thể đột phá các chiều không gian, quý vị có thể thấy trọn vẹn. Có năng lực đột phá hay không? Có năng lực, tâm thanh tịnh hiện tiền, thời gian và không gian đều chẳng có. Nói theo Phật pháp, quý vị có thể chứng đắc quả vị A La Hán, có thể siêu việt thời gian và không gian. Bồ tát có năng lực lớn hơn nữa, năng lực của Phật trọn khắp pháp giới, hết thảy chướng ngại đều chẳng có. Vì lẽ đó, bao nhiêu là thiên thần và quỷ thần đều là đệ tử Tam bảo, quy y Phật Đà, họ cũng nghe kinh, nghe pháp, cũng tu hành, cũng niệm Phật, người cầu sanh Tịnh độ cũng rất nhiều. Quỷ thần đều phát tâm cầu sanh Tịnh độ. Nếu chúng ta chẳng phát tâm thì ngay cả quỷ thần cũng chẳng sánh bằng, chớ nên không hiểu đạo lý này!
Tiếp theo là: “Hựu Chân Giải vân: Phổ Đẳng Tam-Muội cập đại tịch định, tịnh thị Niệm Phật Tam-Muội dị danh dã. Kim Phật vị thuyết Niệm Phật pháp môn, trụ Niệm Phật Tam- Muội” (Sách Chân Giải lại viết: “Phổ Đẳng Tam-Muội và đại tịch định đều là tên gọi khác của Niệm Phật Tam-Muội. Nay, đức Phật vì để nói pháp môn Niệm Phật bèn trụ trong Niệm Phật Tam-Muội”). Cách giải thích càng ngày càng gần gũi Tịnh tông. Phổ Đẳng Tam-Muội: Phổ (普) là phổ biến, trọn khắp pháp giới là phổ; Đẳng (等) là bình đẳng. 3 căn đều thích hợp trọn khắp, thâu gồm toàn bộ lợi căn và độn căn, đó là đẳng. Bất luận căn tính như thế nào, pháp môn Niệm Phật vãng sinh Tịnh độ là phổ đẳng, tức là chẳng có mảy may sai biệt, phổ biến bình đẳng.
Chỉ cần quý vị gặp gỡ, chỉ cần quý vị có thể tin, hiểu, thật tu, chẳng có ai không vãng sinh. Sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới, chẳng thể nào không thành Phật. Tới Tây Phương Cực Lạc thế giới, thành Phật có sớm hay muộn, đó là do mỗi người siêng năng hay lười biếng khác nhau. Dũng mãnh, tinh tiến, đến Tây Phương Cực Lạc thế giới sẽ thành Phật rất nhanh. Giải đãi, lười biếng, tán loạn, chẳng sốt sắng, sẽ chẳng bị thoái chuyển, chỉ là tiến bộ chậm hơn, nhưng vẫn thành Phật. Do đó, nói pháp môn này là pháp môn Phổ Đẳng, còn đến đâu để tìm nữa?
Trong 84.000 pháp môn, có rất nhiều môn bất bình đẳng, có những pháp môn chỉ thích hợp bậc thượng thượng căn, kẻ bình phàm chẳng tu được. Có những pháp môn chỉ thích hợp bậc thượng căn, kẻ trung, hạ căn chẳng có phần. Có những pháp môn thích hợp kẻ hạ căn, người thượng căn cũng chẳng thể học. Ví như trong kinh Tiểu thừa, có rất nhiều kinh giảng pháp nhân thiên, những bậc thượng căn biết sanh thiên chẳng rốt ráo, nên chẳng muốn học. Chẳng giống như pháp môn Tịnh tông, pháp môn này đúng là Phổ Đẳng Tam-Muội, học pháp môn này bình đẳng. Chúng ta chọn cách Trì danh Niệm Phật.
Trong Thập Lục Quán Kinh, Trì danh Niệm Phật là phép Quán cuối cùng, tức phép Quán thứ 16. Được liệt kê cuối cùng, thì cũng là pháp môn kỳ lạ, đặc biệt nhất. Đối với chuyện này, cổ Ấn Độ và Trung Hoa có nhiều chỗ rất giống nhau, khi diễn xuất nghệ thuật, màn biểu diễn hay nhất được đặt cuối cùng. Vì thế, phép Quán cuối cùng trong 16 phép Quán sẽ là pháp môn trọng yếu nhất và thù thắng nhất trong 16 phép Quán, tức là Trì danh Niệm Phật. Trước nó, có các phép Quán tưởng Niệm Phật, Quán tượng Niệm Phật, cuối cùng là Trì danh Niệm Phật, chúng ta phải biết đạo lý này. Kinh dạy: “Phổ Đẳng Tam-Muội cập đại tịch định, tịnh thị Niệm Phật Tam-Muội dị danh” (Phổ Đẳng Tam-Muội và đại tịch định đều là tên gọi khác của Niệm Phật Tam-Muội), là biệt danh. Phổ Đẳng Tam-Muội là Niệm Phật Tam-Muội, kinh còn gọi nó là đại tịch định.
“KimPhật vị thuyết Niệm Phật pháp môn, trụ Niệm Phật Tam-Muội” (Nay, vì nói pháp môn Niệm Phật, đức Phật trụ trong Niệm Phật Tam-Muội): Trong pháp hội hiện thời, đức Phật vì đại chúng nói pháp môn Niệm Phật, giới thiệu Tây Phương Cực Lạc thế giới cặn kẽ cùng đại chúng. Phật trụ ở nơi đâu? Phật trụ trong Niệm Phật Tam-Muội.
“ỨcPhật,niệm Phật, hiện tiền đương lai, tất định kiến Phật” (Nhớ Phật, niệm Phật, hiện tại, tương lai, nhất định thấy Phật). Tin tức này nhằm bảo với chúng ta: Trong tâm chúng ta tưởng Phật, miệng niệm Phật, được Phật lực gia trì; hiện tiền, tương lai nhất định thấy Phật là Phật lực gia trì. Phật ở chỗ nào? Không nơi đâu, Phật chẳng hiện diện, không lúc nào chẳng tồn tại. Thiền sư Trung Phong bảo chúng ta: “Phương này chính là Tịnh Độ. Tịnh Độ chính là phương này”. Vì thế, Phật không lúc nào chẳng hiện diện, không nơi đâu chẳng hiện hữu. Phật do đâu mà có? Phật là tự tính biến hiện. “Tự tính Di Đà, duy tâm Tịnh Độ”, “Tâm ta chính là Di Đà. Di Đà chính là tâm ta”.
Quý vị thấy đó: Nói rất rõ ràng, rất minh bạch, những đoạn kinh văn khai thị ấy, đã giúp chúng ta đoạn nghi sanh tín. Khi trước, tôi thường nói: Chúng ta mong mỏi xã hội an định, thế giới hòa bình, phải như thế nào thì mới thực hiện được? Người trên thế giới ai nấy đều có thể làm tròn những việc thuộc về bổn phận của chính mình. Điều này, rất trọng yếu. Tương thân, tương ái những người có nghề nghiệp khác biệt, cùng nhau hợp tác, xã hội sẽ an định, phồn vinh, thế giới cũng thật sự hài hòa, mà cũng chẳng có tai nạn, các tai nạn đã bị hóa giải rồi!
Mỗi người thực hiện tốt đẹp những chuyện thuộc bổn phận. Bổn phận của người xuất gia học Phật là gì? Bổn phận là giảng kinh, giáo học. Bổn phận là như vậy đó! Xuất gia thì phải học theo Phật Thích Ca Mâu Ni. Tại gia phải học theo cư sĩ Duy Ma. Cư sĩ Duy Ma là đức Phật tại gia, Phật Thích Ca Mâu Ni là Phật xuất gia. Các Ngài có cùng đẳng cấp, chẳng có cao thấp! Từ kinh điển, từ kinh DuyMa Cật, chúng ta thấy cư sĩ Duy Ma giảng kinh, thuyết pháp, các vị Đại Mục Kiền Liên, Xá Lợi Phất đến nghe kinh. Quý vị thấy các Ngài đối với cư sĩ Duy Ma lễ kính, đảnh lễ 3 lạy, nhiễu theo chiều bên phải 3 vòng, lễ tiết hoàn toàn giống như gặp Phật Thích Ca Mâu Ni. Sự biểu diễn ấy nhằm bảo chúng ta: Phật giáo là sư đạo, là giáo dục.
Trong sư đạo, thầy lớn nhất, tôn sư trọng đạo. Chẳng thể nói quý vị là đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni, đến chỗ cư sĩ Duy Ma nghe kinh, sẽ cao hơn người ta một bậc. Nếu nghĩ như vậy là trật mất rồi! Chẳng có đạo lý ấy! Vì thế, người thăng tòa giảng kinh là lớn nhất. Cư sĩ Duy Ma là nam tử. Nếu là nữ chúng tỳ-kheo-ni thăng tòa giảng kinh, nam chúng đến nghe kinh, phải ghi nhớ: “Thầy luôn là lớn nhất!”. Chẳng còn phải bàn ra tán vào chi nữa! Bà ta thăng tòa, đại diện cho Phật giảng kinh, giáo học, tỳ-kheo trông thấy phải lễ bái. Không lễ bái, tức là chẳng tôn trọng pháp! Vị tỳ-kheo-ni ấy lại chẳng dám nhận lễ, làm như thế nào? Đặt trên giảng đài, trước mặt vị ấy một bức tượng Phật.
Khi người ta lạy sẽ là lạy tượng Phật, ta ở sau tượng Phật, cách làm này cũng đúng pháp, cũng rất tốt. Trước giảng đài thờ tượng Phật, khi tỳ-kheo đến sẽ bái Phật. Do đó, Phật pháp có phương tiện thiện xảo, chẳng đánh mất tâm cung kính. Vì tâm cung kính, chẳng phải chỉ là cung kính pháp, cung kính thầy, mà còn khiến cho đại chúng đều trông thấy, làm cho đại chúng đều học tập, người lên đài thăng tòa đại diện cho Phật! Khi vị thầy của chính mình nếu đến nghe học trò giảng kinh, thì cũng phải đối trước người giảng xá chào, cung kính Tam bảo. Đó là biểu diễn, thường nói là làm Ảnh hưởng chúng, đều nhằm hướng dẫn, giáo hóa chúng sinh. Vì vậy, dụng ý biểu thị pháp rất sâu.
“Cốtri đại tịch định, thông thuyết tức vi Phật chi thiền định, danh Đại Bát Niết Bàn. Nhược án kim kinh, tắc chỉ Niệm Phật Tam-Muội. Niệm Phật Tam-Muội xưng Bảo Vương Tam- Muội, vi Tam-Muội trung vương. Kim nhật Thế Tôn khai diễn Tịnh Độ pháp môn, cố nhập Niệm Phật Bảo Vương Tam-Muội” (Như vậy, đại tịch định nói chung là một thứ thiền định của Phật mang tên Ðại Niết Bàn. Nếu xét theo kinh này, “đại tịch định” chỉ Niệm Phật Tam-Muội. Niệm Phật Tam-Muội được gọi là Bảo Vương Tam-Muội, là vua trong các Tam-Muội. Giờ đây, đức Thế Tôn khai diễn pháp môn Tịnh Ðộ, nên Ngài nhập Niệm Phật Bảo Vương Tam-Muội).
Ý nghĩa này rất sâu, từ danh xưng của tam-muội, chúng ta có thể thấu hiểu, “kim kinh” là nói đến kinh VôLượngThọ. Nói về điều gì? Niệm Phật Tam-Muội. Niệm Phật Tam-Muội được gọi là Bảo Vương, 2 từ này rất khó có. Bảo (寶) là tỷ dụ, hình dung pháp môn này quý báu. Quý vị thấy 7 báu trong thế gian, vàng, bạc, lưu ly, mã não… Quý vị có được 7 báu, sẽ xa lìa sự nghèo cùng thiếu thốn trong cuộc sống vật chất, đạt được của cải, giàu có.
Ở đây, chữ “Bảo” chỉ Phật pháp. Phật pháp còn trân quý hơn 7 báu của thế gian. Của báu trong thế gian có thể giúp đỡ thân mạng, khiến cho thân mạng quý vị sống thoải mái. Pháp bảo có thể giúp đỡ huệ mạng, cũng có nghĩa là Pháp bảo đem lại cuộc sống tinh thần còn thù thắng hơn cuộc sống vật chất. Cuộc sống vật chất dẫu phong phú cách mấy đi nữa mà chẳng có cuộc sống tinh thần; đó gọi là “giàu mà không vui”. Người ấy tuy giàu có, tuy địa vị rất cao, sống cuộc đời rất nhọc nhằn.
Chúng ta thường thấy chuyện này, trong xã hội, gần như mỗi ngày quý vị đều thấy như vậy. Họ sống cuộc đời chẳng vui sướng, chẳng hạnh phúc! Người có cuộc sống tinh thần phong phú, sẽ sung sướng. Tuy nghèo cùng, chẳng có của cải, hèn mọn, chẳng có địa vị, tức là chẳng có địa vị trong xã hội, chẳng có tài sản, nhưng mỗi ngày sống vui sướng. Niềm vui do đâu mà có? Niềm vui sanh từ trí tuệ. Trí tuệ là cội nguồn của cuộc sống tinh thần, thật sự đem lại hạnh phúc mỹ mãn, vui sướng vô cùng! Nói nông cạn, người có trí tuệ chẳng tạo nghiệp. Không tạo nghiệp sẽ chẳng hứng chịu khổ báo, tương lai chẳng có thân này, tuyệt đối không vào 3 ác đạo. Tâm địa thanh tịnh, người công phu tốt đẹp một chút sẽ biết chính mình đến đâu, không nhất định phải là học Phật, thì mới biết trước lúc mất; người chẳng học Phật cũng tự biết trước lúc mất.
Có nhiều người sanh lên cõi Trời, lúc mạng chung, chư thiên đến tiếp dẫn, đồng nam đồng nữ cõi Trời đến tiếp dẫn người ấy vãng sinh, biết sẽ ra đi khi nào. Phúc báo cõi Trời lớn hơn nhân gian nhiều lắm, tâm địa cũng thanh tịnh hơn nhiều! Người công phu tu hành tốt đẹp, chứng đắc quả vị, lại càng chẳng cần phải nói nữa. Có A La Hán tiếp dẫn, thiện thần tiếp dẫn, Bồ tát tiếp dẫn. Vãng sinh Tây Phương Cực Lạc thế giới là Phật A Di Đà đến tiếp dẫn, quý vị thấy thù thắng dường ấy. Đó gọi là Bảo Vương Tam-Muội. Tu Niệm Phật Tam-Muội như thế nào? Kinh dạy chúng ta: “Phát Bồ đề tâm, một mực chuyên niệm”. Khi nào sẽ đắc tam-muội? Tam-muội là tiếng Phạn, dịch nghĩa sang tiếng Hán là Chánh thọ, hoặc Chánh định. Thọ (受) là hưởng thụ. Chánh thọ là sự hưởng thụ đúng đắn.
Trong kinh, đức Phật đã dạy: Lục đạo phàm phu hưởng thụ cuộc sống hằng ngày bất bình thường! Đức Phật nói có 5 thứ cảm thụ, thân có khổ vui, tâm có lo mừng. Vì thế, 5 thứ cảm thụ ấy là nói gộp thân và tâm lại, tức là khổ, lạc, ưu, hỷ, xả. Chữ cuối cùng là “Xả”, tức là thân chẳng có khổ, vui, tâm cũng chẳng có lo, mừng; nay khổ, lạc, ưu, hỷ, xả đều chẳng có, nên gọi là Xả thọ.
Trên thực tế, Xả thọ và Chánh thọ hết sức gần gũi. Vì sao chẳng gọi xả là chánh? Vì thời gian xả rất ngắn, rất nhanh, quý vị lại có khổ, lạc, ưu, hỷ. Chánh thọ là khổ, lạc, ưu, hỷ thật sự chẳng có. Chẳng có khổ, lạc, ưu, hỷ, xả thì gọi là Chánh thọ. Chánh thọ là như trong nhan đề kinh có nói “Thanh tịnh, Bình đẳng, Giác”. Thanh tịnh là Chánh thọ của A La Hán và Bích Chi Phật, là cảnh giới tam-muội của các Ngài. Bình đẳng là Chánh thọ của Bồ tát. Giác là Chánh thọ của chư Phật, chúng ta thường nói là 41 địa vị Pháp thân đại sĩ. Đạt đến giác, đương nhiên thanh tịnh và bình đẳng đều trọn đủ. Đạt đến bình đẳng, chẳng đạt được giác.
Đạt được bình đẳng bèn có thanh tịnh, điều sau bao gồm điều trước, điều trước chẳng bao gồm điều sau. Do đó, pháp môn Niệm Phật được gọi là Bảo Vương Tam-Muội, điều này quá khó có, hy hữu!
“Kim nhật Thế Tôn khai diễn Tịnh Độ pháp môn, cố nhập Niệm Phật Bảo Vương tam-muội” (Giờ đây, đức Thế Tôn khai diễnphápmôn Tịnh Ðộ, nên Ngàinhập Niệm Phật Bảo Vương Tam-Muội); do đó mới có chuyện kỳ đặc phóng quang, hiện tướng lành. Đó là tự nhiên cảm ứng, đức Phật chẳng khởi tâm động niệm, chúng ta nhất định phải biết điều này.![]()
[1] Mao Toại là người nước Triệu, sống vào thời Chiến Quốc, là môn khách của Bình Nguyên Quân (Triệu Thắng) đã lâu, nhưng chưa ai biết tới tài năng. Năm thứ 9 đời Triệu Hiếu Thành Vương (275 trước Công Nguyên), nước Tần vây hãm kinh thành Hàm Đan của nước Triệu, Bình Nguyên Quân cầm tiết việt sang nước Sở cầu cứu. Mao Toại thừa dịp, tự giới thiệu, đề cao mình, đối đáp khẳng khái, nên được Bình Nguyên Quân cho theo đàm phán. Khi Bình Nguyên Quân và Sở Khảo Liệt Vương đang bàn cãi, Mao Toại bèn nói rạch ròi lẽ lợi hại, khiến vua Sở đồng ý liên minh với Triệu. Vì chuyện này mới có thành ngữ “Mao Toại tự tiến”. Bình Nguyên Quân là con của Triệu Linh Vương (Triệu Ung), em trai Triệu Huệ Văn Vương (Triệu Đan), từng giữ chức Tể Tướng của hai đời vua Triệu Huệ Văn Vương và Triệu Hiếu Thành Vương. Ông là một chính trị gia nổi tiếng, đồng thời nuôi rất nhiều môn khách (danh sĩ đến làm cố vấn). Bình Nguyên Quân cùng với Mạnh Thường Quân (Điền Văn) nước Tề, Tín Lăng Quân (Ngụy Vô Kỵ) nước Ngụy, và Xuân Thân Quân (Hoàng Hiệt) nước Sở nổi tiếng là những người rộng lượng, hiền đức, được người đương thời gọi chung là Chiến Quốc Tứ Công Tử.


























































































































































Bình luận bài viết