Thông tin

TỊNH ĐỘ ĐẠI KINH GIẢI DIỄN NGHĨA - TẬP 79

 

 

Chủ giảng: LÃO PHÁP SƯ TỊNH KHÔNG

*****

Trưởng ban biên dịch:

TK. Thích Đồng Bổn

 

QUYỂN 8

(Tập 71-80)

 

TẬP 79

 

Giảng ngày 14 tháng 7 năm 2010

Tại Phật Đà Giáo Dục Hiệp Hội HongKong

Chuyển ngữ: Nhật Chí - Biên tập: Bình Minh

 

Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin mời tiếp tục xem “Đại thừa Vô Lượng Thọ Kinh Giải”, trang 84, từ dòng thứ 6, đếm từ dưới lên.

“Hựu Hán dịch xưng A Di Đà Phật vi Vô Lượng Thanh Tịnh Phật” (Lại Hán dịch xưng A Di Đà Phật là Vô Lượng Thanh Tịnh Phật). Trong 5 bản dịch, bản dịch của triều Hán, đề kinh là Vô Lượng Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác Kinh. Đề mục này khi Hạ Liên Cư hội tập đã áp dụng, nghĩa là nửa sau của đề kinh hiện nay.

Trong kinh, Phật xưng A Di Đà Phật, chính là “Vô Lượng Thanh Tịnh Phật”. 4 từ A Di Đà Phật này là tiếng Ấn Độ, tiếng Phạn của Ấn Độ xưa, có thể phiên dịch thành “Vô Lượng Thanh Tịnh Phật”. A dịch là VÔ, DI ĐÀ dịch là LƯỢNG, PHẬT dịch là GIÁC. Trong đề kinh chúng ta thấy Thanh tịnh – Bình đẳng – Giác. Dùng một chữ GIÁC này, tức Thanh tịnh, Bình đẳng ở trên, đều bao gồm cả trong đó rồi. Vì thế, chúng ta gọi Thanh tịnh, Bình đẳng, Giác, cũng chính là hàm nghĩa Phật A Di Đà. Do đó, trong đề mục này, tên của Phật, tên của Bồ tát đều mang ý nghĩa rất thâm sâu. Nó là tượng trưng, tượng trưng cho pháp môn này. Pháp môn cũng giống như các khoa mục ở nhà trường bây giờ vậy. Quý vị nghiên cứu hạng mục nào, thì nó đại diện cho hạng mục đó.

Trong hạng mục này có 3 cấp bậc. Thứ nhất là Thanh tịnh, thứ hai là Bình đẳng, thứ ba là Giác mà không mê. Chỗ này vẫn đang giảng đề kinh. Trong đề kinh bao hàm rất nhiều ý nghĩa. 3 ý nghĩa này là đại diện cho 3 sự thành tựu của việc tu học. 3 cái đều coi là thành tựu, giống như học vị ở nhà trường hiện nay vậy. Tức là nói đến Tiến sĩ, Thạc sĩ và Cử nhân. Trường học bây giờ đều chia thành như thế.

Trong đạo Phật cũng có học vị, học vị cao nhất là Phật, học vị thứ hai là Bồ tát và học vị thứ ba là A La Hán. Trong đề kinh này, vừa đúng đã hiển thị 3 học vị này. Nếu học Phật đạt được tâm thanh tịnh, vậy quý vị là A La Hán. Học vị thứ nhất quý vị đã đạt được.

Thế nào gọi là thanh tịnh tâm? Kiến Tư phiền não ở trong lòng quý vị buông xả hết, không còn nữa. Nếu lấy tiêu chuẩn trong kinh Hoa Nghiêm để nói, thì đối với mọi việc của thế gian không còn chấp trước nữa. Vì sao? Bởi ta đã hiểu rõ hết thảy pháp trong thế gian đều không thật.

Trong kinh Kim Cương nói: “Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh” (Hết thảy pháp hữu vi như chiêm bao, huyễn ảo, bọt nước, bóng hình). Nó không phải thật. Đến thân của chính mình cũng không phải thật, huống gì là vật ngoài thân.

Vậy tại sao ta không buông xả? Không buông xả là sai. Tâm ta đã bị nhiễm ô. Trong tâm có phiền não, chính là nhiễm ô. Vì thế, tâm thanh tịnh phải thành tựu công phu này, thì thật sự đạt được thanh tịnh. Đây là học vị thứ nhất.

Lên cao hơn nữa, chẳng những chúng ta không còn chấp trước đối với hết thảy pháp mà đến ý niệm phân biệt cũng đều không có. Điều này quả thật rất cao, đây là Bồ tát. Quý vị đã đạt được học vị thứ hai.

Cao lên hơn nữa. Chẳng những không còn phân biệt, mà khởi tâm động niệm cũng đều không có, như như bất động. Đây chính là GIÁC, giác mà không mê. Đây là học vị cao nhất, là Phật. Do đó, Thanh tịnh là A La Hán, Bình đẳng là Bồ tát và Giác là Phật.

Giáo dục của đức Phật dạy điều gì? Mục tiêu cuối cùng chính là khiến ta đạt được điều này. Đây là tự tính. Trong tâm thanh tịnh của tự tính vốn đầy đủ, mọi người đều có. Vì vậy, đức Phật nói hết thảy chúng sinh vốn là Phật. Bởi vì, tính Phật này quý vị đã có sẵn. Đã có, tại sao bây giờ lại không có? Vì mê. Mê trong cảnh giới của hư vọng. Ở trong đó, ta khởi lên tự tư tự lơi, khởi lên ý niệm này, khởi lên thị phi nhân ngã, khởi lên tham, sân, si, mạn. Quý vị đã bị ô nhiễm. Ô nhiễm, thì gọi là phàm phu. Ta vốn là Phật, bây giờ gọi là phàm phu. Phàm phu trong mắt đức Phật, vẫn là một vị Phật. Bởi vì Phật nhìn vào tự tính của quý vị, chứ không nhìn vào tập khí của quý vị.

Trong Tam Tự Kinh nói: “Nhân chi sơ, tính bản thiện”. Bản thiện là gì? Thanh tịnh, Bình đẳng, Giác là bản thiện. Đó không phải do ta giác ngộ được. Trong bản tính của ta vốn có, bây giờ mê mất bản tính, nên bản tính không thể khởi tác dụng. Không phải không khởi tác dụng, cũng có khởi tác dụng, nhưng khởi tác dụng lệch lạc. Tác dụng đã lệch lạc, thanh tịnh biến thành phiền não. Trong giáo lý Đại thừa nói biến thành Kiến Tư phiền não, Bình đẳng biến thành Trần Sa phiền não, Giác biến thành Vô Minh phiền não. Hết thảy đều đã biến chất, cho nên giáo lý Đại thừa dạy chúng ta “Phiền não tức Bồ đề”. Khi đã giác ngộ, thì 3 loại phiền não sẽ trở về Thanh tịnh, Bình đẳng, Giác vốn có.

Hiện tại, quý vị đang mê, nên đã biến chất. Biến thành 3 loại phiền nào này, chính là ý nghĩa này. Phiền não là giả. Vì sao? Tính của nó có thể thay đổi. Nó sẽ biến đổi. Còn Thanh tịnh, Bình đẳng, Giác là chân thật vĩnh hằng không thay đổi. Mặc dù, chúng ta bây giờ đang ở trong nhân đạo, trong phàm phu, kể cả trong tương lai, quý vị đọa vào cõi Súc sinh, Ngã quỷ hay đọa vào Địa ngục thì Thanh tịnh, Bình đẳng, Giác này vẫn còn. Nó không bao giờ thay đổi, chỉ là ta càng mê càng sâu, nên phiền não đã gây ra biết bao khổ đau. Khổ đau như trong giấc mộng, không phải chân thật, thức tỉnh rồi thì không sao cả. Thức tỉnh chính là giác ngộ.

Ở trước, tôi có nói với quý vị, thanh tịnh tâm hiện tiền tức là quý vị đã thức tỉnh. Thức tỉnh, thì lục đạo không còn nữa. Vì lục đạo này vốn không thật, là giả, giống như một giấc mộng mà thôi. Tỉnh ngộ là thuộc thế giới nào? Tỉnh ngộ rồi là pháp giới của Tứ thánh, vượt ra ngoài lục đạo, không còn lục đạo nữa. Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ tát và Phật, 4 pháp giới này sẽ hiện ra. Nhưng 4 pháp giới này vẫn còn ở trong mộng. Lục đạo là mộng trong các mộng. Điều này, chúng ta không thể không biết. Không còn khởi tâm, động niệm nữa thì mới là chân thật tỉnh ngộ. Tỉnh ngộ, thì mười pháp giới không còn. Mười pháp giới là giả, không phải thật. Từ đâu có mười pháp giới? Từ vọng niệm sinh khởi vậy. Đạo lý này rất thâm sâu.

Kinh Hoa Nghiêm đã nói rõ ràng rồi. Điều này, cũng như những gì thầy Phương Đông Mỹ nói. Triết học tối cao, khoa học tối cao. Khoa học và Triết học đều muốn giải giải quyết vấn đề này. Bây giờ, khoa học đạt tới đỉnh cao, chúng ta rất bội phục. Khoa học và Phật pháp càng ngày càng xích lại gần nhau. Từ từ trong kinh Phật nói trong 3.000 năm trước, bây giờ khoa học đã chứng minh. Tuy đã chứng minh, nhưng với Phật pháp vẫn còn cách một bậc. Đạo lý này trong kinh Phật nói rất rõ ràng.

Giới khoa học và các nhà triết học trên thế gian, họ sử dụng tâm như thế nào? Họ dùng tâm phân biệt, tâm chấp trước để nghiên cứu. Chấp trước là Mạt Na thức. Phân biệt là Đệ lục Ý thức. Trong 8 thức, công năng của 2 thức này rất lớn, phạm vi hoạt động của nó vô cùng rộng. Trong kinh đã nói cho chúng ta biết, Ý thức đối với bên ngoài có thể duyên đến hư không pháp giới.

Ngày nay, chúng ta gọi là thế giới Vĩ mô, đối bên trong có thể duyên đến A Lại Da. Đó là Lượng tử lực học, thế giới Vi mô. Hiện giờ, khoa học đang đi trên 2 loại cực đoan này. 2 cực đoan này, trong kinh Phật đã nói rõ hơn so với các nhà khoa học. Giới khoa học đã duyên đến A Lại Da, rất lợi hại, chúng ta không thể không khâm phục.

Họ cho chúng ta biết, trong vũ trụ chỉ có 3 loại, ngoài 3 loại này ra, cái gì cũng không có. Ba loại đó là gì? Vật chất, Năng lượng và Thông tin. Ba loại này là 3 tướng nhỏ nhiệm của A Lại Da. Nghiệp tướng của A Lại Da chính là Năng lượng mà khoa học gia đề cập đến. Chuyển tướng của A Lại Da chính là Thông tin mà họ đã nói và Cảnh giới tướng của A Lại Da chính là Vật chất mà họ từng nói. Tên tuy bất đồng, nhưng sự việc lại giống nhau.

3.000 năm trước, thời của đức Phật Thích Ca Mâu Ni không có công nghệ gì cả, nhưng tại sao Ngài lại biết rõ ràng như vậy? Nhà khoa học phát hiện được 3 loại này, rất giỏi. Nhưng 3 loại này từ đâu mà có? Họ không nói được. Họ chỉ có thể nói 3 loại này đột nhiên phát sinh, nhưng tìm không ra nguyên nhân. Trong kinh Phật nói, nó có nguyên nhân. Điều này, khoa học và triết học không thể với tới. Tại sao vậy? Bởi vì, vấn đề này phải dùng đến tâm thanh tịnh mới có thể quan sát được. Do đâu đức Phật có thể biết? Nhà Phật tu thiền định. Trong thiền định, nếu đạt được trạng thái lắng đọng thâm sâu, thì có thể thấy được, bởi vì thiền định có thể đột phá rào cản của không gian, cảnh giới hiện lượng, tự mắt họ nhìn thấy được. Một tí cũng không giả dối.

Quý vị tu thiền định đạt đến trình độ đó, thì cũng thấy được. Họ tu đạt đến trình độ như thế, họ cũng có thể thấy. Đạt trình độ nào? Trong kinh Hoa Nghiêm, hàng Viên giáo Sơ Trụ Bồ tát sẽ thấy được, còn trong Biệt giáo thì nói Sơ Địa Bồ tát. Có loại công phu này, cũng chính là điều chúng tôi thường giảng.

6 căn của chúng ta: Mắt nhìn sắc, tai nghe tiếng; 6 căn tiếp xúc với cảnh vật bên ngoài, nếu không khởi tâm, không động niệm, không phân biệt, không chấp trước, thì quý vị sẽ thấy cảnh giới này hiện ngay trước mắt. Kinh Hoa Nghiêm nói, cấp bậc của Bồ tát trong thế giới Hoa Tạng, có hết thảy 41 cấp bậc. Chúng ta thử nhìn lại Tịnh độ xem, Cửu phẩm, Tam bối, Tứ độ trong thế giới Tây Phương Cực Lạc, cùng với ý nghĩa của Hoa Tạng là một không khác. Nhưng thế giới của Cực Lạc và Hoa Tạng, có nhiều điểm không tương đồng.

Ở thế giới Hoa Tạng, nhất định không được khởi tâm động niệm, thì mới có thể chứng được. Cấp bậc của Tây Phương Tịnh Độ, thì không cao như thế. Chỉ cần quý vị lắng đọng phiền não, không đoạn chỉ lắng đọng thôi, thì quý vị có thể sinh về thế giới Cực Lạc. Sự khác biệt này vô cùng lớn, cho nên được mười phương chư Phật khen ngợi. Hôm qua, tôi đã nói với các vị, học Phật tu Tịnh độ, một lòng cầu sinh thế giới Cực Lạc. Còn hôm nay, chúng tôi nói vấn đề di dân, di dân sang thế giới Cực Lạc. Nơi đó, hoàn cảnh rất tốt, đó là không gian vũ trụ.

Mọi thứ trong quốc độ của chư Phật, phúc báo vô cùng lớn, không có phúc báo nào lớn hơn ở đây. Vậy thì quý vị hiểu được, chúng ta phải tu tập phúc báo rất lớn, phúc báo vô lượng vô biên. Tu pháp môn nào đây? Niệm Phật A Di Đà, chính là phương pháp này. Chúng ta, mỗi người đều niệm A Di Đà Phật, phúc báo của mỗi người vẫn có sự sai khác. Sự sai khác này, do đâu mà có? Do dụng tâm không giống nhau. Chúng ta dùng tâm tạp loạn để niệm Phật, còn họ thì dùng tâm thanh tịnh niệm Phật. Vậy chúng ta có phúc báo, nhưng phúc báo của ta không bằng họ. Tâm họ thanh tịnh. Người kia dùng tâm bình đẳng niệm Phật, phúc báo của họ lại lớn hơn. Còn có người dùng tâm Thanh tịnh, Bình đẳng, Giác để niệm Phật, như vậy càng lớn hơn nữa. Không giống nhau. Phật hiệu thì giống, nhưng công đức của họ cảm được thì không giống.

Đây là do sự dụng tâm của chúng ta. Vì thế, trong kinh luôn khuyên bảo chúng ta: “Phát Bồ đề tâm. Nhất hướng chuyên niệm”. Điều này rất quan trọng, phải chú tâm, một lòng chuyên chú. Lúc niệm Phật, hãy buông bỏ tất cả, trong tâm đừng nhớ nghĩ điều gì khác, chỉ nhớ A Di Đà Phật. “Nhất niệm tương ứng nhất niệm Phật. Niệm niệm tương ứng niệm niệm Phật”, chỗ nào có Phật thì có phúc báo, chỗ nào không có Phật thì không có phúc báo. Điều này nhất định phải biết. Những nơi không có phúc báo, chúng ta là người niệm Phật, hãy đem phúc báo niệm Phật của mình hồi hướng cho ở đó, phải giúp đỡ nơi đó. Có thể giúp được sao? Có thể.

Bây giờ, khoa học đã chứng minh, ý niệm của chúng ta, thường hay nghĩ đến một nơi nào đó, thì ý niệm này lập tức đi đến đó. Phúc báo của chúng ta, trí tuệ của chúng ta, công đức của chúng ta cũng vậy, sẽ bay đến nơi đó. Người ở bên đó có thể tiếp nhận không? Chúng ta không phải lo vấn đề này. Khẳng định họ sẽ nhận được tin tức của chúng ta. Nhưng có tác dụng hay không, thì phải xem mức độ phiền não của họ. Phiền não của họ dày quá, nghiệp chướng nặng quá, tuy nhận được nhưng họ cũng chẳng có cảm giác gì, như chúng ta bị tê liệt vậy. Nếu phiền não của họ nhẹ, họ có trí tuệ, thì họ sẽ cảm nhận được. Cái này, Phật, Bồ tát gọi là Phật lực gia trì. Phàm phu chúng ta đích thực cũng có loại năng lực này. Chỉ cần tâm chúng ta thanh tịnh, chỉ cần chúng ta thật sự có nguyện lực này, chúng ta hãy hồi hướng việc tu học của mình cho họ, thì họ có thể được lợi ích. Những sự việc này, trước đây rất khó nói, vì quá huyền nhiệm, ai có thể tin đây? Chỉ có người chân thật hiền lành mới có thể tin tưởng.

Khoa học bây giờ giải quyết được nhiều việc, đặc biệt là ngành Lượng tử lực học. Ngành khoa học này mới phát triển, vừa mới bắt đầu, rất tân tiến. Sở dĩ, chúng ta có thể lãnh hội được, sau 3 đến 5 năm nữa, ngành khoa học này sẽ được tuyên truyền rộng rãi với công chúng. Nó khẳng định ý niệm chi phối tất cả. Đây chính là chỗ mà trong kinh Đại thừa, Phật thường nói: “Nhất thiết pháp tòng tâm tưởng sinh”. Môn khoa học này nếu như được phổ biến phát huy, thì xã hội của chúng ta sẽ được cứu, những thiên tai trên trái đất của chúng ta cũng được cứu.

Bây giờ, mọi người không có biện pháp nào, không biết phải làm sao. Các nhà lượng tử lực học chứng minh, sơn hà đại địa là có cơ thể, cùng với chỗ nói trong kinh Phật không khác. Bồ tát Di Lặc cũng cho chúng ta hay rằng: “Một khảy móng tay này có ba triệu hai trăm ngàn niệm”. Mỗi niệm được hình thành. Đây chính là vật chất. Vật chất từ đâu đến? Từ nơi ý niệm chứa nhóm mà biến hiện ra. “Hình giai hữu thức” (Có hình đều có thức). Thức là cái gì? Nó có tác dụng tinh thần. Vật chất và tinh thần không bao giờ tách rời nhau. Trong vật chất có tinh thần. Tinh thần có thể thu nạp thông tin từ bên ngoài. Nếu như thông tin ấy tốt lành, là thanh tịnh, là thiện, thì những thiên tai trong sơn hà đại địa này cũng không còn, có thể khôi phục lại bình thường. Nhiệt độ quả đất tăng cao, rắc rối to rồi. Sức mạnh nào có thể khiến nó khôi phục bình thường? Ý niệm.

Nếu trên thế gian của chúng ta, thế giới này, có một phần ngàn người, trong 1.000 người có một người, suy nghĩ lương thiện, suy nghĩ trong sạch, thì thiên tai có thể giảm bớt đi. Còn nếu như nói thế gian của chúng ta đây, có thể làm được 1/100 thôi, trong 100 người, hết 99 người là tà tri tà kiến, còn một người có chính tri chính kiến, thì tai họa trên trái đất này có thể sẽ không còn. 99 người tạo nghiệp, họ hưởng phúc báo từ nơi một người có chính niệm. Tại sao? Chúng ta có thể tin tưởng. Ông bà thường nói, tà không thắng chính. Vậy 99 người kia đều tà, không thắng được một người chính, chuyện này rất có đạo lý, cho nên chúng ta hãy tin tưởng chớ nghi ngại.

Chúng ta muốn thay đổi mình, thì tu học Phật pháp là một thực nghiệm, làm thực nghiệm chính với bản thân mình. Suy nghĩ của mình thiện, hiện tại chúng ta nói tâm rất tốt, tâm thiện lương, không có ác niệm, không có phiền não, không có lo âu, không bị trói buộc, không bị áp lực, như vậy quý vị là người rất tự tại, sức khỏe trường thọ, không bị già yếu, không dùng bất cứ thứ gì để tẩm bổ, chẳng cần thiết. Không cần dùng đến thuốc men. Có bệnh thì tự nó sẽ khỏi. Bệnh từ đâu có? Bệnh từ nơi ý niệm bất thiện sinh ra.

Phật nói cho chúng ta biết, tham, sân, si là Tam độc. Cái này rất tai hại. Trong quý vị có 3 phiền não độc hại này, bên ngoài rất dễ bị cảm đau nhức. Nếu như hiểu được đạo lý này, thì bệnh của ta từ đâu mà có? Là do trong tế bào của ta có siêu vi trùng. Ta hãy thay đổi cái suy nghĩ của mình, thì những tế bào siêu vi trùng của ta đang mang sẽ có thể biến mất và khôi phục lại bình thường. Chẳng phải không có đạo lý.

Các nhà khoa học bây giờ đã từ nơi thuyết Lực học lượng tử nói ra điều này. Đã có khoa học chứng minh rồi, không phải là mê tín.

Phật giáo chúng ta đã 3.000 năm, lịch sử Trung Quốc đã từng ghi lại. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni diệt độ đến nay là 3.037 năm. Người ngoại quốc nói thì mới hơn 2.500 năm thôi. Điều này, không cần phải tranh luận. Vấn đề này nếu tranh luận, thì không bao giờ có đáp án, trừ khi tìm được đức Phật Thích Ca, nếu không thì ai có thể biết! Vì thế, không cần phải tranh cãi.

Ngày trước, con người được lợi ích của Phật pháp. Vì nguyên nhân gì? Vì họ thật thà, họ chính tín, nên họ được thọ lợi ích. Ngày nay, con người đòi hỏi phải đem chứng cứ ra mới tin tưởng. Không có chứng cứ, thì không tin tưởng, còn nói ta là người mê tín.

Chúng ta là người học Phật, cần phải cảm kích những khoa học gia Lượng tử cận đại này. Họ đứng trên khía cạnh thế giới Vi mô, đem những điều đức Phật từng nói chứng minh hết thảy, đặc biệt, chứng minh ý niệm chi phối tất cả. Vấn đề này, khoa học vừa phát minh, vừa phát hiện. Chúng tôi hi vọng rằng, sau vài ba năm nữa nó sẽ được công bố rộng rãi. Ý nghĩ quyết định tất cả. Toàn bộ xã hội này cũng như thế. Mọi người trong xã hội cần phải tin tưởng thiện tâm.

Khi tôi ở quê nhà, trong thôn làng mọi thứ rất rõ ràng, thôn này gọi là Vương thôn, người trong thôn này được xem như là người một nhà. Thôn bên kia là Lý thôn, ở đó cũng là người nhà. “Ngũ đại đồng đường bất phân gia” (Năm đời cùng nhà chẳng phân gia).

Vì thế, quý vị đã từng xem qua Hồng Lâu Mộng, thấy Hồng Lâu Mộng chính là miêu tả một gia đình, gia đình cộng đồng. Gia đình này, nhân khẩu đại khái khoảng 300 người. Lượng nhà mất dần, con người suy yếu, một vài trăm người, căn nhà này rất lạnh lẽo. Muốn dân tộc mạnh mẽ, mỗi gia đình có khoảng 700 người. 500 đến 700 người, thì mới vọng tộc được. Gia đình là một tổ chức của xã hội. Gia đình lớn như thế, nếu không có quy cũ có tồn tại được không? Nó có lộn xộn không? Vì thế, người xưa nói: Tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.

Quý vị có khả năng trị gia, thì quý vị có sức mạnh trị nước. Gia, nói rộng ra cũng chính là nước. Nó có đạo lý. Gia có gia đạo, có gia quy, có gia học, có gia nghiệp. Nghiệp là sự nghiệp. Sự nghiệp kinh doanh của quý vị. Gia học, chính là trường tư thục. Tư thục, chính là trường học của con em một nhà chúng ta. Nó không cần phải chiêu sinh ở bên ngoài. Những em nhỏ trong gia tộc của ta cùng chung học một trường. Trường học, phần nhiều dùng Từ đường, bởi vì Từ đường ngoài việc dùng cúng quảy trong năm ra, thì ở đó không còn hoạt động gì nữa, cho nên Từ đường đều biến thành trường học. Lúc nhỏ, tôi cũng học ở Từ đường. Lúc đó, học trường tư thục, học ở nhà.

Gia quy, bây giờ còn gọi là Đệ Tử Quy, một bộ phận trong gia quy, tức là một bộ phận của cộng đồng học tập, mỗi nhà đều có gia quy đặc biệt riêng của nó. Tại sao? Sự nghiệp làm ăn của họ không giống nhau. Sự nghiệp bất đồng, cho nên nó có những quy định bất tương đồng mà buộc phải tuân thủ. Vì đây là cộng đồng, bất kể ai làm ngành nghề nào, nhất định phải tuân theo nó. Quy củ là nền tảng. Ngôi nhà không những lo nuôi dạy trẻ em, mà còn phải chăm lo cho người già nữa.

Người sống trên thế gian này, tại sao? Mọi người đều biết nhau, vì nhà. Làm cho tổ tông sáng ngời, cửa nhà rộng lớn. Làm nhà, làm ở khu đất này, nhà của tôi chính là khu vực này. Họ đã yêu nước, yêu nước từ nơi việc yêu nhà mà ra. Nếu con người không thích nhà, thì họ sao có thể yêu nước được? Không bao giờ có chuyện gì. Người Trung Quốc ở khắp nơi trên thế giới, quý vị xem những Hoa kiều, họ biết gắn bó với nhau. Từ đâu mà được vậy? Từ nhà. Người ngoại quốc rất ái mộ, nghiên cứu, họ đi tìm hiểu những nơi xa xôi, nhưng chưa thâm nhập, họ thâm nhập được có hiệu quả, nó sẽ có tác dụng.

Gia giáo của người xưa rất quan trọng. Bắt đầu dạy từ lúc nào vậy? Từ ngày người mẹ mới mang thai, gọi là thai giáo. Quý vị thử nghĩ xem, lợi hại biết là bao. Bây giờ, loại thai giáo này, được người Tây phương chứng minh. Họ dùng cái gì để chứng minh? Họ dùng thôi miên. Thôi miên kêu quý vị quay lại, quay lại khi đang còn ở trong tử cung của người mẹ, quý vị có cảm giác như thế nào, sẽ nói ra. Người mẹ khởi tâm động niệm, nó cũng có cảm giác. Người mẹ ăn uống, nó cũng có cảm giác. Vì thế, thai giáo có ý nghĩa rất lớn.

Khi người mẹ mang thai, không nên có tà niệm. Tư tưởng, suy nghĩ phải trong sạch, chơn chính, không nên có phiền não, không nên u buồn. Nếu người mẹ có phiền não, có âu sầu, tức là đã gieo hạt giống bệnh hoạn cho thai nhi rồi. Người mẹ phải chú ý vấn đề này. Đứa nhỏ vừa ra đời, cha mẹ nhất định phải thực hành được Đệ Tử Quy, làm để cho đứa bé xem, trẻ con nhìn. Nó vừa sinh ra, con mắt mở to, nó có thể nhìn, tai nó có thể nghe, nó đã được học tập, bắt chước. Vì vậy, người xưa dạy trẻ con, lúc trẻ con bắt đầu học tập, cái gì không hay, thì không để cho nó nhìn thấy, không nên để nó nghe được, không nên cho nó tiếp xúc. Những gì nó thấy, đều là chơn chính, hoàn toàn tốt đẹp. Nếu để nó nhìn 1.000 ngày, thì từ khi sinh đến lúc 3 tuổi, giai đoạn này gọi là cội rễ giáo dục. Dạy người của người xưa là dạy như thế đó.

Sau giai đoạn giáo dục kiểu này xong, đứa trẻ bắt đầu có thói quen. Người xưa nói: “Thiếu thành nhược thiên tính, tập quán thành tự nhiên” (Còn nhỏ thành như thiên tính, thói quen thành tự nhiên), có nghĩa là, cự li giữa thói quen và bản tính rất gần nhau, không thể phân biệt. Bởi vậy, ngạn ngữ có câu: “3 tuổi tưởng 80”. 3 tuổi nuôi dưỡng thành công, thì 80 tuổi cũng không thay đổi. Khả năng này quá lớn.

Bây giờ, nền giáo dục này không còn nữa, đã mất 4 đến 5 đời nay rồi. Chúng ta không thể trách ai cả. Tại sao ta không học được? Vì cha mẹ của quý vị không được học. Cha mẹ của quý vị không biết. Trước đó nữa, ông bà nội của quý vị cũng không biết, cho nên cha mẹ quý vị không học được. Ngược về trước nữa, ông bà cố của quý vị cũng lơ là vấn đề này, nên ông bà nội không được học. Đại khái là phải truy tìm đến đời ông sơ nữa kìa! May ra ông mới hiểu.

Tôi chừng này tuổi, sống ở quê hương tôi, bởi vì văn hóa ở quê nhà rất tốt, bắt nguồn của phái Đồng Thành, cho nên không khí học hành rất là thịnh. Người ở quê đó đều được học. Chúng tôi còn ở vùng sâu vùng xa, biết được sự việc này, chính mắt mình nhìn thấy, sau khi kháng chiến thắng lợi thì không còn nữa. Đến Trung Quốc đi rất nhiều địa phương, tôi rất để tâm đến vấn đề này. Nhà có còn hay không? Còn. Giống như ở Giang Nam, Trung Quốc, những dãy nhà vẫn còn đó, nhưng người không có, không ai tới lui nữa. Vì thế, di tích xưa còn không ít, quý vị đến đó có thể thấy, không có người.

Chúng ta chiến tranh 8 năm với người Nhật Bản, tổn thất lớn nhất của chúng ta là cái gì? Nhà chúng ta không còn nữa. Chết bao nhiêu người, mất biết bao nhiêu tài sản, điều này không thành vấn đề. Truyền thống xưa của chúng ta, tinh thần nhà chung của ta không còn, đây mới là tổn thất không gì thay thế được.

Xã hội hôm nay của chúng ta đây, xảy ra bao tai họa lớn như thế, căn nguyên chính là ở chỗ này. Giáo dục gia đình kiểu như vậy, bây giờ không còn nữa. Sở dĩ, tinh thần giáo dục nhà của người xưa, mạnh mẽ như thế, là bắt nguồn từ tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Chính là điểm này. Bây giờ, làm sao khôi phục đây? Chúng tôi nghĩ không thể nào được, không có biện pháp khôi phục. Vì thế, chúng tôi suy nghĩ rất nhiều, và thường nghe người ta nói: “Nhà xí nghiệp”, nó đã nhắc nhở cho tôi rất lớn. Nếu như xí nghiệp chân chính, có thể đem tinh thần và truyền thống xưa, tinh thần của nhà, gia đạo của nhà, gia quy, gia học, gia nghiệp, nếu như có thể khôi phục trở lại, thì sẽ rất tốt.

Giáo dục thuở ban sơ dạy những gì? Dạy luân lý, dạy đạo đức, dạy nhân quả. Đây chính là điểm cơ bản của 3 nhà Thích, Đạo và Nho vậy. Gốc rễ truyền thống văn hóa của chúng ta. “Đệ Tử Quy” của Nho gia; “Thái Thượng Cảm Ứng Thiên” của Đạo giáo; “Thập Thiện Nghiệp Đạo” của Phật giáo - 3 điều cơ bản này. Hồi trước, người ta đi học, lúc nhỏ không thể không tiếp nhận 3 điều đó. 3 điều cơ bản này, đều do cha mẹ chỉ dạy. 6-7 tuổi đi học, đến trường tư thục, những quy cũ này, nó đã học được rất thành công. Đến trường học, thầy giáo thay thế cho cha mẹ. Thầy giáo cũng đem những khuôn phép này, làm lại cho học sinh xem, học sinh mới phục, mới bội phục quý vị.

Thầy giáo làm tấm gương, thầy giáo giảng giải, tại sao phải hiếu thuận. Do đó, giảng giải phải từ 6 tuổi trở về sau. Trước 6 tuổi chỉ có học, không giảng giải. “Đệ Tử Quy” là trước 6 tuổi phải hoàn thành rồi. Đặc biệt, trước 3 tuổi đã làm xong. Điều này, người ngoại quốc không thể nào biết được. Lúc chúng tôi nói chuyện với họ, sau khi nghe xong, họ vô cùng kinh ngạc. Vấn đề này ắt có đạo lý của nó. Gia giáo là số một. Tại sao? Vì mọi người được giáo dục tốt, thì họ đều là người tốt. Việc của mỗi người làm đều là việc tốt, người tốt làm việc tốt, sẽ dẫn đến xã hội phồn vinh, xã hội hưng thịnh. Cuộc sống đích thực của nhân dân chính là cuộc sống hạnh phúc mỹ mãn.

360 nghề. Người Trung Quốc ưa nói 360 nghề. Tại sao? Vì một năm có 360 ngày. Từ chỗ này mà ra. Đây, chính là nói về nghề nghiệp trong xã hội. Hết thảy nghề nghiệp, nghề nào tốt đẹp nhất, người ta ưa thích nhất? Nói cho quý vị biết, chính là làm quan. Tại sao vậy? Vì nghề này có địa vị rất cao. Họ là quan viên, đối xử không tệ. Khó khăn nhất là cái gì? Không có việc gì làm. Vì sao không có việc? Vì không có vụ án nào. Không có ai phạm tội. Vì thế, làm quan là nghề thoải mái nhất, nghề nhàn rỗi nhất.

Chúng tôi đọc Tứ Khố Toàn Thư. Những tập trong Tứ Khố Toàn Thư là văn học. Quý vị hãy xem bên trong đó, hơn một nữa đều là ghi chép lại việc làm quan. Họ không có việc làm, ở trong nhà làm thơ, viết từ, viết văn chương, du sơn ngoạn thủy, cả tháng trời mới được mấy vụ án, là quá lắm rồi, nhiều lắm rồi, thế mới hiểu được sự tốt đẹp của xã hội lúc đó. Chính là nhờ gia giáo của mỗi người dạy họ sống tốt. Trong xã hội không có ai hại ai, không gây án mạng, cho nên làm quan rất nhẹ nhàng; làm vua thì gọi là “Buông tay mà trị”. Vua cũng không có việc làm, thiên hạ thái bình. Đó là Thái bình thiên tử. Giáo dục làm thành công.

Ngày nay, chúng ta xem xã hội bây giờ. Xã hội hôm nay, trong các ngành nghề, khổ nhất là nghề gì? Là làm quan. Vô cùng khổ sở, giải quyết vụ án không hết. Trước đây, làm quan không có vụ án nào cả, bây giờ thì giải quyết hoài cũng không xong. Tại vì sao? Vì giáo dục lơ là, người học hư hỏng, đặc biệt là do 2 thứ, đem dạy dân chúng hỏng hết, dạy cho toàn thể xã hội rối thêm. 2 thứ ở đây là cái gì? Thứ nhất là truyền hình, thứ hai là Internet. Bây giờ, gặp mỗi người, quý vị hỏi thử xem, một ngày xem TV bao nhiêu tiếng đồng hồ? Đây là làm giáo dục. Truyền hình đã dạy họ cái gì? Dạy họ bạo lực, tình dục, sát đạo, dâm vọng. Điều này có thật, không phải giả. Chỉ cần những thứ này còn tồn tại, muốn xã hội được hòa bình, yên ổn, thì vĩnh viễn không bao giờ làm được. Vấn đề này không thể không biết. 2 thứ này sẽ hủy diệt một quốc gia, sẽ hủy diệt một dân tộc, sau cùng là hủy diệt cả thế giới. Quá nguy hại.

Vấn đề này, chẳng phải tôi cảnh giác đâu, mà do thầy của tôi là Phương Đông Mỹ tiên sinh nói cho tôi biết. Thời trai trẻ tôi ở Đài Loan, lúc đó tôi còn nhỏ tuổi, khi đó đại khái khoảng 30-40 tuổi, Đài Loan từng có một lần, đề xướng phục hưng văn hóa Trung Hoa. Một hôm nọ, có 3 vị quan viên của Bộ Giáo dục, đến nhà của thầy Phương, thỉnh giáo người nhà của thầy. Ngay hôm đó, tôi cũng ở đấy. Tôi ở tại nhà thầy.

Những quan viên này đã đề xuất một vấn đề, rằng, chính phủ đang đề xướng phục hưng văn hóa Trung Hoa, nên làm như thế nào cho chu đáo? Sau khi thầy Phương nghe xong câu hỏi này, ít nhất là 5 phút đồng hồ, biểu lộ dáng vẻ nghiêm túc, một câu cũng không nói. Sau 5 phút, thầy bắt đầu nói, thầy nói có, phương pháp thì có. Họ bèn hỏi phương pháp đó là gì? Ngài nói: thứ nhất, lúc đó ở Đài Loan có 3 đài truyền hình. Truyền hình phải đóng cửa. Đài Loan còn có mấy mươi đài truyền hình vô tuyến. Hết thảy phải dẹp bỏ. Báo chí ngừng phát hành, tạp chí ngừng xuất bản. 3 vị quan viên này la lên. Thầy, việc này không thể làm được! Thầy Phương bèn nói: Những thứ này, hằng ngày đang phá hoại văn hóa truyền thống của chúng ta, chỉ cần tồn tại những thứ này, anh lại muốn phục hưng ư? Làm không được đâu. Lời này là chân thật, một chút cũng không giả dối. Vì thế, hiện tượng xã hội của Đài Loan, mãi đến bây giờ, vẫn còn hỗn loạn. Cảnh báo của thầy Phương, lúc đó những quan viên này lại hỏi: Nhưng nước Mỹ bây giờ là cường quốc số một của thế giới.

Họ đặt câu hỏi khá hay. Thầy nói: La Mã sẽ có một ngày diệt vong. Xin hỏi thầy: Nước Mỹ tương lai diệt vong, nhân tố đầu tiên là cái gì? Ngay lập tức thầy Phương trả lời: Truyền hình. Nước Mỹ tương lai sẽ diệt vong. Nguyên nhân của nó là do truyền hình. Sau đó, đặc biệt nói rõ cho họ biết, Đài Loan chưa đạt đến mức độ này. Truyền hình Đài Loan, nếu cuồng vọng như Hoa Kỳ, không có hạn chế của nó, thì sau những chương trình vừa xuất hiện đó, Đài Loan cũng sẽ tiêu luôn. Giáo dục! Nên biết, điều quan trọng ở đây là cái gì? Là làm chủ giáo dục. Ngày nay, giáo dục không còn là vấn đề quan trọng của quốc gia nữa, phương tiện truyền thông mới là quan trọng. Vì thế, những người làm quan, đáng thương, vô cùng đau khổ, giải quyết công việc không xong.

Bây giờ, tự do dân chủ rồi. Thời xưa không có đâu. Lúc đó là thời đại quân chủ, ngôn luận không được tự do, phát hành báo chí cũng không được. Chính phủ phải bảo đảm đời sống tinh thần của nhân dân. Họ có sứ mạng đó, cho nên, họ có tiêu chuẩn. Những tiết mục văn nghệ trình diễn phải có tiêu chuẩn. Tiêu chuẩn của nó, như trong Luận Ngữ đã nói: “Tư vô tà" (Suy nghĩ không tà).

Những tiết mục muốn biểu diễn, đều phải phù hợp tiêu chuẩn này. Không thể để quần chúng sau khi xem xong khởi lên tà tư tà niệm. Họ áp dụng tiêu chuẩn đó. Quý vị xem, thời xưa họ đã dùng đến 3 từ “Tư vô tà”. Chỉ cần để người ta tiếp xúc được, nhìn thấy được, nghe được rồi mà sinh ra tà niệm, thì quyết định cấm hẳn. Bây giờ, bắt chước người ngoại quốc, cái này phải là tự do dân chủ thì xong rồi; nhân dân phải chịu khổ, phải chịu nạn.

Trong cuộc sống của chúng ta, vận may vô cùng ở đây là gặp được Phật pháp. Gặp được Phật pháp rồi, thì cuộc sống này không còn khổ nữa. Cuộc đời này sống rất hạnh phúc, rất viên mãn. Điều này, thầy Phương ban đầu đem Phật pháp gới thiệu cho tôi; học Phật là sự hưởng thụ cao nhất của đời người. Tôi học được, năm tới là tròn 60 năm. Tôi giảng kinh, dạy học đã 52 năm. Năm tới là “Ngũ thập tam tham”, tức là 53 năm tham học. Hạnh phúc mỹ mãn vô cùng. Lời của thầy Phương là thật, không chút giả dối.

Phật pháp đã giảng cái gì? Chân tướng của nhân sinh và vũ trụ. Chân tướng của nhân sinh và vũ trụ là mục tiêu cuối cùng của triết học cần phải học, cũng là mục tiêu sau cùng của khoa học. Nhưng mục tiêu sau cùng này, kỹ thuật khoa học trước mắt, so với trong kinh Phật nói vẫn còn lạc hậu rất nhiều. Trí tuệ của đức Phật do đâu mà có? Phật nói: Trí tuệ của Phật, mỗi người trong chúng ta ai ai cũng có. Một chút cũng không nghi ngờ. Hết thảy chúng sinh đều có đức tướng, trí tuệ của Như Lai. Do vậy, giáo học của Phật không có gì khác, tức chính là đem tự tính của quý vị, đức tướng, trí tuệ vốn có của quý vị khôi phục lại.

Điều Ngài muốn giảng là cái này. Đức tướng, trí tuệ của chúng ta, sao mất tiêu rồi? Làm sao quên mất rồi? Ngài nói: Chính là do Kiến Tư phiền não, Trần Sa phiền não, Vô Minh phiền não. 3 loại phiền não này đã làm chướng ngại. Do đó, Phật dạy chúng ta phải buông xả. Buông xả Kiến Tư chính là không chấp trước, bất luận đối nhân, xử sự, tiếp vật, không có suy nghĩ đối lập. Có đối lập thì sai rồi. Không có đối lập, thì nó hài hòa. Tự tính vốn hài hòa, không có đối lập. không có khống chế, không có chiếm hữu. Khởi tâm động niệm là vì người khác, không phải vì mình. Tại sao vậy? Vì mình và người vốn không hai. Lợi ích cho người khác, đích thực chính là lợi ích cho mình, lợi ích cho xã hội, chính là lợi ích chơn chính cho gia đình.

Điều này, Phật pháp nói là phúc báo, quý vị tu phúc. Đạo lý này rất là thâm sâu. Chúng tôi học 59 năm, mới hiểu rõ ràng, mới thông suốt được; cát hung, họa phúc, có nhân của mình, thì quả cũng của mình, chẳng liên quan gì đến người khác cả, cho nên hôm nay, chúng ta học được chỗ này, dạy quý vị niệm A Di Đà Phật. Niệm A Di Đà Phật lợi ích rất nhiều, kể không hết. Lợi ích đầu tiên, xin nói cho quý vị biết, đó là thân tâm khỏe mạnh. Ở tuổi trung niên trở lên, hạnh phúc thật sự chính là thân thể khỏe mạnh.

Quý vị giàu có, địa vị cao, nhưng thân thể của quý vị không được khỏe, thường hay sinh bệnh, đây là khổ. Giàu mà không vui, sang trọng mà chẳng vui, thì không bằng nghèo mà vui sướng, bần tiện mà an nhàn, vui vẻ. Con người ở trên đời này cần niềm vui. Niềm vui và phú quý không liên can. Vậy liên quan với cái gì? Trí tuệ. Đối với nhân sinh vũ trụ, Tính, Tướng, Lí, Sự, Nhân, Quả đã hiểu tường tận rồi, thì vui sướng biết bao! Tôi từ đâu sinh ra, tương lai tôi chết rồi sẽ đi về đâu, cần phải hiểu rõ ràng tường tận, một tí cũng không mơ hồ. Vấn đề này, nói chung người thế gian không cách nào làm được. Phật nói cho chúng ta biết, cái này là thật, không phải giả. Chính xác muôn ngàn, một chút chẳng giả. Quý vị nghĩ xem, môn học này tốt đẹp nhường nào, viên mãn biết bao. Đáng được học tập.

Lại như nguyện thứ 18 trong đó viết rằng: “Khi tôi làm Phật”. “Tôi” là tên tự xưng của đức Phật Thích Ca Mâu Ni. “Nhân dân trong quốc độ chư Phật, thực hành đạo Bồ tát, thường dùng tâm tịnh khiết niệm ta”. Tâm tịnh khiết chính là tâm thanh tịnh, “thì khi lâm chung, ta cùng vô số chúng Tỷ kheo hiện đến tiếp dẫn họ, đứng ở trước họ, tức sinh về nước ta, làm A Duy Việt Trí ”. Nguyện này rất hay. Ngài phát ra nguyện này. Nhưng nếu không làm tròn lời nguyện, thì Ngài không thành Phật. Phật A Di Đà ở thế giới Tây Phương Cực Lạc đã thành Phật, thuyết minh về 48 lời nguyện của Ngài, nguyện nguyện đã thực hiện xong. Ở đây, thì 18 lời nguyện thôi. Mỗi lời nguyện trong đó rất hay.

Trước kia, Ngài hành đạo Bồ tát. Hành đạo Bồ tát là học Phật, làm Phật tức là đã thành tựu rồi, tu học viên mãn. Đạt được học vị này, học vị cao nhất này, đức Phật, Ngài đã đạt được, cho nên, Phật pháp không phải là tôn giáo. Trong tôn giáo chỉ có Thần, con người không thể thành Thần, không thể bình đẳng với Thần. Phật giáo không phải vậy. Phật giáo là giáo dục. Đức Phật là một học vị cao nhất, mà mọi người đều có thể đạt được, cũng giống như học vị Tiến sĩ ở trường. Quý vị chỉ cần tu học đàng hoàng, thì nhất định sẽ lấy được nó. Vì vậy, Phật thì rất nhiều, không giống như thượng đế, chỉ có một. Thần cũng chỉ có một. Phật thì ở đâu cũng có. Phật ở trong các ngành nghề, Phật ở trong nam nữ già trẻ bé lớn. Do vậy, cần phải hiểu rằng, nó là danh xưng của học vị. Bồ tát cũng như thế, A La Hán cũng như thế, đều là tên gọi của học vị mà thôi.

Nhân dân trong nước của chư Phật”. Cõi nước chư Phật chính là hết thảy chư Phật – lãnh thổ Ngài dạy học. Nhân dân trong lãnh thổ này, được học tập với Ngài. Vấn đề này, ở trong kinh, chúng ta thấy rất rõ ràng rồi. Rất nhiều bạn đồng học, tụng kinh Địa Tạng rất giỏi. Ở trong kinh Địa Tạng, quý vị sẽ phát hiện, phát hiện cái gì? Phát hiện rất nhiều tín đồ tôn giáo đã học Phật với Phật. Nhưng Phật không kêu họ phải từ bỏ tôn giáo của họ, thì quý vị mới biết được, Phật chỉ dạy học.

Bất luận tín ngưỡng, tôn giáo nào, đều có thể đến học Phật, đến cầu học, giống như ở nhà trường vậy. Nhà trường có học sinh rất nhiều, tín ngưỡng, tôn giáo cũng không giống nhau. Nó đều đi đến trường, nó cũng được đến lớp để học tập với thầy giáo. Điều này, quý vị cần phải biết, quý vị đã đọc rõ ràng rồi.

Bà la môn nữ là một tín đồ của Bà la môn giáo. Bà la môn giáo chính là Ấn Độ giáo bây giờ. Tiền thân của Ấn Độ giáo là Bà la môn giáo. Không cần dạy họ cải đạo. Cô ấy là học sinh giỏi của Phật, đệ tử giỏi. Cô ấy cũng là tín đồ tốt của Bà la môn giáo. Phật không bảo cô ta phải từ bỏ tôn giáo, rồi đến đây học. Điều này nhất định phải hiểu.

Đạo Phật là dạy học, là giáo dục. Dạy cái gì? Dạy quý vị khai mở trí tuệ, dạy quý vị làm sao hiểu rõ được thật tướng của nhơn sinh vũ trụ; dạy quý vị biết, phải làm thế nào để khơi dậy tính linh của chính mình, làm như thế nào để thay đổi phẩm chất cuộc sống của quý vị. Cái để học ở đây rất nhiều, phong phú hơn so với đại học ngày nay rất nhiều.

Kinh Địa Tạng, chính là giáo án dạy học của đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi còn tại thế. Điều này, quý vị nên biết, lúc Ngài còn tại thế, chưa có chữ viết, những giáo án này là sau khi Ngài qua đời, do những học sinh của Ngài, từ trong trí nhớ của mình ghi chép ra, lưu truyền cho hậu thế, giống như Khổng Tử vậy.

Khổng lão phu tử khi còn sống dạy học, không có giảng nghĩa, cũng không có tài liệu văn tự phát cho mọi người. Không có. Luận Ngữ là sau khi Khổng Tử chết rồi, học sinh mới đem những lời nói của ông ghi chép lại, thành một cuốn sách, lưu truyền hậu thế. Thích Ca ra đời sớm hơn Khổng Tử một chút, đại khái cùng thời đại với Lão Tử. Vì thế, chúng ta đối với Phật Đà phải hiểu biết. Quý vị không hiểu biết, mù quáng tin theo, nói sao làm vậy, thì thành ra mê tín rồi. Tôn chỉ dạy học của Phật pháp là phá mê khởi chính tín. Tại sao quý vị còn mê tín? Đâu có đạo lý này! Điều này, chúng ta không thể không biết. Đặc biệt là xã hội bây giờ, còn rất nhiều người nảy sinh hiểu biết sai lạc đối với Phật giáo. Cách nhìn sai lầm.

Thời chúng tôi còn trẻ tuổi cũng không ngoài lệ; cũng chịu sự ảnh hưởng của thầy giáo nhà trường. Thầy dạy học nói cho chúng tôi biết: tôn giáo là mê tín. Phật giáo là tôn giáo. Đứng trên phương diện tôn giáo, Phật giáo là tôn giáo thấp nhất. Tại sao vậy? Vì tôn giáo cấp cao, thì chỉ có 1 ông Thần, chỉ có 1 ông thôi. Phật giáo thì phiếm thần giáo, đa thần giáo, cái gì cũng bái lạy. Đây là tôn giáo cấp thấp. Từ nhỏ, chúng tôi đã bị dụ dỗ bởi lí luận này, cho nên, cả đời không có ý muốn đi tìm tôn giáo. Không tiếp cận, không gặp nó. Nhân duyên học Phật của tôi, là bắt nguồn từ khi tôi học triết học với thầy Phương Đông Mỹ. Thầy dạy cho tôi một bộ Triết học khái luận. Môn học sau cùng nhất là “Triết học kinh Phật”. Tôi cảm thấy kỳ lạ. Phật giáo là một tôn giáo cấp thấp, nhưng tại sao nó lại có triết học? Thầy giáo Phương nói với tôi: “Anh còn trẻ không hiểu”. Thầy lại nói: “Thích Ca Mâu Ni Phật, là nhà triết học vĩ đại nhất trên thế giới này. Anh học triết học, thì đây là triết học gia rồi”. Ồ! Hồi giờ chưa nghe qua.

Triết học kinh Phật là đỉnh cao nhất của nền triết học trên toàn thế giới, cũng chưa nghe ai nói qua. “Học Phật là sự hưởng thụ tối cao của đời người”. Ngay tại lớp học này, tôi bị thầy Phương xoay chuyển cách suy nghĩ của mình. Tôi bèn hướng về ông ấy thỉnh giáo. Tôi nói: “Thầy học được điều này từ đâu vậy?”. Thầy nói với tôi: Trong thời kỳ kháng chiến, thầy dạy học ở Đại học Trung ương. Thầy là một triết học gia. Lúc hai mươi mấy tuổi, thì trở thành giáo thọ nổi tiếng, giáo thọ lừng danh rồi. Có một thời gian thầy bị bệnh, nằm dưỡng bệnh tại núi Nga Mi.

Thời gian kháng chiến, chính phủ đặt ở Trùng Khánh, nên Đại học Trung ương cũng giống như một thành đô vậy. Thầy ở núi Nga Mi dưỡng bệnh. Thầy nói, lúc đó ở trên núi rất thanh tịnh. Về sau, tôi lại đến đó 2 lần. Trên núi không có báo, không có tạp chí, sách gì cũng không có, chỉ có kinh Phật. Thầy bèn lấy kinh Phật làm niềm vui, mỗi ngày đều xem kinh Phật, càng xem càng thú vị.

Từ đó về sau, thầy không thể xa rời kinh Phật. Hằng ngày, thầy đều xem kinh Phật. Thực sự phải nói là chúng tôi đã mê, mê với kinh Phật. Phát hiện kinh Phật là đại tri thức. Phát hiện trong triết học, có rất nhiều vấn đề không thể nào giải quyết được, nhưng ở trong kinh Phật đều có, đều tìm được đáp án. Do đó, thầy Phương nói với tôi: “Triết học trong kinh Phật, anh cần phải học nó. Không ở trong các chùa. Chùa miếu không có nó”. Tôi hỏi tại sao vậy? Chùa chiền trước đây, người xuất gia thực học, có đạo đức, lại có học vấn. Thầy nói, hiện tại chùa chiền, những người xuất gia này họ không học. Tôi mới hiểu ra rằng, ông ta nói anh cần nên học, anh hãy học từ trong kinh điển. Lời này, thật sự mà nói, vô cùng quan trọng. Nếu không nói lời này, nếu tôi đi đến chùa miếu gặp những người xuất gia này, đi thảo luận với họ, cầu học nơi họ, họ trả lời không xong, thì tôi sẽ hoài nghi, thầy giáo nói lời này là có vấn đề. May mà thầy nói ra trước. Anh nên đi tìm kinh điển, không nên đi hỏi người xuất gia.

Sau này, tôi cũng gặp được người xuất gia, gặp được Chương Gia Đại sư, tôi xin cầu học với vị này. Người này rất đặc biệt, có duyên đặc biệt với tôi. Đại sư rất hiền lành. Sự tu hành của vị này, đã cảm động đến những người thanh niên như chúng tôi.

Có một hôm, tôi tiếp xúc với đại sư. Câu nói đầu tiên tôi thỉnh giáo đại sư: “Con từ thầy giáo Phương biết được Phật pháp là nền triết học cao thượng, là đại tri thức, con xin hỏi đại sư: Trong nhà Phật, có phương pháp gì khiến con nhanh chóng thể nhập được nó hay không?”. Với vấn đề của tôi vừa hỏi, Chương Gia Đại sư chỉ nhìn tôi, tôi cũng nhìn Ngài. Cả hai chúng tôi nhìn nhau hơn nửa tiếng đồng hồ, một câu cũng không nói. Hơn nửa tiếng đồng hồ trôi qua, đại sư mới cất lời, nói 1 tiếng “Có”. Tiếng “có” này, đã khiến chúng tôi chấn động. Đại sư lại im lặng, sau 7-8 phút đồng hồ, đại sư mới nói. Cách nói của đại sư rất chậm, từng tiếng từng tiếng một: “Nhìn được thấu, buông được xuống”.

Cuộc hội ngộ lần thứ nhất, thời gian khoảng 2 tiếng đồng hồ, nói chuyện không quá 10 từ. Mười mấy, hai mươi năm sau, tôi mới hiểu được sự việc tại sao lại như vậy. Đây là cách thức dạy học của Phật pháp. Thanh niên như chúng tôi, nóng lòng thấp thỏm, đặt vấn đề như thế, nhưng không trả lời quý vị, cứ nhìn quý vị, đợi khi cơn nóng vội của quý vị lắng dịu xuống rồi, tâm của quý vị định trở lại rồi, mới nói cho quý vị hay. Lúc này, những gì nói với quý vị, quý vị nghe mới tiến bộ. Nghe rồi sẽ khai ngộ, sẽ nhớ lâu hơn, cuộc đời của quý vị sẽ không còn thoái chuyển nữa. Từ chỗ này, chúng ta mới thấy được, cách dạy học của các bậc đại đức thời xưa.

Sau khi tôi hiểu được, tôi cũng từng dạy học ở nhà trường mấy năm, nhìn thấy tâm tính nóng vội của học sinh bây giờ, mức độ vội vàng lo âu đó, vượt hơn tôi gấp mười lần. Tôi lúc đó, thầy giáo quả trách tôi tâm vội vàng thô tháo, muốn tôi phải định tâm trở lại. Tâm tính nóng vội của học sinh thời nay muốn định tĩnh cũng không thể được. Do vậy, tôi không muốn làm thầy giáo nữa. Tôi không đi dạy nữa. Nhưng tôi rất muốn thường được nói chuyện với các vị thầy giáo. Các vị đó còn dạy. Học sinh bây giờ, thật sự mà nói, rất khó dạy, nó bị truyền hình, internet làm hư rồi.

Quý vị làm sao có thể dạy chúng nó hồi đầu đây? Thật khó khăn vô cùng! Những tình trạng này bây giờ, chúng ta không thể không giải quyết, cho nên, việc dạy học hôm nay của chúng ta, cách thức chọn lựa là dùng truyền hình, mạng internet. Chúng ta sử dụng mạng internet, đến nay đã được 15 đến 20 năm. Chúng ta dùng truyền hình vệ tinh đã được 8 năm nay. Công cụ này rất hay. Điều này, cũng được thầy Phương nói cho tôi biết, công cụ đó rất tuyệt vời, trong tương lai nếu có điều kiện thì sẽ dùng đến nó. Dùng công cụ này để dạy học, thì nó như một người thầy có thể đứng ngang hàng muôn ngàn thầy giáo khác.

Có loại phương tiện này, quốc gia, xã hội sẽ được nhờ, mấu chốt là ở nơi người lãnh đạo quốc gia. Người lãnh đạo phải chân chính giác ngộ, thỉnh mời vài vị thầy giáo giỏi, bồi dưỡng cho năm sáu mươi học sinh, lúc này có thể sử dụng truyền hình, nhưng truyền hình này, luôn luôn ở một tần số nhất định. “Truyền thông giáo dục”, để cho những người dạy học này ngày đêm không ngừng, một môn học là một giờ đồng hồ, 24 tiếng đồng hồ không bị gián đoạn, cả thế giới đều học được. Thầy giáo không đủ, có thể cho phát lại, giống như chúng ta bây giờ chia ra phát lại 3 lần, mỗi lần 8 tiếng, 8 tiếng, 8 tiếng, phối hợp với thời gian bất đồng của từng khu vực trên toàn thế giới, thì họ có thể xem được. Hiện tại, chúng ta mỗi ngày phát ra 8 tiếng đồng hồ, nhưng phát lại có 2 lần thôi.

Nếu như Nhà nước kêu gọi, toàn dân phải học tập, giống như xã hội xưa, thì tôi nghĩ rằng 1 năm, xã hội sẽ ổn định, thiên tai cũng không còn. Do đâu mà thiên tai không còn? Đây chính là câu hỏi lớn. Trong kinh, đức Phật đã giảng tường tận rồi, chẳng phải một vài câu nói rõ ràng được. Bởi vì suy nghĩ của con người, có thể ảnh hưởng đến cỏ cây hoa lá, ảnh hưởng đến núi đất sông ngòi. Những nguyên lý nguyên tắc này, chân tướng sự thật của nó, đã được kinh Hoa Nghiêm giảng giải rõ ràng tường tận rồi. Đây là “đệ nhất kinh” của nhà Phật. Vắn tắt, đơn giản nhất nữa chính là bộ kinh “Vô Lượng Thọ”. Trong đây nói, nhân dân các nước, có người hành Bồ tát đạo, tức là đã học Phật. Người học Phật, chính là đang đi trên đường đạo Bồ tát.

Bồ tát là tiếng Ấn Độ, nghĩa của nó là giác ngộ. Chúng ta không muốn mê mờ nữa. Chúng ta muốn đi con đường giác ngộ. Giác ngộ là đối với hết thảy sự vật trong vũ trụ này. Đạo lí quá rõ ràng minh bạch. Chúng ta tiếp nhận lời giáo huấn của đức Phật, nương theo phương pháp của Ngài dạy để học tập. Điều này, thật vô cùng quan trọng. Nếu quý vị muốn đời mình thăng hoa, không còn cách nào khác, phải buông bỏ phiền não, xả bỏ tập khí. Điều này, rất quan trọng. Tập khí phiền não của quý vị không buông xuống, những chướng ngại đó sẽ chướng ngại sự giác ngộ của quý vị, chướng ngại sự thăng tiến của quý vị .

“Thường niệm ngã tịnh khiết tâm”. Tịnh khiết tâm, chính là thanh tịnh tâm. Nên biết rằng, Phật A Di Đà, tâm của Ngài rất thanh tịnh, vì Ngài đã giác ngộ, Ngài đã buông xả. Tâm của Ngài rất bình đẳng. Ngài đã làm tấm gương cho chúng ta noi theo. Chỉ cần chúng ta niệm Phật, niệm đạt đến tâm thanh tịnh, thì sẽ tương ứng với tâm của đức Phật A Di Đà. Thanh tịnh tâm của Ngài, ta cũng có tâm đó; tâm tâm tương ứng.

Nguyện vọng của quý vị đạt được rồi. Khi thọ mạng hết, Ta và chúng Tỷ kheo nhiều vô số. Ta là chỉ cho Phật A Di Đà dẫn theo chúng Tỷ kheo nhiều đông không thể kể hết, “bay đến rước họ”. Ngài đến đón tiếp quý vị, đứng ở trước mặt quý vị, dìu dắt quý vị sang thế giới Cực Lạc, tức là sinh về nước của Ngài, dẫn quý vị đến thế giới Cực Lạc. Đằng sau câu nói, có thể dễ dàng: “Làm A Duy Việt Trí”. A Duy Việt Trí là tiếng Ấn Độ, Phạn văn, nghĩa của nó thế nào? Là Bất thoái chuyển Bồ tát. Ở đây, không phải là Bồ tát thông thường. Do đó, một nguyện này quý vị phải ghi nhớ; trong nguyện thứ 18 nói, mười niệm nhất định sinh, ở đây Hán dịch là làm A Duy Việt Trí Bồ tát. A Duy Việt Trí Bồ tát, tức là đã thành Phật.

Kinh Hoa Nghiêm thuộc hệ giáo lý Đại thừa thường nói, có 3 loại phiền não. Không chấp trước, tức là quý vị đã chứng được A La Hán; không phân biệt, quý vị chứng được Bồ tát; không khởi tâm, không động niệm, quý vị là Phật rồi. A Duy Việt Trí không khởi tâm động niệm. Nên biết, chúng ta vãng sinh là mang nghiệp vãng sinh; chúng ta không có năng lực cao như thế. Thậm chí, đến như chấp trước cũng không chịu buông xả hết, chỉ có thể nói rằng, chúng ta còn phân biệt, chấp trước chút ít thôi, không còn nhiều giống như trước đây nữa. Bây giờ, giảm bớt đi tí rồi, thì sự công phu này sẽ có thể vãng sinh. Vãng sinh về thế giới Cực Lạc, sẽ làm A Duy Việt Trí Bồ tát. Đây là nhờ vào sự gia trì thần thông, uy đức và trí tuệ của Phật A Di Đà. Nói cách khác, điều này là do Ngài ban cho ta, chẳng phải do ta tu mà được. Vấn đề này rất hay. Trong hết thảy các kinh Phật, xưa nay chưa từng nói qua, chỉ có trong kinh này nói. Chúng ta tin rằng Phật không bao giờ nói dối. Từng câu từng chữ của đức Phật đều là chân thật.

A Duy Việt Trí là quả vị bất thoái. Địa vị này của Bồ tát không còn thoái chuyển, hành bất thoái, niệm bất thoái. Do đó, viên chứng Tam bất thoái. Chứng đắc viên mãn Tam bất thoái. Nói một cách nghiêm túc, đến lúc này mới là thật chân chính. Sự tu hành của Bồ tát, tu đến địa vị nào mới là chơn chính, viên mãn chứng đắc Tam bất thoái? Địa vị thứ 7. Địa vị cao. Nhưng vấn đề chứng đắc, ở hàng Sơ Trụ của Viên giáo thì đã chứng đắc rồi. Siêu việt thập pháp giới. Những người như thế, sinh về thế giới Thật Báo Trang Nghiêm, không ở Đồng Cư Độ, hay Phương Tiện Hữu Dư nữa. Do vậy, có thể biết sinh ở Đồng Cư Độ là thuộc hạ hạ phẩm vãng sinh, cũng là A Duy Việt Trí Bồ tát, hoàn đắc trở lại.

Tại sao Bồ tát trong mười phương muốn vãng sinh về thế giới Cực Lạc? Đạo lý chính là ở chỗ không có phân biệt. Quý vị đang ở trong cõi nước của đức Phật khác, mong muốn tu đạt đến cấp bậc này thật không dễ, thời gian tu rất dài. Về thế giới Cực Lạc rồi, vừa bước vào cõi này, thì sẽ chứng đắc, cho nên pháp môn này còn gọi là pháp môn khó tin. Đoạn sau có nói, Hoàng lão còn ghi chú ở trong đây: Tịnh khiết tâm tức là Thanh tịnh tâm, cũng là câu thanh tịnh ở trong Vãng Sinh Luận. Phật danh Vô Lượng Thanh Tịnh Phật. Phật tâm là Vô Lượng Thanh Tịnh Tâm. Tóm lại, câu Nhất pháp tức là câu thanh tịnh. Câu thanh tịnh này, tức là chỉ cho Pháp thân vô vi trí tuệ chân thật, cũng tức là câu Phật hiệu. Quy kết lại không ngoài 4 từ A Di Đà Phật. A Di Đà Phật chính là Thanh tịnh trí tuệ. A Di Đà Phật chính là thanh tịnh. A Di Đà Phật chính là Vô Vi Pháp thân. Người niệm Phật, nên hiểu được những ý nghĩa này. Người ta muốn hỏi, tại sao phải niệm A Di Đà Phật? Không biết! Niệm A Di Đà Phật, có lợi ích gì chăng? Trả lời không được. Vậy ai dám tin tưởng quý vị đây? Muốn tin tưởng quý vị, nhưng người kia bảo là mê tín, cũng chẳng sai. Anh ta mê tín. Mê tín nên nghĩ: Có thể đạt được lợi ích gì không? Thật không phải dễ, cho nên quý vị đồng học phải biết, học Phật, không đến lớp biết đâu mà hành trì?

Khi đức Thích Ca Mâu Ni Phật còn tại thế, cả đời Ngài lên lớp dạy học, không dạy chúng ta tụng kinh. Lúc đó, chưa có kinh sách. Một quyển cũng không có. Ngày ngày, chỉ nghe Ngài thuyết giảng, nghe rõ ràng, nghe hiểu rồi, thì đem hết thảy những suy nghĩ bất thiện sửa đổi trở lại, vậy gọi là tu hành. Vì thế, “tu hành”, 2 từ này: tu là sửa đổi, hành là hành vi. Hành vi sai lầm, sửa đổi trở lại gọi là tu hành. Danh từ này phải hiểu cho rõ; hành vi có 3 loại lớn: Thứ nhất là tư tưởng. Thứ hai là lời nói. Thứ ba là sự tạo tác của thân thể.

Tư tưởng chính là hành vi của tâm. Lời nói là hành vi của miệng. Sự tạo tác của thân thể là hành vi của thân. Hành vi thì còn nhiều, nhưng không ngoài 3 loại thân, khẩu, ý này. Ý chính là tâm, bao quát hết thảy rồi.

Ba loại hành vi bất chính, sai lầm này, hãy sửa đổi nó chân chính trở lại. Đây gọi là tu hành. Ngày nay, rất ít người hiểu được, ý nghĩa đích thực của danh từ này. Cái gì gọi là tu hành? Mỗi ngày gõ mõ, tụng kinh, lạy Phật gọi đó là tu hành ư? Không phải! Hàng ngày tụng kinh, hàng ngày lạy Phật, nhưng còn suy nghĩ lung tung, hành vi của quý vị hoàn toàn chẳng liên can gì. Vậy làm sao có thể được lợi ích? Phải thực sự thay đổi trở lại. Những ý nghĩ ích kỷ riêng tư là hành vi sai lầm. Danh văn, lợi dưỡng là hành vi sai lầm. Tham luyến ngũ dục, lục trần là sai lầm. Đem những suy nghĩ sai lầm này tu sửa trở lại. Từ đâu mà tu? Xin thưa quý vị, phải từ nơi căn bản mà tu. Đức Phật thường giảng: Nhờ giới được định, nhờ định khai tuệ.

Ba nguyên tắc này, hôm nay chúng ta nhìn lại xem, hàng đệ tử tại gia của Phật, Thập Thiện Nghiệp Đạo vẫn chưa làm được. Đệ tử xuất gia của đức Phật, Sa Di Luật Nghi vẫn chưa làm xong. Chưa làm được là còn giả, chẳng phải thật. Tại sao họ vẫn chưa làm được? Họ không có nền tảng. Do đó, muốn học, học cả đời cũng học không giống. Tu hành nhất định phải có nền tảng. Nền tảng thứ nhất là Đệ Tử Quy. Đệ Tử Quy quý vị làm chưa xong, thì Thập Thiện Nghiệp Đạo sao có thể làm được? Không thể nào. Sau đó nữa, quý vị làm càng không được, cho nên, chúng ta phải biết, trước tiên phải có nền tảng. Hiện giờ, không có nền tảng, mà muốn tu hành, hay theo từ những nền tảng trước mà khởi, cũng giống như một ngôi nhà vậy.

Ở trong Phật pháp, Đệ Tử Quy là cơ sở của chúng ta, giống như cái móng của ngôi nhà. Cảm Ứng Thiên như là làm móng nhà vậy. 2 loại này, nền móng đã vững rồi mới xây nhà lầu được. Thập Thiện Nghiệp Đạo là tầng thứ nhất. Sa Di Luật Nghi là tầng thứ hai, tầng trên của nhà lầu. Lên cao nữa, Tỷ kheo là tầng thứ ba. Bồ tát là tầng thứ tư. Do đó, hôm nay, một tầng cũng không thể thành tựu. Cơ sở là không có Nho và Đạo.

Khi xưa, Phật ở Ấn Độ, người thời đó tại sao tu dễ thành công? Lúc đó có Tiểu thừa, có Tiểu thừa Phật giáo. Trong Tiểu thừa giảng lí luận, nói đạo đức, nói nhân quả. Vì thế, trong kinh Phật dạy cho chúng ta, ở trong “Phật Tạng Kinh” có đoạn nói: Phật tử trước không học Tiểu thừa, sau học Đại thừa, thì chẳng phải Phật tử. Phật nói mấy câu này rất quan trọng.

Học Phật không từ trên cơ sở nền tảng, mà bắt đầu học từ Đại thừa, Phật nói, Phật không tán đồng, Phật không công nhận. Cũng giống như đi học, khi nhỏ quý vị phải học từ mẫu giáo, tiểu học, trung học, đại học. Đâu phải bỗng dưng lên đại học liền, mà trước đó không học gì cả. Không ai thâu nhận quý vị đâu. Vì thế, kinh Tiểu thừa, trong Đại Tạng Kinh rất đầy đủ. “Tứ A Hàm” chính là kinh Tiểu thừa. Tôi không được học những kinh đó. Chương Gia Đại sư nói với tôi: Tam tạng văn tự Pali của Nam truyền, so với Tứ A Hàm bằng kinh điển chữ Hán của chúng ta, chỉ nhiều hơn 50 bộ, vậy mà phiên dịch rất hoàn chỉnh, tổng cộng gần 3.000 bộ. 3.000 bộ kém hơn 50 bộ, khoảng cách sai lệch này vô cùng nhỏ. Do đó, có thể biết kinh Tiểu thừa truyền sang Trung Quốc, thì đã hoàn bị rồi.

Tiểu thừa ở vào thời kỳ nhà Tùy, nhà Đường đã có 2 tông phái. Đây là cơ sở để học Phật, khoa mục mang tính chung, không thể không học, đó là Câu Xá tông và Thành Thật tông. Nhưng 2 tông phái này, cuối đời nhà Đường đã bị suy yếu, đến đời nhà Tống thì không còn nữa. Bây giờ, rất nhiều người không biết đến sự tồn tại của 2 tông phái này. Từ giữa thời nhà Đường về sau, người Trung Quốc không học Tiểu thừa. Vậy đã học gì? Dùng Nho và Đạo thay thế. Nho và Đạo là “sản phẩm” của Trung Quốc.

Nội dung của nó, không thua kém Phật giáo Tiểu thừa. Những gì trong đó nói còn viên mãn hơn Tiểu thừa. Do đó, người xuất gia, và cư sĩ tại gia ở Trung Quốc, không ai không đọc Tứ thư, Ngũ kinh, mọi người đều đọc sách của Lão Trang, Lão Tử, Trang Tử. Họ đã dùng cái cơ sở này để học Đại thừa Phật giáo, cho nên một chút chướng ngại cũng không có. Quý vị xem, đời Tùy, Đường đến này đã hơn 1.700 năm rồi. Hơn 1.700 năm nay, đã bao triều đại trôi qua, các bậc cao tăng thạc đức, những cư sĩ tại gia, người tu hành thành công không ít, hơn hẳn Hán, Đường.

Ở đây muốn nói lên rằng, phương pháp này là hiệu quả chính xác. Chúng ta có thể tiếp nhận nó, cho nên ngày nay, chúng ta học Đệ Tử Quy, học Cảm Ứng Thiên. Ban đầu có người đến hỏi tôi, họ nói: Những thứ này là của Nho giáo, là của Đạo giáo, chúng ta học Phật tại sao phải học nó? Đặt câu hỏi này, tức là đối với Phật giáo Trung Quốc đã có 2.000 năm lịch sử, họ không hiểu. Nếu họ hiểu, thì đã không đặt câu hỏi này. Dùng Nho, dùng Đạo để làm nền tảng tu học, cái này chẳng phải tôi đề xuất, mà do các bậc tổ sư ở thời kỳ giữa nhà Đường đề xuất. 3 nhà Thích, Đạo, Nho, từ hình thức bên ngoài quý vị thấy đó, chiếc áo mặc tuy không giống, hoàn cảnh sống cũng chẳng giống, ngoại trừ hình thức ra, nội dung bên trong thì luôn dung hòa nhất thể. Người học Nho cũng có thể đọc kinh Phật.

Quyển Tứ thư của Chu Hi biên soạn rất là hay. Cảm hứng của ông ta từ đâu mà có? Tôi rất hoài nghi, có thể ông ta có được nhờ đọc kinh Hoa Nghiêm. Cách lý luận của kinh Hoa Nghiêm rất đầy đủ, có phương pháp tinh tế, phía sau còn kèm theo cả luận chứng. Chúng ta xem, Tứ thư của ông ta sáng tác và kinh Hoa Nghiêm rất giống. “Trung dung” là lí luận. “Đại học” là phương pháp, “Luận Ngữ”, “Mạnh Tử” là luận cứ.

Quý vị xem, lí luận và phương pháp đi sát với thực tế của cuộc sống. Khổng Tử làm sao chu đáo đến vậy? Luận Ngữ, Mạnh Tử sao hay vậy? Khổng Tử là thánh nhân. Mạnh Tử là hiền nhân. Thánh hiền làm thế nào có được những phương pháp lí luận phù hợp với cuộc sống như thế. Tức là họ làm để cho quý vị thấy. Vậy chẳng phái giống với kinh Hoa Nghiêm đó sao? Đạo lý và phương pháp của kinh Hoa Nghiêm, lấy Thiện Tài đồng tử làm nhân vật chính, thực hiện tham vấn với 53 vị thiện tri thức. Họ làm để cho quý vị thấy, cho nên, càng đọc Tứ thư càng thấy giống kinh Hoa Nghiêm. Khẳng định như thế, vì Chu Hi đã từng học Phật. Trong giới tu sĩ Phật giáo, có không ít cao tăng thạc đức thường qua lại rất thân thiết với ông ấy. Chúng tôi cho rằng, có đạo lí của nó. Viết một tác phẩm hay như thế, từ đoạn sau của cuốn sách ta thấy được, trong quá khứ, người Trung Quốc đọc sách, họ không đọc Tứ thư này. Nói chung, Tứ thư có thể học thuộc nó.

Ngày nay, ở Luân Đôn, chúng tôi thấy các trường Đại học Newton, Đại học Cambridge và Đại học Luân Đôn, sinh viên khoa Hán học của 3 ngôi trường này, đều có thể học thuộc lòng Tứ thư, chúng tôi không thể không khâm phục; nói chuyện với nhau đều sử dụng tiếng Bắc Kinh làm tiêu chuẩn, đọc những cổ văn của Trung Quốc. Không hổ thẹn là Hán học gia của Âu châu. Tôi thấy vậy vô cùng hoan hỉ, cũng rất lấy làm khen ngợi.

Đoạn sau nói, “Cho nên phát tâm Đại thừa, trì danh niệm Phật, khi sắp qua đời, được Phật tiếp dẫn vãng sinh. Phát tâm Bồ đề, nhất hướng chuyên niệm chính là tôn chỉ của bản kinh”. Đoạn này dễ hiểu. Nghĩa lý bên trong rất thâm sâu. Phía trước đã nói qua, phía sau vẫn còn lặp lại mấy lần nữa. Sự lặp lại này là có đạo lí của nó; tức là muốn gây ấn tượng sâu sắc cho chúng ta, thời thời khắc khắc thức tỉnh chúng ta. Thuyết minh những lời khai thị này vô cùng quan trọng. Phát tâm Đại thừa rất quan trọng. Phát Đại thừa tâm chính là phát Bồ đề tâm.

Thế nào là Bồ đề tâm? Những năm gần đây, chúng tôi đem Bồ đề tâm ở trong kinh luận đã nói, làm mới lại, tức là nương vào nghĩa lí trong kinh điển để chỉnh sửa lại, viết thành 10 từ, mong mọi người dễ hiểu hơn. Thể của Bồ đề tâm, bản thể chính là chân thành. Chúng ta học Phật là mong tương lai thành tựu. Nếu quý vị không dụng tâm chân thành, thì quý vị sẽ không bao giờ thành tựu. Người khác dùng tâm giả dối để đối xử với ta, ta lại dùng tâm chân thành vậy chẳng phải thiệt thòi sao? Vâng, bị thiệt thòi. Người xưa nói, thiệt thòi là phúc.

Quý vị muốn có phúc không? Phúc là cái gì? Tức là quý vị đã đến thế giới Cực Lạc làm Phật rồi. Nếu quý vị không muốn làm Phật, muốn bị luân hồi, được rồi, khi họ dùng tâm giả dối đối xử ta, ta cũng dùng tâm giả dối đối xử lại với họ, vậy thì quý vị vẫn còn luân hồi trong lục đạo rồi. Không thoát khỏi lục đạo.

Thiệt thòi là phúc. Người bị thiệt thòi có thể đến thế giới Cực Lạc. Người không thiệt thòi, thì tiếp tục luân hồi trong sáu nẻo. Vậy hãy suy nghĩ xem, quý vị có muốn chịu thiệt thòi không? Được thiệt thòi mới thật là vui sướng! Lợi dụng thì không tốt. Lợi dụng thì trong lòng thường hay lo sợ, tâm hồn bất an. Thiệt thòi mới tốt. Vì thế, học Phật phải học chịu sự thiệt thòi. Ai không học thiệt thòi, thì không có cách nào học Phật được. Không nên chống trái người khác. Họ chống trái với ta cũng được, nhưng ta không nên chống trái với họ. Họ hủy báng ta cũng được, ta không nên hủy báng lại họ. Họ sỉ nhục ta cũng được, ta không nên sỉ nhục họ. Họ hãm hại ta cũng được, ta không được hãm hại họ. Vì sao vậy? Vì ta là Bồ tát. Bồ tát đâu có thể làm hại người khác! Chỉ có Bồ tát mới có thể đến thế giới Cực Lạc.

Lợi ích của thế giới Cực lạc; lợi ích thứ nhất là Vô Lượng Thọ. Thọ mạng của chúng ta ở thế gian này rất ngắn ngủi. Vô lượng thật sự, chẳng phải Vô lượng giả. Thật Vô Lượng Thọ, nên dùng Đại thừa tâm, chân thành tâm để đối xử với mọi người. Thanh tịnh tâm, Bình đẳng tâm, Chính giác tâm, tự thọ dụng, tức là đối với chính mình. Đối với người khác, dùng tâm từ bi, tâm yêu thương. Đối đãi người, phải từ bi. Chúng ta nên học theo hạnh của đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

Khi đức Thích Ca Mâu Ni Phật còn ở nhân địa hành Bồ tát đạo, thời kỳ học Phật, bị vua Ca Lợi cắt xẻ thân thể, bị sỉ nhục không gì bằng, vô cùng tàn khốc. Vua Ca Lợi đưa Ngài đến chỗ chết. Ca Lợi tức là tiếng Ấn Độ, dịch ra tiếng Trung Quốc là Hung Bạo. Ca Lợi vương, người Trung Quốc hay nói là Bạo quân. Bồ tát bị ông ta giết. Nhưng Bồ tát, một chút oán hận cũng không có, lại còn nói với vua Ca Lợi: Tương lai tôi thành Phật, việc đầu tiên tôi làm là đến độ ông. Điều này, chúng ta nên học tập. Nghịch cảnh khiến phải chịu cái chết như thế, cũng có thể chịu được. Ngày nay, người khác hủy báng quý vị vài câu, sỉ nhục quý vị vài câu, quý vị đã chịu không nổi rồi, vậy quý vị có thể học Phật được không? Không thể được. Nên nhẫn nhục. Trong cái nhẫn có niềm vui. Không có gì không thể nhẫn. Vì thế, nhẫn nại đổi thành nhẫn nhục. Đây là do các pháp sư thời nay phiên dịch. Đặc biệt, dùng danh từ này, bởi vì người Trung Quốc rất coi trọng chữ Nhục.

Quý vị xem, trong sách xưa thường nói “Sĩ khả sát bất khả nhục” (Kẻ sĩ thà chết chứ không thể chịu nhục). Bị nhục không thể chịu đựng, nhưng chặt đầu thì không vấn đề gì. Không chấp nhận bị làm nhục. Người Trung Quốc có khuyết điểm này. Vì thế, chữ nhẫn nại đổi thành nhẫn nhục. Nhục có thể nhẫn, thì không có gì không thể nhẫn được. Gốc của danh từ này, nó vốn là Nhẫn nại. Bởi vì người xưa rất coi trọng chữ Nhục, cho nên dịch thành Nhẫn nhục. Học Phật phải buông xả, buông xả là bố thí. Chân thành buông xả, siêng năng nhẫn nhục, thì quý vị dễ dàng thành tựu.

Cái gì không buông xả được? Danh, lợi. 2 thứ này không buông không được. Người khác hại quý vị, hủy báng quý vị, quý vị bất năng nhẫn, như vậy làm sao thành tựu được? Khi quý vị đang bước đi trên mảnh đất Bồ đề đạo, một tí cũng không thể vươn lên cao, vậy thì sai rồi. Tu hành, tức là tu sửa những hành vi sai trái. Không thể coi việc nhẫn nhục là hành vi sai trái.

Không thể coi việc buông xả là việc làm sai lầm. Đối đãi với người chút từ bi, đặc biệt là đối với người hại ta, nên đối xử từ bi đặc biệt với họ. Tại vì sao? Vì người hại ta, sẽ có lợi ích cho ta. Lợi ích gì đây? Họ đến thử thách ta, xem công phu của ta đạt đến giai đoạn nào rồi. Ta nên vui mừng. Họ thật sự có lợi ích với ta. Nhưng có điều, tâm của họ chẳng phải là thiện tâm, họ tạo nghiệp. Họ tạo nghiệp tương lai sẽ có ác báo. Người giúp đỡ ta thăng hoa trên đạo lộ tu hành, nhưng tương lai sẽ chịu ác báo. Ta phải xử lí thế nào đây? Dùng công đức tu hành của mình để hồi hướng cho họ.

Hi vọng họ trong tương lai khi chịu quả báo hiện tiền, cái khổ họ chịu sẽ giảm nhẹ. Khi chúng ta đã thành tựu rồi, phải nâng đỡ dìu dắt họ, để báo ân. Đây là Phật pháp. Đây gọi là học Phật. Quý vị nên làm! Vì thế, Phật, Bồ tát việc đầu tiền là cảm ơn. Chính những người gây phiền phức, những người gây chướng ngại khắp nơi cho ta, ta bỏ qua hết thảy thì mới dễ dàng thành tựu. Do đó, trong ánh mắt của Bồ tát, mọi người đều là người tốt, mọi việc là việc tốt. Sự thật là vậy. Một tí cũng không giả.

Phát tâm Bồ đề, có được tâm này rồi sẽ có. Chân thành, Thanh tịnh, Bình đẳng, Chính giác, Từ bi. Nhất hướng chuyên niệm. Dùng cái tâm này, chỉ một phương hướng, đó là Tây Phương Cực Lạc thế giới, chuyên niệm A Di Đà Phật. Ngay trong ý muốn niệm A Di Đà Phật đó, chính là đã di dân sang Cực Lạc thế giới rồi. Chúng ta được di dân đến thế giới Cực Lạc. Chúng ta được thân cận với đức Phật A Di Đà, đó là vị thầy tốt nhất. Phật Thích Ca Mâu Ni vì chúng ta mà giới thiệu. Mười phương chư Phật cũng vì chúng ta mà giới thiệu. Thế giới Cực Lạc là hoàn cảnh tốt nhất cho việc học Phật. Chúng ta đến đó rồi là coi như đã thành tựu. Ở thế giới này, thành tựu rất khó, thời gian rất dài, đến nơi ấy thì rất nhanh. Vãng sinh về thế giới Cực Lạc, cũng như cách nói ngày nay là Di dân. Di dân qua đó rồi, thì không còn sinh tử nữa.

“Lại như câu Thanh tịnh, là biểu thị lý thể thực tế”. Lý thể thực tế này chính là Chân như bản tính, cũng giống như chỗ nói trong Tam Tự Kinh của chúng ta, “Nhân chi sơ, tính bản thiện”. Lý thể thật tế là bản thiện. Chữ thiện này chẳng phải thiện của thiện ác. Các vị nên hiểu rõ vấn đề này. Chữ thiện này, ý nghĩa của nó là khen ngợi. Vì nó không có chút tơ hào nào khiếm khuyết; hoàn mỹ, viên mãn, nó có ý nghĩa như vậy. Một chút khiếm khuyết cũng không có. Bất luận là nói về trí tuệ, nói về đức hạnh, hay nói về tướng hảo. Bất luận nói về cái gì, nó đều hoàn toàn viên mãn, nó đều Thanh tịnh, Bình đẳng. Nó có ý nghĩa như vậy đó.

Từ câu Thanh tịnh nảy sinh ra 3 loại trang nghiêm. 3 loại trang nghiêm đồng nhập vào một câu Thanh tịnh. 3 loại trang nghiêm, phía trước đã nói qua rồi. Đây là nói về thế giới Cực Lạc, cho nên, Cực Lạc thế giới, chúng ta phải biết rằng, Cực Lạc thế giới chẳng phải là một quốc gia. Nó chỉ là một khu vực. Vì sao vậy? Vì nó không có chính phủ, nó cũng chẳng phải giống như thiên đường của tôn giáo. Trong thiên đường có Thiên chủ, có Thiên vương, nó có tổ chức chính trị, nó có bá quan văn võ.

Thế giới Cực Lạc không có những thứ đó. Cực Lạc thế giới như chúng ta thấy trong hết thảy các kinh đã giới thiệu. Chúng ta học nhiều năm nay cũng biết rồi. Cực Lạc thế giới người rất đông, nhưng chỉ có 2 loại: Một là thầy giáo, hai là các học sinh. Do đó, nó là nơi để học. Điều này, chúng ta phải nắm bắt cho rõ. Chưa từng nghe nói ở thế giới Cực Lạc, nào là quốc vương, nào là thiên chủ. Không có. Chỉ nhắc đến Phật A Di Đà, Phật A Di Đà là thầy giáo. Ngoài thầy giáo ra, còn lại toàn là học sinh. Học sinh đều có cấp bậc; có sinh viên Đại học, có học sinh Trung học và học sinh Tiểu học. Nhưng, những học sinh này không cần chia lớp, họ cùng nhau ngồi chung một lớp. Thật không thể nghĩ bàn! Vì vậy thế giới Cực Lạc không có tổ chức. Học sinh tuy rất đông, nhưng họ rất có quy củ. Họ có trật tự một cách rất tự nhiên. Họ đều giữ quy củ, không có ồn ào, không cần tổ chức.

Vậy nên chúng ta biết, cấp bậc Bồ tát, A La Hán đều có ở trong đó, không cần phân ban. Không nói lớp này, người nào làm trưởng lớp, không có. Vấn đề này, lúc đức Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế, đã từng biểu hiện cho chúng ta thấy rồi. Chúng ta muốn học Phật, nên học với Phật Thích Ca Mâu Ni. Điều này, Chương Gia Đại sư dạy cho tôi đó.

Quý vị mới thực sự học được mọi thứ. Đức Thích Ca Mâu Ni Phật khi còn tại thế, phương pháp dạy học của Ngài giống với Phật A Di Đà. Học sinh rất nhiều. Quý vị thấy trong kinh điển đã ghi chép lại cho chúng ta biết, thường theo chúng học, không rời khỏi thầy giáo.

Thầy giáo đi đến đâu thì học sinh đi đến đó. 1.255 người, lúc nào cũng theo thầy giáo. Tôi tin rằng, sẽ không ít người như vậy, Tăng đoàn của đức Phật Thích ca Mâu ni, ít nhất là 3.000 người. Một Tăng đoàn lớn như thế, nhưng không nghe nói nó có sự tổ chức, chia thành bao nhiêu lớp, người nào lớp trưởng của một ban. Không có. Hoàn toàn là trường tư dạy học, nghiêm chỉnh một cách tự nhiên, người trình độ cao thì dìu dắt người trình độ thấp. Người trình độ cao là Bồ tát. Chúng Bồ tát, các vị này đã lấy được bằng cấp học vị.

Người thấp hơn một bậc là A La Hán. Thấp hơn A La Hán, là những phàm phu chưa được khai ngộ. Đây chính là chỗ chúng tôi thường giảng, Phàm Thánh Đồng Cư Độ của những người đới nghiệp vãng sinh. Trong Phàm Thánh Đồng Cư Độ không có A La Hán, không có học vị, nó tương tự như học sinh Trung học và Tiểu học. Gặp được người nào, Phàm Thánh Đồng Cư Độ gặp được A La Hán nào, thì A La Hán đó sẽ dạy họ. Gặp được Bồ tát nào, thì vị Bồ tát đó sẽ dạy họ, đều có thể giúp đỡ họ, vô cùng thân thiết, giống như chị em huynh đệ vậy. Thế giới như vậy, chúng ta không thể không biết.

Chúng ta nên học, học với Phật Thích Ca Mâu Ni. Phật pháp không cần có tổ chức, không giống với tôn giáo khác. Tôn giáo khác có tổ chức, từng bậc từng bậc. Với Công giáo, Giáo hoàng Vatican là Chính phủ Trung ương của họ, mỗi quốc gia đều có cơ quan Giám mục, người lãnh đạo của khu vực của họ.

Ở Trung Quốc, mỗi tỉnh đều có chủ giáo Giám mục địa phận, mỗi huyện cũng có Giám mục. Nó có tổ chức hành chính. Trong Phật giáo không có. Quý vị nói xem, như vậy có tốt hay là không? Không tốt. Nếu có, thì trong lòng quý vị có phân biệt, có chấp trước, vậy là không buông xả được. Nó không có.

Quý vị nghĩ xem, Phật giáo khuyên chúng ta hãy đem những chướng ngại đang gồng gánh này, hết thảy rũ sạch trống trơn. Không cần tổ chức. Vì thế, chúng ta đến thế giới Cực Lạc mới đúng thân phận của học sinh. Đến nơi đó thành Phật. Thành Phật chính là hết nghiệp.

Sau khi hết nghiệp, quý vị không thể ở lại thế giới Cực Lạc nữa, mà nơi nào có duyên thì đến nơi đó để giáo hóa chúng sinh. Hết nghiệp rồi, thì đi phân phát. Địa phương nào có duyên với quý vị, thì tự nhiên quý vị đến nơi đó. Chúng sinh có cảm, thì quý vị mới có ứng. Đi đến nơi đó dạy học; dạy học nhất định phải giống với Phật A Di Đà, cũng giống với Phật Thích Ca Mâu Ni.

Thanh cao biết nhường nào! Tự tại biết bao! Nếu quý vị có tổ chức, thì quý vị sẽ bị loạn tâm, có phân biệt, có chấp trước, thế là hỏng rồi. Những việc quý vị làm là thế gian pháp, không ra khỏi Lục đạo luân hồi. Đạo lí này không thể không hiểu. Từ đó, quý vị có thể thấy, đây mới là trí tuệ chân thật. Thành tựu chân thật.

Bình luận bài viết

    Tin sinh hoạt phật sự

    Video bài giảng

    Pháp âm

    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 79)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Tú Trinh
    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 78)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Tú Trinh
    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 77)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Tú Trinh
    Pháp âm khác >>

    Thống kê truy cập

    • Online: 33
    • Số lượt truy cập : 9386336