Thông tin

TÔI HỌC PHẬT

 


Lão Pháp sư Tịnh Không

(Chủ giảng: Lão Pháp sư Tịnh Không, Tịnh Độ Đại Kinh Giảng Diễn Nghĩa, T. 39, NXB Hồng Đức, H, 2025,
Trung tâm Phật học Chánh Trí thực hiện, trích dẫn từ trang 241-260)

Nếu chưa chứng đắc, chỉ nghe thôi là không được. Nghe nói, gọi là giải ngộ.
Giải ngộ thì không thể giải quyết vấn đề. Phải chứng ngộ thì vấn đề mới được giải quyết.

 

“Di Đà Sớ Sao viết: Tín tức tâm tịnh. Luận Thành Duy Thức viết: Tín là nói đức năng chân thật, từ bỏ lạc dục, lấy tâm tịnh làm tính”. Ý của đoạn này rất sâu sắc. Những cuốn kinh, luận lớn của Phật giáo thường nói: “Tín là mẹ của các thứ công đức, có thể nuôi lớn gốc thiện”. Vì vậy, lòng tin rất quan trọng. Nó là cội nguồn của đạo lớn, mẹ của các công đức. “Mẹ”, mang ý nghĩa có thể sinh sản. Cả câu muốn nói: Lòng tin có thể sản sinh ra vô lượng vô biên công đức; nếu đánh mất niềm tin, thì không còn gì để nói. Xã hội ngày nay, chúng ta thường nghe câu nói: Nguy cơ đổ vỡ niềm tin; con người đã đánh mất niềm tin của mình. Nói cách khác, con người đã đánh mất niềm tin. Nếu nói theo ngôn ngữ Phật pháp, thì một khi con người đã đánh mất niềm tin của mình, địa cầu cũng tận diệt theo. Vấn đề này, đức Phật đã nói rất cụ thể.

Ngày nay, chỉ có một số người hiểu được, đó là những nhà khoa học lượng tử. Nếu chúng ta đem kinh Phật ra để trình bày, thì họ sẽ hiểu được. Điều đó, tôi khẳng định. Nếu lòng tin đã không còn, thì địa cầu sẽ bị hủy diệt.

Đức Phật đã nói với chúng ta về 5 thứ độc, không những làm hại thân thể mà còn huỷ diệt quả địa cầu nữa. 5 thứ độc đó là: Tham, sân, si, mạn, nghi. Nghi tức là không tin, không có niềm tin. Những gì lòng tham mang lại, đó là những thiên tai về nước. Ngày nay, ở đâu cũng có thiên tai về nước. Nguyên nhân của vấn đề này là ở đâu? Nguồn gốc của nó chính là lòng tham. Nó kéo theo những thiên tai về nước, nước biển dâng, sông hồ lũ lụt. Tính giận dữ mang lại những thiên tai về lửa. Núi lửa tuôn trào, nhiệt độ địa cầu tăng lên. Vấn đề này, ngày nay được giới nghiên cứu cho là hiện tượng vật lý, nhưng Phật giáo lại cho đó là hiện tượng tâm lý. Rốt cuộc 2 hiện tượng này, thì hiện tượng nào quan trọng? Quan trọng là tâm lý. Vì sao vậy? Vì có tâm lý rồi mới có vật chất.

Vấn đề này, nhà triết học người Đức, Max Planck đã đề cập đến. Bây giờ đã bước sang thế kỷ khác, nhưng ý kiến của ông vẫn còn nguyên giá trị. Max Planck là thầy của Einstein. Trong số môn đệ của ông có một học trò kiệt xuất, suốt đời ông này nghiên cứu nguyên tử, lượng tử. Ông ta có một phát biểu rất quan trọng và hoàn toàn tương đồng với kinh Phật. Ông ta cho rằng: Về cơ bản, không có cái gọi là vật chất trên đời này. Vật chất từ đâu mà có? Suy cho cùng, vật chất từ đâu mà có? Nó được sinh ra bởi ý niệm. Nền tảng của vật chất là ý niệm. Khái niệm này hoàn toàn tương đồng với Pháp Tướng tông của Đại thừa.

Pháp tướng là một môn tâm lý học. Tôi học Phật, thầy Phương Đông Mỹ đã giảng cho tôi về Pháp Tướng tông. Ông bảo pháp tướng thuần túy là một môn triết học. Pháp Tướng tông đề cập đến sự khởi nguyên của vũ trụ và khởi nguyên của bản ngã. Phật pháp nói Y báo và Chính báo. Chính báo là gì? Chính báo là ta. Tất cả những thứ xung quanh đều là Y báo của ta, những thứ cần nương tựa khi ta sống, những thứ ta cần nương vào khi sống là thân thể, con người, môi trường. Giống như Phật, Bồ tát là Y báo của ta. Ta là Chính báo. Phật, Bồ tát là một loại trong Y báo của ta. Tất cả các động vật, tất cả chúng sinh hữu tình là một bộ phận trong Y báo của ta. Ngoài những thành phần đó ra, còn một bộ phận vật chất. Vật chất bao gồm cỏ cây, hoa lá, sơn hà, đại địa, một bộ phận hiện tượng tự nhiên nữa, chia môi trường sống chúng ta thành 3 loại - 3 bộ phận lớn.

Quý vị nghe Hoàn Nguyên Quán nói: Hiển nhất thể, sinh mạng là một thể cộng đồng. Phật pháp cho rằng đó là tự tính, chân như, bản tính. Cổ nhân cũng nói là bản tính. Quý vị xem câu đầu tiên của Tam Tự Kinh: “Người mới sinh, tính vốn thiện”. Tính vốn thiện, tính mới là cội nguồn của vạn sự vạn vật trong vũ trụ. Phật pháp nói rất cụ thể về tính. Ngày nay, các nhà khoa học đã chứng minh điều này. Song các nhà khoa học nói không cụ thể bằng Phật pháp. Vì sao vậy? Vì họ chưa kiến tính. Sở dĩ, ngày nay họ phát hiện ra tính, tức là khởi nguồn của thể tính, giống như bản thể của nhà triết học nói, đã tìm ra được bản thể của vật chất. Vật chất từ đâu mà có? Từ ý niệm. Max Planck cho rằng ý niệm là cơ sở của vật chất.

Chúng ta đọc kinh Bồ Tát Xứ Thai, trong đó có một đoạn hội thoại giữa Phật Thích Ca Mâu Ni với Bồ tát Di Lặc, thì chúng ta sẽ thấy rõ. Thế Tôn hỏi Bồ tát Di Lặc một vấn đề, phàm phu bình thường chúng ta khởi lên một ý niệm, trong tâm chúng ta khởi lên một ý niệm, Phật hỏi Bồ tát Di Lặc: Trong một niệm khởi lên có bao nhiêu niệm? Bao nhiêu niệm nhỏ để kết thành một niệm lớn? Giống như chúng ta phân tích vật chất, chúng ta chia vật chất thành phân tử, phân tử lại được chia thành hạt nguyên tử, điện tử, lạp tử, cứ chia mãi như vậy, đến nay đã chia thành lượng tử.

Lượng tử lớn cỡ nào? Các nhà khoa học đã cho chúng ta biết, dùng điện tử để làm ví dụ, mắt thường chúng ta không thể thấy điện tử, điện quay xung quanh hạt nguyên tử, nhỏ bằng một phần một trăm ức nguyên tử. Nói cách khác, một trăm ức hạt lượng tử mới hợp thành một hạt điện tử, quá sức nhỏ! Tốc độ của nó thì chúng ta không thể tưởng tượng được. Nhưng trong kinh Phật đã quy nó thành số, nhà khoa học không làm được. Bồ tát Di Lặc nói: Một tiểu quang tử, khoa học gọi là tiểu quang tử, thời gian tồn tại của nó bằng 312 ức 100 ngàn niệm trong một cái khảy móng tay. Hiện tại, chúng ta dùng đơn vị giây để tính. Một giây, khảy móng tay nhanh, tôi tin chắc chắn sẽ có đơn vị đo được tốc độ của việc khảy móng tay. Tôi khảy được 4 lần. Tôi tin có người sẽ khảy được 5 lần. Gấp 5 lần trong một giây. Trong một giây có bao nhiêu lần sinh diệt, tức ý niệm? 1.600 triệu ý niệm. Tốc độ như thế, đức Phật nói được, nhưng nhà khoa học không thể nói được. Nhà khoa học chỉ nói tốc độ nó cực nhanh thôi. Rất nhanh, nhưng Phật vẫn thấy được, một giây có 1.600 triệu niệm.

Tất cả hiện tượng vật chất đều là ba động. Định luật ba động này, các nhà khoa học đã phát hiện 30 năm trước, rằng sự chuyển động của vũ trụ là hiện tượng ba động. Hình dáng của sự vật khác nhau là do tần suất của nó không giống nhau. Tần suất chậm, thì biến thành vật chất dạng cứng. Tần suất nhanh, thì biến thành vật chất dạng lỏng, mềm giống như da chúng ta đây, là tốc độ đã nhanh hơn một tí. Nhanh hơn nữa sẽ biến thành sóng điện, sóng ánh sáng, sóng điện từ. Tất cả hiện đều được sinh ra do tần suất không giống nhau.

Phát hiện này, thấy những báo cáo này, chúng ta vui mừng, chúng ta hoàn toàn hiểu được. Vốn chúng ta học Phật là học được những vấn đề như thế này, là những vấn đề rất khó lý giải. Vì quý vị không tưởng tượng được nên khó hiểu, nhưng những gì Phật nói thì không thể phản bác. Với Phật, người Phật tử lúc nào cũng tôn trọng, cần phải có niềm tin, hoài nghi là hỏng. Nhà khoa học cho phép hoài nghi, nhưng Phật pháp thì không chấp nhận. Quý vị nhất định phải tin, nhất định phải chứng đắc. Chứng đắc trong Phật pháp là phải tu thiền định. Tâm càng lắng đọng, thì quý vị càng hiểu rõ. Hiện tượng này là của các nhà khoa học ngày nay đang nghiên cứu, nó thuộc A Lại Da, tam tế tướng của A Lại Da. Vì thế, nhà khoa học thật là phi thường, đáng để chúng ta khen ngợi, khâm phục.

Giới khoa học nói rằng: Cả vũ trụ chỉ tồn tại dưới 3 dạng, thứ nhất là Năng lượng, thứ hai là Tin tức, và thứ ba là Vật chất. Vũ trụ được cấu thành bởi 3 yếu tố này. 3 yếu tố này chính là tam tế tướng của A Lại Da. Tự chứng phần của A Lại Da là Năng lượng. Kiến phần là Tin tức. Tướng phần là Vật chất. Hoặc dùng danh từ của A Lại Da để nói tam tế tướng của A Lại Da: Thứ nhất là Nghiệp tướng. Nghiệp tướng là Năng lượng. Thứ hai là Chuyển tướng. Chuyển tướng là Tin tức, là hiện tượng tinh thần. Thứ ba là Cảnh giới tướng, tức là Vật chất. Đầu tiên là Năng lượng. Từ Năng lượng biến thành Chuyển tướng, tức biến thành Tin tức. Từ Tin tức lại biến thành Vật chất, thực sự là nó có trước có sau. Nhưng việc trước sau đó chỉ chuyển biến trong 1/1.600 triệu, quý vị làm sao kịp chia nó thành trước sau? Ở đây, chúng ta đang nói đến chân tướng của thế giới vật chất.

Câu hỏi ta từ đâu đến? Vũ trụ từ đâu mà có? Trong cuốn Vọng Tận Hoàn Nguyên Quán nói rất cụ thể. Quốc sư Hiền Thủ, người sống đầu đời Đường, vị này quen biết với Đường Thái Tông. Ở thời đại của Ngài, Hiền Thủ là Tổ sư đời thứ ba của Tông Hoa Nghiêm. Tổ sư đời thứ tư là Ngài Thanh Lương. Các vị này đã đưa ra nhận định về chân tướng sự thật. Đây là vấn đề rất quan trọng. Hiểu được nó, chúng ta mới biết Phật đã dạy tác dụng của 5 loại phiền não căn bản là như thế nào. Vừa rồi tôi đã nói, không có lòng tin tức hoài nghi. Với bản thân mình, nếu không có lòng tin, thì sức miễn dịch của quý vị cũng không có, quý vị rất dễ nhiễm bệnh. Nếu niềm tin của mình lớn mạnh, thì quý vị có một sức khỏe dẻo dai. Nếu đánh mất lòng tin, thì sơn hà, đại địa cũng không bền vững. Quý vị đã đọc kinh Địa Tạng, “Kiên lao địa thần”       , đất rất vững chắc. Nếu đức tin đầy đủ, thì địa cầu này sẽ bền vững, không xảy ra sự cố. Nếu niềm tin bị lay chuyển, thì địa cầu không thể vững bền, núi sông sẽ sụp đổ, địa cầu sẽ chìm trong biển cả. Điều này, có nghĩa là gì? Niềm tin đã không còn. Vì thế, niềm tin là thứ rất quan trọng! Hôm nay, Phật pháp nói về vấn đề này, chỉ có nhà khoa học lượng tử mới có thể biết được, nhưng họ không hiểu được ảnh hưởng bên ngoài của nó lớn như thế. Vì thế, chúng ta muốn hóa giải thiên tai trên quả địa cầu này, liệu có phương pháp không? Có! Nếu mọi người ai cũng có niềm tin kiên cố, thì sẽ không có chuyện gì xảy ra.

Điều đầu tiên trong đức tin, đó là tin rằng mình là một vị Phật. Vấn đề này rất quan trọng. Người xưa tin mình là thánh nhân, vì thế câu đầu tiên trong Tam Tự Kinh đã xây dựng một niềm tin. Liệu có thể thực hiện được niềm tin này hay không? “Người mới sinh, tính vốn thiện”. Thiện ở đây không phải thiện ác. Nếu giải thích nó là đối lập với ác là sai. Thiện ở đây là ca ngợi. Đó là 5 câu nói của Đại sư Huệ Năng, người xưa dùng chữ này để thay. Đại sư Huệ Năng khi minh tâm kiến tính, tính có hình dạng như thế nào?

Thứ nhất là thanh tịnh, “Đâu ngờ tự tính, vốn tự thanh tịnh”. Thứ hai là không sinh không diệt, đó là chân ngã, là bản thể của vạn sự vạn vật trong vũ trụ mà nhà triết học đã nói đến.

Ngã là cái tự tính biến hiện ra. Sơn hà, đại địa đều do tự tính biến ra. Vì vậy, nó là sinh mạng thể cộng đồng. Vì nó là sinh mạng thể cộng đồng, nên khi ta khởi tâm động niệm, sơn hà, đại địa đều biết. Nếu ta không có niềm tin, thì sơn hà, đại địa đều rã ra, và sụp xuống. Điều đó, rất đáng sợ! Khi chúng ta giận dữ bực tức nổi lên, chiêu cảm ra núi lửa phun trào. Khi ngu si nổi lên sẽ kéo theo tai nạn về gió.

Quý vị xem những cơn gió ngày nay, sao lại xuất hiện nhiều lốc xoáy như vậy? Ngu si đấy. Đây không phải là mê tín. Vấn đề này, những nhà khoa học lượng tử hiểu rất rõ, nhưng nói với người khác thì họ không hiểu. Ngạo mạn sẽ kéo theo động đất. Ngạo mạn, bất bình, hoài nghi, sẽ kéo theo tất cả vỡ tan. Sức miễn dịch của cơ thể cũng không còn. Sức miễn dịch của địa cầu cũng cạn kiệt, vì thế núi sẽ đổ, địa cầu sẽ chìm trong đại dương. Tham, sân, si, mạn, nghi, đức Phật nói tuyệt quá, chỉ gói gọn trong mấy chữ này. Nếu chúng ta cắt đứt 5 trạng thái này, thì thân tâm chúng ta được mạnh mẽ, thân kim cương bất hoại. Nơi chúng ta cư trú, hoàn toàn giống với thế giới Cực Lạc, bảo địa, không hề xảy ra bất cứ một thiên tai nào. Một bài học quý giá như thế, nhưng thời đại này không có ai học tập, quý vị thấy có đáng tiếc không. Chúng ta gặp những tình trạng như vậy cũng là chuyện ngẫu nhiên, không ngờ tới.

Vì lúc tuổi trẻ, khi đang ngồi trên ghế nhà trường, ta cho rằng Phật giáo là mê tín, nên chúng ta chưa bao giờ có một ý niệm muốn tiếp xúc với nó. Nói thật, đã tiếp xúc cũng không có khả năng, cho dù có đọc kinh cũng chưa chắc đã hiểu và cũng không ai dạy. Đó là một sự thật phũ phàng. Ai có thể giảng nói kinh điển đến nơi đến chốn?

Khi tôi học triết học với thầy Phương Đông Mỹ, không ngờ ông cũng là một nhà Phật học. Tôi thỉnh giáo với ông, hỏi ông đã học Phật học ở đâu? Ông bảo trong thời kháng chiến, ông đang là giáo sư ở Đại học Trung Ương. Có một thời gian ông lâm bệnh, và đến dưỡng bệnh tại núi Nga Mi. Lúc bấy giờ, trên núi Nga Mi không có một loại sách vở hay tạp chí gì, ngoại trừ kinh Phật. Rỗi quá, ông đành đọc kinh Phật, càng đọc càng thấy thú vị, rồi ông đâm nghiện từ đó. Suốt cuộc đời mình, ông chưa bao giờ rời khỏi cuốn kinh Phật. Câu chuyện khơi cho tôi một nguồn cảm hứng, vì thế khi giảng Khái Luận Triết Học cho tôi, tiết cuối cùng là Triết Học Kinh Phật, và cũng phá đi những hiểu nhầm trước đây của chúng tôi. Chúng tôi hiểu được rằng Phật pháp là một nền học vấn lớn như thế, ông đã giới thiệu rất nhiều vấn đề cho tôi, bắt đầu từ 3 câu: Câu thứ nhất, Phật Thích Ca Mâu Ni là một nhà triết học vĩ đại nhất trên thế giới. Câu thứ hai, Triết học kinh Phật là đỉnh cao nhất của triết học trên thế giới. Thứ ba, khuyên tôi: Học Phật là sự hưởng thụ cao nhất trong cuộc đời. Tôi bắt đầu học như vậy đó.

Lúc mới bắt đầu học, ông có một câu hướng dẫn quan trọng, bây giờ chúng ta thử suy nghĩ, ông ta là một người thực sự có trí tuệ, có từ bi. Ông nói: Anh muốn học Phật, bây giờ Phật học không còn trong chùa chiền nữa, mà ở đâu? Trong kinh điển. Ông bảo ngày trước, cao tăng đại đức trong chùa chiền là những vị có học vấn, vì vậy họ được tôn là quốc sư. Những vấn đề vua chúa không giải quyết được, họ phải lên núi thỉnh giáo, các vị sẽ giúp họ giải quyết. Những vị bây giờ, họ không nghiên cứu, không chịu học hỏi. Họ chỉ tụng kinh bái sám, trở thành biến chất rồi, anh sẽ không hiểu được. Trong kinh điển phương hướng chỉ đạo rất tốt, nếu không tôi đã đánh mất niềm tin với ông rồi. Tôi đến chùa chiền để học hỏi, không phải như thế, thì những lời nói của thầy Phương không tin tưởng được. Những lời dạy đầu tiên cho tôi, ông đã nói: Trong kinh điển, không phải nơi chùa chiền. Tôi là người gặp may, khi tiếp xúc với Phật pháp không lâu thì gặp Đại sư Chương Gia, bậc thiện tri thức. Gặp được Ngài và Ngài đã hướng dẫn cho tôi: Ông muốn học Phật, người đầu tiên phải làm quen là Phật Thích Ca Mâu Ni. Nếu không quen biết, không hiểu rõ Phật Thích Ca Mâu Ni, thì ông sẽ đi sai đường. Những người bây giờ hay nói cần phải đi đường tắt, đại sư đã bảo tôi, bước đầu tiên là đọc sách, những cuốn như Thích Ca Phổ, Thích Ca Phương Chí. Đó là những câu chuyện chép về cuộc đời Phật Thích Ca do tác giả đời nhà Đường biên soạn, có trong Đại Tạng Kinh. Phải làm cho sáng tỏ, minh bạch mới có thể hiểu được, Phật giáo không phải là một tôn giáo, không liên quan đến tôn giáo. Phật Thích Ca Mâu Ni là một thầy giáo, cuộc đời Ngài gần giống Khổng Tử, suốt đời dạy học, dạy đến 49 năm. Khổng Tử là một người bất đắc dĩ phải chu du qua các nước để cầu làm một chức quan, nhưng không được trọng dụng, đến lúc lớn tuổi, không thể không trở về, năm 68 tuổi quay trở về, mất năm 73 tuổi, về dạy học chỉ được 5 năm. Phật Thích Ca Mâu Ni vốn xuất thân là thái tử, sau khi chứng ngộ, 30 tuổi chứng ngộ, không lên ngôi vua, không cần quốc gia, xuất gia dạy học, suốt đời dạy học. Không chùa chiền, cư trú ở đâu? Sống rày đây mai đó, ngủ lại dưới những gốc cây, trong rừng, dưới cây, suốt đời sống như vậy. Một ngày ăn một bữa, đêm ngủ dưới cây, nhưng niềm vui thì không bờ bến. Nhập Niết bàn năm 79 tuổi. Vì vậy, sau khi đã hiểu được, Ngài đúng là một học giả, chuyên gia, là người mẫu mực đạo đức của nhân loại, là nhân vật điển hình của học vấn. Quý vị không học với Ngài thì học với ai?

Vì thế, tôi cảm ơn thầy Phương. Không có thầy Phương, tôi không thể biết Phật pháp, tôn giáo. Không có Đại sư Chương Gia, chúng tôi không biết bắt đầu tu học Phật pháp từ đâu. Tôi biết thầy Phương, năm đó thầy đã hơn 40 tuổi, chưa đến 50 tuổi, ông mất năm 79 tuổi. Từ rất trẻ, ông bắt đầu thâm nhập bằng con đường học thuật, đúng ra là thâm nhập bằng con đường triết học. Vì thế, ông mang đậm chất tư tưởng triết học. Nhưng sau khi chúng tôi đi sâu nghiên cứu kinh tạng, thì phát hiện kinh Phật còn siêu việt hơn triết học. Những vấn đề ngày nay triết học không giải quyết được, những vấn đề khoa học không giả quyết được, thì Phật pháp đều làm được. Không những đứng trên tầm cao triết học, mà còn là đỉnh cao của khoa học.

Ngày nay, chúng ta xem những báo cáo khoa học, bất luận là về hồng quan vũ trụ, hay vi quan thế giới, những báo cáo như thế chúng ta đều có thể hiểu được. Nhưng nếu so với Phật pháp, thì họ vẫn chưa giải quyết được vấn đề. Ví dụ, như báo cáo về vũ trụ. Các nhà khoa học phát hiện, nếu dùng những máy móc tinh xảo để quan sát chỉ có thể thấy được 10% vũ trụ, còn lại 90% không thấy. Không thấy được phần còn lại của vũ trụ, chúng ta biết họ không thể biết được, 90% vũ trụ sẽ đi đâu, chúng thấy rất rõ. Về vi quan thế giới, họ thấy rất rõ hiện tượng vật chất là do tinh thần biến đổi nên. Vậy hiện tượng tinh thần từ đâu mà có? Năng lượng. Vậy năng lượng từ đâu mà có? Họ không thể biết. Họ nói từ Không sinh ra Có, cũng nói rất hay, từ Không sinh ra Có. Vì thật sự, tự tính không phải là hiện tượng tinh thần, không phải hiện tượng vật chất, cũng không phải là hiện tượng tự nhiên, nên quý vị không thể tìm thấy nó. Mặc dù nó có mặt khắp nơi, không hạn chế về thời gian, nhưng quý vị không cách nào thấy nó.

Hiện tượng vật chất, tiền ngũ thức của chúng ta, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân có thể tiếp xúc được.

Hiện tượng tinh thần, tư tưởng chúng ta có thể tiếp xúc được, tức là thức thứ 6 có thể duyên đến được. Còn nó thì không phải, ngay cả hiện tượng tự nhiên cũng không phải, nên quý vị không có cách nào. Phật dạy chúng ta, quý vị làm sao tìm được nó? Buông bỏ. Buông bỏ khởi tâm động niệm, buông bỏ phân biệt, chấp trước, thì sẽ tìm thấy nó. Nó sẽ nằm ngay trước mắt.

Giới khoa học không buông bỏ, nên họ không bao giờ tìm thấy nó. Nếu họ buông bỏ, nói như Phật pháp là họ đã thành Phật. Họ đã tìm thấy, kiến tính thành Phật. Thành Phật là minh tâm kiến tính, kiến tính là thành Phật, tức là đã thấy được căn nguyên của vũ trụ, đấy gọi là thành Phật. Vì nhà khoa học cách xa một đoạn, đoạn đó là không có cách phá vỡ. Vì sao vậy? Vì họ dùng suy nghĩ. Không thể dùng suy nghĩ, suy nghĩ là vọng niệm. Vọng chỉ duyên đến vọng. Vọng không thể duyên đến chân. Nếu là chân, bắt buộc phải buông bỏ khởi tâm động niệm, lúc đó chân tâm mới hiển lộ, quý vị sẽ thấy nó ngay. Đây là đạo lý căn bản trong Phật pháp. Quý vị phải hiểu rõ, hiểu đúng, thì không vấn đề nào của vũ trụ không thể giải quyết, không có nguyên nhân của việc nào mà quý vị không hiểu rõ. Nhân trước, quả sau, quý vị đều nắm vững. Vì vậy, gọi là tin tức, là nói sự thật.

“Thật” là tự tính, chân tính, nó là chân thật. Tất cả những hiện tượng khác đều biến đổi. Hiện tượng vật chất biến đổi. Hiện tượng tinh thần cũng biến đổi. Hiện tượng tự nhiên cũng đang biến đổi. Tất cả những gì biến động đều không phải là chân. Chân phải là không biến đổi. Đại sư Huệ Năng đã nói rất cụ thể: “Đâu ngờ tự tính, vốn tự thanh tịnh”. Thanh tịnh bất động, nó vốn không sinh diệt, vốn đã đầy đủ, vốn không dao động, cuối cùng là năng sinh vạn pháp. Cả vũ trụ này, đều do nó biến hiện ra. Biến hiện như thế nào? Phật pháp nói là do một niệm bất giác. Ý nghĩa của một niệm bất giác rất sâu sắc. Sao lại có một niệm này? Không có nguyên nhân. Sau một niệm này, mới có nguyên nhân. Niệm thứ nhất là không có nguyên nhân. Niệm thứ nhất có từ khi nào? Không có thời gian, nó không có thời gian, không có không gian, rất khó hiểu. Vì thế, đức Phật dạy chúng ta rằng: Ngay đây. Nghĩa là một giây có 1/1.600 triệu, một niệm là như vậy. Vì thế, không thể nói một niệm là có ý niệm, nhưng cũng không thể nói nó không phải là niệm. Quý vị nói nó không phải niệm, nó có đấy. Nếu quý vị nói nó có niệm, thì đã không thấy nó rồi. Vì vậy, có niệm và không niệm là một. Muốn đi vào cảnh giới này, quý vị phải chứng quả vị Bồ tát.

Ở quả vị của Bồ tát, quả vị nào mới có thể nhìn thấy? Tâm thanh tịnh, thì có thể cảm nhận được. Đây là điều có thực, không phải giả dối. Phật nói Bồ tát Bát Địa. Bát Địa tức Bất Động Địa. Bồ tát có 52 cấp bậc. Đây là 5 cấp cao nhất, quý vị xem, Bát Địa, Cửu Địa, Thập Địa, Đẳng Giác, Diệu Giác, 5 địa vị này có thể nhìn thấy. Những địa vị dưới đó, thì không thể thấy được. Những địa vị dưới đó chỉ nghe Phật nói mà thôi, giống như chúng đang nghe đây, cũng nghe Phật nói. Sở dĩ như thế này là vì chúng ta chưa chứng đắc. Vì thế, Phật pháp là khoa học, chưa chứng được thì không tính đến. Cần phải tự mình chứng đắc, những gì Phật nói với quý vị, quý vị phải chứng minh điều đó là chân thật, lúc đó mới ứng dụng nó. Nếu chưa chứng đắc, chỉ nghe thôi là không được. Nghe nói, gọi là giải ngộ. Giải ngộ thì không thể giải quyết vấn đề. Phải chứng ngộ thì vấn đề mới được giải quyết.

Giống như những vấn đề phát sinh trên địa cầu chúng ta đang sống ngày nay. Những vấn đề phát sinh trong thân thể, trong cuộc sống của chúng ta là chuyện nhỏ. Những vấn đề này, giải ngộ có thể giải quyết được. Nhưng chuyện của cả vũ trụ là chuyện lớn, thì cần phải chứng ngộ mới giải quyết được. “Thật”, đó là tự tính, cần phải tin tưởng. Vì vậy, câu đầu tiên trong sách giáo khoa của người xưa là “Người mới sinh, tính vốn thiện”. Câu nói này rất sâu sắc!

Quý vị xem Đại Học, cuốn sách đầu tiên trong bộ Tứ Thư, câu đầu tiên là “Đại học chi đạo, tại minh minh đức”. Minh đức đó là thật đức ở đây nói. Ở đây, gọi là thật đức. Tiếp theo là “thân dân”, “dừng nơi chỗ chí thiện”. Đó là “năng”, “thật đức năng”. Phải tin tưởng vào những vấn đề như vậy, tin bằng cách nào? “Thâm nhẫn”. Nhẫn ở đây là gánh vác. Quý vị thừa nhận nó, tin tưởng nó, mà lại thừa nhận một cách sâu sắc, tin tưởng nó một cách sâu sắc. Vấn đề này, ngày nay chúng ta đã hiểu, phản ứng của nó làm sức khỏe thêm dẻo dai, những mầm bệnh không thể nào xâm nhập được, vì quý vị có năng lực. Ngôn ngữ bây giờ gọi là sức miễn dịch. Sức miễn dịch là lòng tin. Nếu một người đã đánh mất niềm tin, dù một bác sĩ giỏi cỡ nào cũng không thể chữa khỏi bệnh cho anh ta được. Vì thế, chúng ta phải thật tinh tường.

Hơn hai mươi mấy năm trước, ở Mỹ, có lần tôi bị cảm cúm, bèn tìm đến một bác sĩ. Tôi với ông nói chuyện rất ăn ý. Tôi nói: Thực sự bác sĩ không thể trị bệnh. Nghe thế ông kinh ngạc, tôi tiếp: Làm sao để trị lành bệnh được? Lòng tin. Nếu người bệnh có niềm tin với thầy thuốc, thầy thuốc có lòng tin với bệnh nhân, thì nhất định bệnh sẽ được chữa lành. Nếu bệnh nhân không tin tưởng thầy thuốc, thì thầy thuốc không thể chữa lành cho bệnh nhân được. Khi tôi nói với ông ta điều đó, ông cảm thấy có lý. Ông ta đồng ý với cách nghĩ của tôi. Lòng tin, lòng tin mạnh mẽ nhất đó là tin bản thân mình. Mầm bệnh là giả, không phải thật. Nó từ đâu mà có? Từ tham, sân, si, mạn, nghi. Nếu trừ được tham, sân, si, mạn, nghi, thì quý vị sẽ mạnh khỏe, không bệnh tật. Nếu con người ta không tự tư, tự lợi, mỗi ý nghĩ đều từ bi, giúp đỡ mọi người, thì quý vị là Bồ tát tái thế. Quý vị với Bồ tát là một, đó là   .

“Lạc”. Lạc ở đây là yêu quý. “Dục” là hi vọng. Trong đó, phải có nhiều điều kiện, chữ “thâm” bao gồm “thâm nhẫn”, “thâm lạc”, “thâm dục”. Lòng ham muốn ở đây là gì? Ham muốn kiến tính, không phải là những ham muốn khác. Tôi muốn được minh tâm kiến tính. Tôi muốn thấy rõ chân tướng các pháp, tức là chân tướng của vũ trụ nhân sinh. Tôi muốn hiểu tường tận tất cả những vấn đề đó. Sau khi đã hiểu tường tận, quý vị sẽ phát hiện một vấn đề lớn, đó là vũ trụ này với ta cùng một thể, không phải một nhà mà là một cơ thể! Bởi thế, vì sao Phật lại yêu quý chúng sinh như vậy, là vì lý do này. Phật với chúng sinh phải nói là vô duyên đại từ. Cách yêu thương này “vô duyên”, có nghĩa là không kèm theo điều kiện. Đồng thể đại bi. Vì sao phải thương yêu chúng sinh, giúp đỡ chúng sinh, khi chúng sinh hoạn nạn liền đến cứu? Vì sao? Vì chúng sinh cùng một thể với các Ngài. Sau đó, quý vị mới hiểu được tâm chúng ta là đồng nhất. Vì thế, khi chúng ta khởi tâm động niệm, thì chư Phật, Bồ tát biết ngay. Không những chư Phật, Bồ tát biết, mà cây cỏ, hoa lá, sơn hà, đại địa cũng biết. Điều này là có thật. Động vật chưa chắc đã biết. Vì sao vậy? Vì động vật cũng phiền não, tâm nó không thanh tịnh.

Cây cỏ, hoa lá, sơn hà, đại địa làm sao biết được? Tiến sĩ Giang Bổn Thắng đã làm thí nghiệm về nước, thấy tâm của nó vốn định, không có phiền não, không có tham, sân, si, mạn, nghi, nên nó hiểu. Tôi nói với Tiến sĩ Giang Bổn Thắng, khi ông đang ở phòng thí nghiệm tôi có ghé 2 lần, tôi nói: Không những nước hiểu được, mà tất cả những hiện tượng vật chất đều có thể hiểu được. Việc này, lần này tôi đến Đài Loan để khám răng, một số bạn học đang làm thí nghiệm. Họ cũng dùng mô hình của Tiến sĩ Giang Bổn Thắng. Họ thí nghiệm với một số vật khác như cát, một số kim loại, đất, để làm thí nghiệm. Kết quả cho thấy những vật đó có thể thấy, nghe hiểu được ý người. Họ còn thí nghiệm mùi vị. Họ lấy ớt, giấm, để thử vị giác, để xem nước có thể biết được vị cay, vị chua hay không và phản ứng của nó ra sao. Lần thử nghiệm này, tôi cho là đúng, có thể thí nghiệm cho thấy sắc, thanh, hương, vị, xúc. Như thế, so với Tiến sĩ Giang Bổn Thắng sẽ cao kiến hơn. Tôi đến thăm phòng thí nghiệm của họ, thấy họ tiến bộ hơn Tiến sĩ Giang Bổn Thắng rất nhiều. Phương pháp của Tiến sĩ Giang Bổn Thắng hơi cũ kĩ, một số máy móc cũ, kính hiển vi chỉ phóng to gấp 200 lần, còn kính hiển vi kia phóng to gấp 500 lần. Quy mô phòng thí nghiệm cũng bề thế hơn, đến 5-6 người làm công tác chuyên môn, làm thí nghiệm. Nhưng quan trọng nhất là dùng khoa học để chứng minh việc chúng ta khởi tâm động niệm, thì sơn hà, đại địa đều biết. Vì vậy, khi lòng tin của chúng ta bị đánh mất, thì sơn hà đại địa sẽ lỏng ra. Vấn đề này, rất quan trọng. Nơi địa cầu chúng ta đang sống đây, muốn nó vững bền, muốn nó bình thường, nhưng quý vị không có lòng tin vững chắc là không được. Nếu quý vị thực sự “thâm nhẫn lạc dục”, thì vẻ đẹp của địa cầu không thua kém gì thế giới Cực Lạc.

Thế giới Cực Lạc hoàn toàn giống với chúng ta, tại sao nó tốt đẹp đến thế, còn chúng ta xấu xí thế này? Con người ở đó toàn là người thiện, không có kẻ xấu, “đều là những người thiện cùng ở một chỗ”. Những cư dân của chúng ta ở đây toàn tự tư, tự lợi, chạy theo danh văn, lợi dưỡng, tham, sân, si, mạn, những thứ mà những người bên kia không có. Những cư dân trên địa cầu của ta, nếu cố gắng tiếp thu lời dạy của Phật, gạt bỏ những tâm lý xấu xa, thì địa cầu của chúng ta không khác gì thế giới Cực Lạc, dứt khoát là không khác. Lúc ấy, cơ thể của chúng ta sẽ không còn thể xác máu thịt này nữa, mà hoàn toàn giống với thế giới Cực Lạc thân kim cương bất hoại, thân có vô lượng tướng, tướng có vô lượng vẻ đẹp. Tuy lớn tuổi, nhưng hình dáng không thay đổi, mãi trẻ đẹp, không có biến đổi. Việc này, ta có thể làm được. Đạo lý là ở điểm này. Nếu quý vị hiểu rõ được điều đó, thì quý vị mới có thể tin tưởng. Quý vị biết chuyện này là thật, vì có sự chứng minh của các nhà khoa học. Vì vậy, những khởi tâm động niệm của chúng ta, có liên quan rất mật thiết với cả địa cầu.

Quý vị xem thế giới ngày nay, dân số đông như thế, nếu người phương Đông không tin vào đạo đức, luân lý, người phương Tây không tin vào tôn giáo, thánh thần, thì địa cầu có tình trạng như ngày nay, nguyên nhân xảy ra nhiều tai nạn, chúng ta đã quá rõ. Nên ứng dụng phương pháp nào để hóa giải, để đối trị, chúng ta cũng đã biết. Vấn đề là quý vị tin hay không.

Bình luận bài viết

    Tin sinh hoạt phật sự

    Video bài giảng

    Pháp âm

    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 79)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Tú Trinh
    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 78)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Tú Trinh
    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 77)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Tú Trinh
    Pháp âm khác >>

    Thống kê truy cập

    • Online: 42
    • Số lượt truy cập : 9385583