Thông tin

TỪ CHÙA HANG, NGHĨ VỀ PHẬT GIÁO Ở THÁI NGUYÊN

 

HÀN TẤN QUANG

 

 

Có thể nói Phật giáo ở Thái Nguyên là Phật giáo dân gian, chứ không phải Phật giáo chính truyền. Và chính từ Phật giáo dân gian này đã góp phần hình thành nên tinh thần “hộ quốc an dân” của Phật giáo Việt Nam trong quá trình dựng nước và giữ nước.

 

Dựa theo Hồ sơ tư liệu của Cục Di sản văn hóa, Khánh Chi viết: “Hang Chùa là hang đá tự nhiên, nằm cao hơn chân núi khoảng 200m, đường lên hang không dễ, có dây leo chẳng chịt. Đứng ở cửa hàng nhìn về hướng Bắc là dòng sông Cầu. Cửa hang hình vòm, cao khoảng 4m, rộng 7m - 9m quay hướng Bắc - Đông Bắc. Trần hang không quá cao, nhiều nhũ đá phủ. Hang có diện tích lớn, nền hang hiện nay không còn nguyên vẹn, bị xáo trộn nhiều do hoạt động của con người. Cửa hang dạng hàm ếch, ngay cửa có hòn đá to giống như con Voi phủ phục. Hang được chia thành 3 ngăn, được nhân dân ví như một ngôi chùa thiên tạo trong hang. Đây là một trong những hang động lớn của tỉnh Thái Nguyên có nhiều nhũ đá đẹp sánh ngang với hang Phượng Hoàng, suối Mỏ Gà, hang Sa Khao, động Linh Sơn (những danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng quốc gia).

Ngăn 1 rộng và sâu, đáy là dòng suối ngầm chảy trong hang hun hút dài vô tận, đi vài ngày mới hết, thông sang tận đất thuộc huyện Phú Lương. Trong hang có chỗ bằng phẳng trông như được trải một lớp đá cuội, có nhiều chỗ mang dấu vết sinh sống của người xưa, tận dụng vật tự nhiên làm thành giếng nước, chỗ ngồi,... có nhiều ngách hoang sơ. Vòm hang là cả một khối nhũ đá khổng lồ chạy dài như bức màn vây rủ xuống lòng hang đẹp đến sửng sốt.

Ngăn 2 đi sâu từ ngoài vào trong khoảng 200m bắt gặp nhiều cây nhũ đá khổng lồ, tạo ra các cảnh vật phong phú như: một cổng Tam quan trước khi vào chùa, hay kết hợp với các loại cây Cọ, cây Dừa... có cây cao trên 15m, chu vi thân từ 2m - 3m. Nhân dân địa phương ví đây là các cây cổ thụ trước một “ngôi chùa trong Hang”, có nhiều cây đứng song song thành cặp; ngoài ra, còn có nhiều khối đá giống như bàn thờ, bát hương, hình ghế ngồi và vô số hình thù khác nhau tùy theo tưởng tượng.

Ngăn 3 là tầng cao nhất từ dưới nhìn lên, cao và rộng, phải dùng đèn chiếu sáng mới có thể quan sát kỹ được không gian cảnh vật trong hang. Nhân dân ví cả hang là một ngôi chùa thì đây là các bàn thờ Phật. Trên vách hang cao có tượng Vọng phu, Đường Tăng đi lấy Kinh, Phật Quan Âm Bồ Tát, Đức Phật Thích Ca, hình voi chầu, hổ phục, rồng bay, kỳ lân múa... Đặc biệt, có loại giống như Buồng Tiên nữ, hay hình tượng của Linga và Yoni - sinh thực khí tượng trưng...

Mỗi ngăn hang Chùa rộng rãi có thể chứa đến ngàn người, chiều dài ước khoảng gần 1km, chiều rộng nhất 100m, trong hang nhiệt độ ấm về mùa đông, mát mẻ về mùa hè. Chính trong lòng hang có dòng suối ngầm nên về ngày mưa muốn lên hang sẽ khó khăn, bởi đường vào trở thành con suối ngầm chảy thông ra sông Cầu cách đó khoảng chưa đầy 1.000m. (...)

Với những giá trị trên, Hang Chùa, xã Văn Lăng, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng là Danh lam thắng cảnh quốc gia theo Quyết định số 3082/QĐ-BVHTTDL ngày 27/10/2020”1.

Trong bài “Linh thiêng chùa nghìn tuổi giữa lòng núi đá”, Thanh Thuận cho biết: “Chùa Hang - Kim Sơn Tự có từ thời nhà Lý (thế kỷ XI) vốn là thời kỳ rất hưng thịnh của Phật giáo. Chuyện kể rằng: Một sáng xuân năm Nhâm Tuất, vua Lý Thánh Tông chợt tỉnh sau cơn mơ dài, bèn kể lại cho hoàng hậu Nguyên Phi Ỷ Lan rằng, ngài được Đức Phật dát vàng đưa tới vùng đất đẹp Đồng Hỷ. Nguyên Phi Ỷ Lan bèn kinh lý đến đây, thấy phong cảnh hữu tình, núi non kỳ vĩ, hang động rộng lớn đúng như giấc mộng của vua bèn lấy hang dựng chùa thờ Phật, sắc phong cho chùa là Kim Sơn Tự (Chùa Núi Vàng). Có lẽ, Kim Sơn Tự chính thức được ra đời từ đấy”2.

Văn hóa Chămpa vào chùa

Lịch sử Việt Nam ghi rõ Lý Công Uẩn là Phật tử thuần thành và được Phật giáo ủng hộ lên làm vua, mở ra triều đại nhà Lý. Ông làm nhiều Phật sự, như ngay năm đầu tiên lên ngôi (1010), ông đã “Xuống chiếu phát tiền kho 2 vạn quan, thuê thợ làm chùa ở phủ Thiên Đức, tất cả 8 sở, đều dựng bia ghi công (...) Lại hạ lệnh cho các hương ấp, nơi nào có chùa quán đã đổ nát đều phải sửa chữa lại. (...) Năm ấy, độ dân làm sư. Phát bạc ở kho 1.680 lạng để đúc chuông lớn, treo ở chùa Đại Giáo”3; tháng 5 (1014), “Hữu nhai tăng thống là Thẩm Văn Uyển tâu xin lập đàn chay ở chùa Vạn Tuế để cho tăng đồ thụ giới. Vua chuẩn tâu”4; tháng 3 (1016), “Độ cho hơn nghìn người ở kinh sư làm tăng đạo. Dựng hai chùa Thiên Quang, Thiên Đức và tô bốn pho tượng Thiên Đế”5; tháng 6 (1018), “sai Viên ngoại lang là Nguyễn Đạo Thanh và Phạm Hạc sang nước Tống xin kinh Tam tạng6; tháng 9 (1024), “làm chùa Chân Giáo ở trong thành để vua tiện ngự xem tụng kinh”7, v.v...

Các đời vua sau cũng mộ Phật, nên việc xây dựng Chùa Hang vào thời nhà Lý cũng là điều dễ hiểu. Cho dù Chùa Hang không phải khởi dựng từ nhà Lý, nhưng cách phối tự ở đây cũng làm cho chúng ta suy nghĩ.

Tỉnh Thái Nguyên bây giờ thuộc phủ Phú Lương thời nhà Lý, mà “phủ Phú Lương xưa, gồm các châu: Thượng Nguyên, Vĩnh Thông, Quảng Nguyên, Cảm Hóa, Vạn Nhai, Tư Nông, Tuyên Hóa (thuộc Bắc Kạn, Thái Nguyên, Cao Bằng, Tuyên Quang và một phần Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Lạng Sơn ngày nay)”8. Tộc người sống ở vùng đất này, chủ yếu là người Tày. Hiện nay, “Người Tày có dân số đông thứ 2 ở Việt Nam”9, mà “Người Tày chủ yếu theo tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, trong ngôi nhà của họ bàn thờ luôn được đặt ở nơi trang trọng nhất của ngôi nhà. Đồng bào quan niệm: “Vạn vật hữu linh” nên họ coi mọi thứ đều có linh hồn, người chết đi về thế giới bên kia và vẫn theo dõi mọi hoạt động của người trần. Trong gia đình có bất cứ công việc gì xảy ra thì gia chủ đều phải khấn báo với gia tiên. Khách và phụ nữ có thai, mới sinh không được phép ngồi hay nằm trên ghế, giường trước bàn thờ. Trong tôn giáo của người Tày, ngày tảo mộ (3/3 âm lịch) là ngày lễ quan trọng nhất của người Tày. Tuy nhiên, ngoài tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên người Tày còn chịu ảnh hưởng của tôn giáo như Phật, Đạo, Nho mặc dù họ không theo một tôn giáo nào”10, chẳng khác gì tộc người Kinh.

Văn bản đầu tiên viết về đạo Phật trên đất Việt là cuốn “Lý Hoặc Luận” của Mâu Tử. Tác phẩm này được Mâu Tử viết vào cuối thế kỷ thứ II Tây lịch, có đoạn hỏi và trả lời câu hỏi: “Sao chính gọi là Phật? Phật có nghĩa gì?”, Mâu Tử viết: “Phật là hiệu thụy vậy, như gọi ba vua thần, năm đế thánh. Phật là nguyên tổ của đạo đức, đầu mối của thần minh. Nói Phật nghĩa là giác, biến hóa nhanh chóng, phân thân tán thể, hoặc còn hoặc mất, nhỏ được lớn đươc, tròn được vuông được, già được trẻ được, ẩn được hiện được, đạp lửa không bỏng, đi dao không đau, ở dơ không bẩn, gặp họa không mắc, muốn đi thì bay, ngồi thì lóe sáng, nên gọi là Phật vậy”11. Với cách hiểu Phật như thế thì không còn gì là bản chất của Phật nữa. Nhưng Phật giáo dân gian Việt Nam là như thế, nên chẳng có gì lạ khi “Nhân dân ví cả hang là một ngôi chùa thì đây là các bàn thờ Phật. Trên vách hang cao có tượng Vọng phu, Đường Tăng đi lấy Kinh, Phật Quan Âm Bồ Tát, Đức Phật Thích Ca, hình voi chầu, hổ phục, rồng bay, kỳ lân múa... Đặc biệt, có loại giống như Buồng Tiên nữ, hay hình tượng của Linga và Yoni - sinh thực khí tượng trưng...”, như Hồ sơ tư liệu của Cục Di sản văn hóa được trích dẫn ở phần trên.

Ở đây, chúng ta thấy có Linga và Yoni. Tục thờ Linga và Yoni không có trong văn hóa Đại Việt cũng như văn hóa Trung Hoa, mà là văn hóa Chămpa. Như chúng ta đã biết, “Khi Ấn Độ giáo ra đời, theo thần thoại về Shiva, thì vị thần này xuất hiện đầu tiên là một cột lửa hình dương vật. Sau này, con người đã biểu tượng hóa (Linga và Yoni) để thờ thần Shiva, coi Linga là biểu hiện đặc tính dương, Yoni là biểu hiện đặc tính âm của thần. Dạng Linga kết hợp với Yoni hay còn gọi là Linga -Yoni được coi là biểu tượng sự sáng tạo của thần Shiva. Ở dạng này, thần Shiva còn được gọi là “Thần giấc ngủ”. Bộ phận sinh thực khí Linga -Yoni thường được thờ trong tháp Chăm, biểu tượng cho thần Shiva và sự sinh sôi, phát triển.

Linga, Yoni không chỉ được tôn thờ ở Ấn Độ, mà còn được tôn thờ khá phổ biến ở các nước có sự tiếp thu và chịu sự ảnh hưởng của Ấn Độ giáo, trong đó có Chămpa lúc bấy giờ.

Linga và Yoni ở Chămpa có những đặc điểm riêng của nó và không ở đâu Linga -Yoni lại có số lượng nhiều, hình dáng đa dạng và kích thước lớn như ở Chămpa. Loại hình Linga, Yoni ở Chămpa có thể được coi là một trong những biểu hiện về sự ảnh hưởng sâu đậm văn hóa, tôn giáo của Ấn Độ mà Chămpa lại là biểu hiện mạnh mẽ nhất về Chămpa hóa những yếu tố văn hóa, tôn giáo tiếp thu được của Ấn Độ giáo”12.

Nhưng tại sao văn hóa Chămpa xuất hiện ở Chùa Hang?

Lịch sử cho biết năm Nhâm Ngọ (982), “Vua (Lê Đại Hành) thân chinh đi đánh Chiêm Thành, thắng được. Trước đó vua sai Từ Mục, Ngô Tử Canh sang sứ Chiêm Thành, bị người Chiêm bắt giữ. Vua giận, sai đóng chiến thuyền, sửa binh khí, tự làm tướng đi đánh, chém Bê Mi Thuế (vua Chiêm) tại trận. Chiêm Thành thua to. Bắt sống được quân sĩ của chúng nhiều vô kể, cùng là kỹ nữ trong cung trăm người và một nhà sư người Thiên Trúc, lấy các đồ quý đem về, thu được vàng bạc của báu kể hàng vạn; san phẳng thành trì, phá hủy tông miếu, vừa một năm thì trở về kinh sư”13.

Năm Giáp Thân (1044), lần đầu tiên, vua (Lý Thái Tông) đem quân đi đánh Chiêm Thành, “Đoạt được hơn 30 voi thuần, bắt sống hơn 5 nghìn người, còn thì bị quan quân giết chết, máu nhuộm gươm giáo, xác chết đầy đồng. Vua tỏ ý cảm khái, xuống lệnh rằng: “Kẻ nào giết bậy người Chiêm Thành thì sẽ giết không tha”“14,... Và những người Chăm bị bắt ấy được bắt đầu cuộc sống mới trên đất Đại Việt. Chính họ là những người góp phần xây dựng một nền nghệ thuật mới, kiến trúc mới của Đại Việt.

Bây giờ, tham quan Hoàng Thành Thăng Long - Di sản Văn hóa thế giới, được UNESCO công nhận ngày 1/8/2010 - chúng ta thấy viên gạch có viết những dòng chữ Chăm trên cả hai mặt; các tảng kê cột của kiến trúc Hoàng Thành Thăng Long đều bằng đá và được chạm hoa sen rất đẹp, nhất là những tảng kê cột thời Lý; biểu tượng lá đề có tạo hình rồng hoặc phượng được đặt ở chính giữa bờ nóc của kiến trúc (vị trí của mặt nhật, nguyệt, hồ lô... trên các kiến trúc Trung Hoa hay ảnh hưởng Trung Hoa), v.v... Điều này cho thấy tinh túy văn hóa Chămpa đã hòa vào văn hóa Đại Việt, góp phần làm nên văn hóa Việt Nam.

Những chùa được khởi dựng từ thời nhà Lý cũng hiện diện ít nhiều văn hóa Chămpa, như cột đá Chùa Dạm (Bắc Ninh); bệ sen, hình tượng chim thần Garuda ở Chùa Phật Tích (Bắc Ninh),... nên Chùa Hang có Linga -Yoni bên cạnh Phật Thích Ca, Phật Bà Quan Âm, không có gì phải ngạc nhiên, bởi đã là con người dù có tôn giáo hay không có tôn giáo cũng đều mong muốn có sự sáng tạo, có âm dương điều hòa, có sinh sôi, phát triển...

Phật, Đạo trong tâm thức dân gian

Thời Lý Thánh Tông, năm Canh Tuất (1070), “Mùa thu, tháng 8, làm Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối (Nhan Uyên, Tăng Sâm, Tử Tư, Mạnh Tử - bốn học trò của Khổng Tử), vẽ tượng Thất thập nhị hiền (72 học trò giỏi của Khổng Tử), bốn mùa cúng tế. Hoàng thái tử đến học ở đây”15. Năm Ất Mão (1075), đời Lý Nhân Tông, “Mùa xuân, tháng 2, xuống chiếu tuyển Minh kinh bác học và thi Nho học tam trường. Lê Văn Thịnh trúng tuyển, cho vào hầu vua học”16. Như vậy, triều đại nhà Lý là triều đại đầu tiên ở Việt Nam xác lập hệ thống giáo dục khoa cử có hệ thống. Do đó, lúc này, Nho, Phật, Đạo có mặt đầy đủ ở triều đình cũng như ở trong dân chúng. Nhưng từ vua, quan cho đến dân, tinh thần Phật giáo và Đạo giáo vẫn bàng bạc trong suy nghĩ và trong lối sống.

Những việc làm của nhà Lý với dân với nước, theo Sử thần Ngô Sĩ Liên chẳng có gì chê trách, “Duy có việc ham thích đạo Phật, đạo Lão là chỗ kém”17.

Đạo giáo còn có tên gọi khác là Lão giáo, Đạo Lão, Đạo Hoàng Lão, hay Đạo gia, Tiên giáo. Theo Bách khoa toàn thư mở, “Đạo giáo có 3 trường phái: Đạo học (chủ trương tu tánh thiên về vấn đề đắc đạo thành Tiên, quay về với nội tâm tìm sự thanh tĩnh để đạt Đạo, tương đương phương pháp Đốn ngộ của Phật giáo. Đại diện cho trường phái này là Lão Tử, Trang Tử, Liệt Tử (khoảng thế kỷ thứ 4 trước CN) viết Xung Hư Chân Kinh, Quan Doãn Tử viết Văn Thủy Chân Kinh, Trần Hi Di tức Trần Đoàn Lão Tổ (khoảng 900, đầu thời Tống) là người đã sáng lập khoa Tử vi), Tiên học (còn gọi là Đan Đạo, khác với Đạo học, là phương pháp tiệm tu, đi từ thấp đến cao, từ thô tới tinh, từ hữu vi đến vô vi; có mục tiêu tu hành phản lão hoàn đồng, trường sinh bất lão tức là chủ trương tu tạo nên một xác thân tráng kiện, dần dần tiến đến thân tâm an lạc và cuối cùng mở được tuệ giác và chung cuộc vẫn đi đến chỗ Thiên Nhân hiệp nhất, huyền đồng cùng Trời Đất. Phái Tiên học cũng thờ Lão Tử nhưng có 3 vị đứng đầu là Đông Hoa Đế Quân Lý Thiết Quải (sống vào thời nhà Hán) tu ở núi Côn Lôn; Chung Ly Quyền (cuối thời Đông Hán), đứng đầu Bát Tiên; Lữ Động Tân là đồ đệ của Hán Chung Ly), và Đạo giáo nhân gian hay Đạo giáo phù thủy do Trương Đạo Lăng (34-156), người nước Bái đến núi Tứ Xuyên tu luyện, là cháu 8 đời của Trương Lương thời Tam Quốc (đời Hán – 206 trước CN và 220 sau CN) sáng lập “Đạo 5 đấu gạo” (Ngũ đấu mễ đạo: Ai muốn vào Đạo thì phải nộp 5 đấu gạo), thờ Lão Tử tôn xưng là Thái Thượng Lão Quân dùng kinh kệ, bùa chú, phương thuật, tế lễ... để thu hút tín đồ. Khi truyền đạo trong dân gian, ông nói rằng mình được Thái Thượng Lão Quân truyền đạo Chính Nhất Minh Uy, phong làm Thiên Sư. Vì vậy, dân gian gọi đạo của ông là Thiên Đạo Sư”18, và “Thời điểm đầu tiên được xác nhận của Đạo giáo như một tôn giáo là năm 215, khi Tào Tháo chính thức công nhận trào lưu Thiên sư đạo như một tổ chức tôn giáo”19.

“Đạo giáo khi vào Việt Nam, hòa quyện với văn hóa tín ngưỡng dân gian đã hình thành một khuynh hướng của những người thật sự không phải là tín đồ đạo Lão nhưng có tư tưởng gần với phái Tiên Đạo hay Đạo giáo Thần Tiên, tức ưa thích đời sống thanh tĩnh nhàn lạc. Đó là những bậc trí thức Nho giáo, sinh không gặp thời, gặp chuyện bất bình nơi chốn quan trường hay các bậc anh hùng đã làm xong phận sự nam nhi đến lúc công thành thân thối lui về ẩn dật, vui thú điền viên cùng với thiên nhiên thi phú, cuộc cờ chén rượu mà theo dòng lịch sử, chẳng hạn như Nguyễn Trãi, Chu Văn An, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Công Trứ,... với cuộc sống “tri túc, tiện túc, đãi túc, hà thời túc; tri nhàn, tiện nhàn, đãi nhàn, hà thời nhàn” của học thuyết Lão - Trang. Giới sĩ phu xưa thường cùng nhau tổ chức cầu Tiên để hỏi về vận nước, chuyện kiết hung đại sự... Nhiều đàn cầu Tiên nổi danh một thời, như đền Ngọc Sơn (Hà Nội), đền Tản Viên (Sơn Tây), đền Đào Xá (Hưng Yên)... Đầu thế kỷ 20, các đàn cầu Tiên (gọi là thiện đàn) mọc lên khắp nơi. Ngày nay, Đạo giáo Việt Nam với tư cách là một tôn giáo không còn tồn tại nữa, tuy nhiên những ảnh hưởng của nó đến đời sống xã hội, nhất là tại các vùng kém phát triển thì vẫn còn rất mạnh mẽ”.

Ý cuối này, tôi cho rằng chưa đúng lắm. Không kể các thành phố trực thuộc Trung ương, như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh,... chỉ nói riêng tỉnh Thái Nguyên hiện nay “là tỉnh duy nhất của khu vực trung du miền núi phía Bắc nằm trong Top 10 tỉnh thành phố có mức thu nhập bình quân đầu người GNI cao nhất cả nước năm 2020 (với 12.960 USD)”20, và “Theo kết quả của tổng điều tra dân số nhà ở năm 2019 của Tổng cục Thống kê, Thái Nguyên là địa phương đứng thứ 3 cả nước về tỷ lệ sở hữu ô tô cá nhân trên hộ dân với tỷ lệ 10,3%, chỉ xếp sau Hà Nội và Đà Nẵng và đây cũng là tỉnh có tỉ lệ số hộ gia đình sử dụng điện thoại đứng thứ 3 cả nước, chỉ xếp sau Thành phố Hồ Chí Minh và Cà Mau”21, thì Thái Nguyên rõ ràng không phải là “vùng kém phát triển”. Vì thế, tôi đồng thuận với nhận xét của TS Nguyễn Thị Bích Hạnh qua bài viết “Tín ngưỡng Việt Nam có phải là Đạo giáo?” đăng trên báo Pháp luật Việt Nam, ngày 31/7/2021.

Ở bài viết này, TS Nguyễn Thị Bích Hạnh cho rằng: “Khi du nhập vào Việt Nam, Đạo giáo bị hòa trộn với tín ngưỡng truyền thống. Nhánh Đạo giáo phù thủy rất tương đồng với tín ngưỡng ma thuật nên sự hòa trộn rất khó phân biệt đâu là Đạo giáo, đâu là tín ngưỡng. Rất nhiều nhà nghiên cứu quy hết cho mọi tín ngưỡng Việt Nam là Đạo giáo. Còn người dân thích lên đồng, mê phong thủy, chăm tập dưỡng sinh... lại không biết Đạo giáo là gì? Ngoài ảnh hưởng đến các nhà Nho, Đạo giáo còn hòa trộn với các tôn giáo khác như Phật giáo. Chử Đồng Tử là người vừa tu đắc đạo thành Phật, vừa được coi là tổ sư của Đạo giáo Việt Nam.

Ngày nay, Đạo giáo Việt Nam với tư cách là một tôn giáo không còn tồn tại nữa, tuy nhiên những ảnh hưởng của nó đến tư duy và đời sống xã hội của người Việt thì vẫn còn. Thuật phong thủy, các phương pháp dưỡng sinh, các môn võ thuật, các hình thức bói toán, cúng bái, trừ tà của Đạo giáo vẫn phổ biến tại Việt Nam. Tại Hà Nội vẫn còn một số đạo quán của Đạo giáo như Thăng Long tứ quán bao gồm Trấn Vũ quán, nay gọi là đền Quán Thánh ở phố Quán Thánh; Huyền Thiên quán, nay là chùa Huyền Thiên ở phố Hàng Khoai; Đồng Thiên quán, nay là chùa Kim Cổ ở phố Đường Thành; Đế Thích quán, nay là chùa Vua ở phố Thịnh Yên.

Do sự tiếp biến văn hóa, tín ngưỡng dân gian Việt Nam có sự vay mượn, cải biên các tôn giáo cho phù hợp với tâm thức người Việt. Tuy nhiên, các tín ngưỡng truyền thống không sao chép nguyên bản, mà là sự sáng tạo không ngừng của người Việt, tạo nên bản sắc riêng. Do đó, tín ngưỡng thờ thần thánh Việt Nam không phải là Đạo giáo”22.

Nhìn chung, ở Chùa Hang cũng như nhiều chùa khác trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đều có thờ Phật và thờ Bồ tát, điều này khẳng định Phật giáo ở Thái Nguyên là Phật giáo Đại thừa, nhưng theo cách lý giải về Phật như Mâu Tử trong tác phẩm “Lý Hoặc Luận” đã trích dẫn ở phần trên và hiện nay trong suy nghĩ của nhiều người như thế (qua cách phối tự ở các chùa) nên có thể nói Phật giáo ở Thái Nguyên là Phật giáo dân gian, chứ không phải Phật giáo chính truyền. Và chính từ Phật giáo dân gian này đã góp phần hình thành nên tinh thần “hộ quốc an dân” của Phật giáo Việt Nam trong quá trình dựng nước và giữ nước cả ngàn năm qua, kể cả trong thời đại Hồ Chí Minh.

 


1. http://dsvh.gov.vn/hang-chua-tinh-thai-nguyen-3326

2. Thanh Thuận, Linh thiêng chùa nghìn tuổi giữa lòng núi đá, https://www.bienphong.com.vn/linh-thieng-chua-nghin-tuoi-giua-long-nui-da-post282589.html

3. Ngô Đức Thọ (Dịch và chú giải), Đại Việt sử ký toàn thư, T. 1, NXB KHXH, H, 2004, trang 250-251.

4. Đại Việt sử ký toàn thư, T.1, sđd, trang 253.

5. Đại Việt sử ký toàn thư, T.1, sđd, trang 254.

6. Đại Việt sử ký toàn thư, T.1, sđd, trang 255.

7. Đại Việt sử ký toàn thư, T.1, sđd, trang 257.

8. https://vi.wikipedia.org/wiki/Dương_Tự_Minh?tableofcontents=0

9. https://vi.wikipedia.org/wiki/Người_Tày

10. https://vi.wikipedia.org/wiki/Người_Tày

11. Mâu Tử (Lê Mạnh Thát dịch), Tổng tập Văn học Phật giáo Việt Nam, T.1, NXB TPHCM, 2000, https://thuvienhoasen.org/a24472/b-ban-dich-ly-hoac-luan

12. Nguyễn Thu Hương (tổng hợp), Tín ngưỡng thờ Linga và Yoni của người Champa, https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/3101/15323/tin-nguong-tho-linga-va-yoni-cuanguoi-champa.html, ngày 5/11/2013

13. Đại Việt sử ký toàn thư, T.1, sđd, trang 226-227.

14. Đại Việt sử ký toàn thư, T.1, sđd, trang 281.

15. Đại Việt sử ký toàn thư, T.1, sđd, trang 291.

16. Đại Việt sử ký toàn thư, T.1, sđd, trang 294.

17. Đại Việt sử ký toàn thư, T.1, sđd, trang 264.

18. https://vi.wikipedia.org/wiki/Đạo_giáo

19. https://vi.wikipedia.org/wiki/Đạo_giáo

20. https://vi.wikipedia.org/wiki/Thái_Nguyên

21. https://vi.wikipedia.org/wiki/Thái_Nguyên

22. https://baophapluat.vn/phong-thuy-va-tin-nguong-tho-than-thanh-tai-cac-tu-tran-vietnam-ky-4-tin-nguong-viet-nam-co-phai-la-dao-giao-post405672.html

Bình luận bài viết

    Tin sinh hoạt phật sự

    Video bài giảng

    Pháp âm

    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 85)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Khánh Hoàng
    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 84)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Khánh Hoàng
    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 83)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Khánh Hoàng
    Pháp âm khác >>

    Thống kê truy cập

    • Online: 57
    • Số lượt truy cập : 9515265