Thông tin

VÌ SAO KHÔNG THỂ PHIÊN ÂM ĐƯỢC CHỮ HÁN?

 

NGUYỄN HẢI HOÀNH

 

Trong số các loại chữ viết ra đời sớm trên thế giới, chữ Hán có một tiến trình phát triển trắc trở, ly kỳ hiếm thấy. Bi kịch của chữ Hán thể hiện ở chỗ người Trung Quốc bỏ ra rất nhiều thời gian và công sức cải cách chữ Hán theo hướng phiên âm hóa nhằm làm ra một loại chữ hoàn hảo hơn có thể thay cho chữ Hán, nhưng cuối cùng lại không đạt được mục tiêu đó.

Bi kịch xảy ra từ nửa sau thế kỷ 19, khi Trung Quốc tiếp xúc đại trà với văn hóa thế giới, giới tinh hoa nước này phát hiện chữ viết của phương Tây là chữ biểu âm (chữ phiên âm, phonetic writing), dùng chữ cái để ghi lại ngữ âm của tiếng nói, biết vài chục chữ cái là có thể đọc được mọi từ ngữ, cho nên chữ viết dễ nhớ, dễ học, dễ dùng, nhờ thế đa số dân biết chữ, văn hóa, khoa học kỹ thuật tiên tiến, dân giàu nước mạnh. Ngược lại, chữ Hán thuộc loại chữ biểu ý (ideographic writing), học chữ nào biết âm đọc chữ ấy, mặt chữ phức tạp, khó nhớ, khó học, khó dùng, khó phát triển, không hòa nhập với khoa học kỹ thuật hiện đại, làm cho đa số dân Trung Quốc mù chữ, văn hóa, khoa học kỹ thuật lạc hậu, dân nghèo nước yếu, bị các cường quốc phương Tây bắt nạt. Chữ Hán đang từ chỗ được toàn thể người Hoa sùng bái, coi là chữ của Thánh hiền, có công lớn thống nhất và xây dựng quốc gia, bỗng chốc bị lên án là kẻ tội đồ làm đất nước lạc hậu, nghèo yếu.

Vì thế, nhiều học giả Trung Quốc cho rằng cần cải cách chữ Hán, chuyển sang dùng một loại chữ hoàn hảo hơn. Nước này đã bỏ ra gần một thế kỷ tiến hành cải cách chữ Hán với quy mô lớn dần, sử dụng nguồn lực toàn dân, thế nhưng cuối cùng lại không thực hiện được mục tiêu cao nhất, quan tâm nhất – nghiên cứu làm được một loại chữ viết phiên âm có thể thay cho chữ Hán, kết cục họ đành phải đình chỉ nghiên cứu, tuyên bố để lại cho các thế hệ sau giải quyết.

Đây là thất bại của phong trào cải cách chữ Hán theo hướng phiên âm hóa, khởi đầu bằng việc năm 1892, Lô Tráng Chương (卢戆章1854-1928) đưa ra phương án chữ Thiết âm (切音, tức chữ phiên âm) cho Hán ngữ. Tuy được triển khai rất rầm rộ, hầu hết mọi người tin là sẽ thành công, nhưng phong trào này đã chấm dứt vào năm 1986, khi mọi người đã thấy rõ một sự thực là không thể phiên âm hóa được chữ Hán.

Trước năm 1949, giới học giả nước này đã đưa ra khoảng 30 phương án phiên âm hóa chữ Hán, phần lớn dựa trên cơ sở phương án dùng chữ cái Latinh ghi âm chữ Hán do giáo sĩ người Ý Matteo Ricci làm ra năm 1605. Năm 1912 “Hội Thống nhất Âm đọc” sáng tạo được “Chữ cái ghi âm” (“Chú âm tự mẫu”, còn gọi là “Bopomofo”; từ năm 1930 gọi là “Chú âm phù hiệu 注音符号”), dùng 39 chữ cái và 4 dấu thanh điệu, ghi âm được toàn bộ âm đọc chữ Hán, là một thành tựu lớn về ghi âm chữ Hán, đã phát huy tác dụng quan trọng trong việc phổ cập giáo dục và thống nhất tiếng nói tại Trung Quốc. Năm 1918, Bộ Giáo dục ban hành phương án này. Do không dùng chữ cái Latinh mà dùng một hình thức chữ Hán cổ độc đáo, phải học mới biết đọc, nên “Chú âm phù hiệu” thiếu tính quốc tế. Phương án này được dùng ở đại lục Trung Quốc thời gian 1920-1958, hiện nay vẫn dùng ở Đài Loan. Năm 1928, Chính phủ Nam Kinh công bố phương án “Quốc ngữ La Mã tự”, là phương án Latinh hóa Hán ngữ pháp định đầu tiên.

 


Giáo sĩ người Ý Matteo Ricci

 

Sau ngày thành lập nước CHND Trung Hoa, chính quyền và xã hội nước này đã tổ chức nghiên cứu cải cách chữ Hán với quy mô lớn chưa từng thấy nhằm thực hiện 3 nội dung: - Đơn giản hóa hình dạng chữ, giảm bớt nét của chữ nhiều nét (biến một số chữ phồn thể thành chữ giản thể); - Chuẩn hóa chữ Hán, toàn dân nói tiếng Phổ thông; - Phiên âm hóa (alphabetization) chữ Hán nhằm làm ra một loại chữ viết biểu âm dùng thay cho chữ Hán.

Công tác nói trên đã thu được một số kết quả. Ngày 28/1/1956, Chính phủ thông qua “Phương án Giản hóa chữ Hán”, giản hóa được 515 chữ. Sau nhiều lần sửa đổi, tháng 5/1964 công bố “Tổng bảng chữ Giản hóa” (Giản hóa tự tổng biểu) gồm 2.236 chữ giản hóa, tổng cộng bớt được 23.050 nét, bình quân mỗi chữ giản thể còn 10,3 nét, tạo thuận lợi lớn cho người học chữ Hán. Ngày 11/2/1958, Quốc hội Trung Quốc thông qua “Phương án Phiên âm Hán ngữ” 汉语拼音方案 (còn gọi là Phương án Ghi âm Hán ngữ). Nhà ngôn ngữ học Châu Hữu Quang (周有光, 1906-2017) được coi là cha đẻ của phương án này. Từ đó trở đi, đại lục Trung Quốc chỉ sử dụng Phiên âm Hán ngữ (chú ý: không gọi là Phiên âm chữ Hán), không dùng Chú âm Phù hiệu nữa. Phương án Phiên âm Hán ngữ chỉ dùng làm công cụ phụ trợ cho chữ Hán mà không thể làm thành một hệ thống chữ phiên âm (tức chữ biểu âm) có thể thay thế chữ Hán, tức không thực hiện được mục tiêu do Chủ tịch Mao Trạch Đông nêu ra năm 1951 “Phải cải cách chữ viết theo hướng chung của chữ viết thế giới là phiên âm hóa”.

 

Nhà ngôn ngữ học Châu Hữu Quang

 

Thất bại này, dẫn đến việc năm 1986, Nhà nước Trung Quốc quyết định đình chỉ công tác nghiên cứu phiên âm hóa chữ Hán. Chữ Hán vẫn được pháp luật quy định là loại chữ viết duy nhất thích hợp dùng cho ngôn ngữ của dân tộc Hán. Rốt cuộc, tiến trình phiên âm hóa chữ Hán đã vấp phải một trở ngại không thể vượt qua. Cho tới nay, chưa thấy có giải thích chính thức về thất bại nói trên, nhưng qua tìm hiểu các tư liệu, có thể tóm tắt tình hình như sau:

“Phương án Phiên âm Hán ngữ” dùng 26 chữ cái Latinh và 4 dấu thanh điệu (dấu giọng) ghi được chính xác toàn bộ các ngữ âm của Hán ngữ Tiếng Phổ thông, là một thành tựu ngôn ngữ học của người Trung Quốc, được toàn dân đại lục hoan nghênh sử dụng và được quốc tế công nhận, trở thành cầu nối chữ Hán với tiếng Hán. “Phương án Phiên âm Hán ngữ” chủ yếu dùng để: - Ghi âm đọc (tức phiên âm) chữ Hán, giúp người học chữ Hán đọc được chữ, tạo điều kiện thuận lợi nhất để dạy và học tiếng Phổ thông Hán ngữ; - Biên soạn tự điển, từ điển và mọi loại ấn phẩm chữ Hán; - Làm nền tảng tạo chữ viết cho các dân tộc thiểu số Trung Quốc chưa có chữ viết; - Nhập liệu chữ Hán vào các thiết bị điện tử (như máy tính, điện thoại di động), dùng 26 chữ cái Latinh thể hiện được toàn bộ chữ Hán; hiện nay phương pháp dùng chữ Phiên âm Hán ngữ để nhập liệu chữ Hán vào các thiết bị điện tử là phương pháp phổ biến nhất, tỷ lệ sử dụng lên tới 90%. - Dùng trong giao lưu ngôn ngữ quốc tế, viết tên người, địa danh...

Nhà nước Trung Quốc luôn nhấn mạnh: “Phương án Phiên âm Hán ngữ” không phải là một loại chữ viết mà chỉ là công cụ phụ trợ cho chữ Hán, hoàn toàn không thể thay cho chữ Hán, trong một thời gian tương đối dài từ nay về sau, chữ Hán vẫn là chữ viết pháp định của Nhà nước Trung Quốc. Đầu năm 1986, Nhà nước Trung Quốc quyết định đình chỉ công tác nghiên cứu phiên âm hóa chữ Hán và nói việc nghiên cứu này chỉ là công tác học thuật, không còn là công việc của Nhà nước, tương lai của chữ Hán sẽ để cho các thế hệ sau giải quyết, từ nay không nói tới vấn đề “Phiên âm hóa chữ Hán” nữa.

Thời gian qua, người Trung Quốc ra sức phát huy tác dụng của “Phương án Phiên âm Hán ngữ” nhằm hạn chế các nhược điểm của chữ Hán, họ phổ biến sử dụng song song chữ Hán với chữ Phiên âm Hán ngữ, hình thành cái gọi là Chế độ Song văn (Dual System), nói đủ là “Chế độ Nhất ngữ Song văn”. “Nhất ngữ”: Cả nước dùng chung một ngôn ngữ là Tiếng Phổ thông; “Song văn”: Đồng thời dùng chữ Hán và chữ Phiên âm Hán ngữ; hai hình thức chữ viết này bổ trợ lẫn nhau làm cho Hán ngữ đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại. Châu Hữu Quang cho rằng Song văn là lối thoát duy nhất của Hán ngữ hiện nay, khi đa số học giả có quan điểm coi “Chữ Hán là báu vật của văn minh cổ đại, lại là gánh nặng của văn minh hiện đại”.

Như vậy, phong trào Phiên âm hóa chữ Hán khởi đầu từ năm 1892 đã kết thúc bất thành vào năm 1986. Từ đây, có thể rút ra kết luận: Chữ Hán mặc dù có những nhược điểm đã biết, cho tới nay vẫn là loại chữ viết duy nhất thích hợp với Hán ngữ. Nói cách khác, tiếng Hán chỉ thích hợp sử dụng chữ viết có tính biểu ý, không thích hợp sử dụng chữ viết biểu âm (chữ phiên âm); mọi hy vọng làm ra một loại chữ biểu âm dùng cho Hán ngữ đều không hiện thực; chấm dứt mọi cố gắng của Nhà nước nhằm tiến hành phiên âm hóa chữ Hán là quyết sách hợp lý, nếu không nói là quá muộn.

Xét về mặt ngôn ngữ học, chữ Hán không thể phiên âm hóa thành một loại chữ biểu âm dùng như một chữ viết hoàn chỉnh thể hiện được một ngôn ngữ. Nguyên nhân chủ yếu là do tiếng Hán thuộc loại ngôn ngữ đơn lập (đơn âm tiết, monosyllabic) lại quá nghèo ngữ âm*, do đó tồn tại quá nhiều chữ đồng âm, khi dùng chữ biểu âm sẽ không phân biệt được ý nghĩa của các chữ đồng âm. Ví dụ, âm [yi] có gần 200 chữ đồng âm... nếu thể hiện các chữ đó bằng chữ phiên âm thì cả 200 chữ sẽ có cùng một hình dạng, sẽ gây nhầm lẫn ý nghĩa của các chữ, thậm chí không thể hiểu được. Nếu thể hiện các chữ đó bằng chữ biểu ý (chữ Hán) thì có thể phân biệt được ý nghĩa của các chữ, bởi lẽ mỗi chữ có một hình dạng riêng, khác nhau. Ví dụ, chữ 意 (“ý” trong “ý kiến”) đồng âm với chữ 义 (“nghĩa” trong “nghĩa vụ”), nếu thể hiện hai chữ đó bằng chữ phiên âm thì đều viết như nhau là “yì”, không phân biệt được ý nghĩa các chữ ấy. Từ 意义 (“ý nghĩa”) sẽ viết là “yì yì”, nhìn chữ không thể hiểu là gì, tuy viết chữ Hán thì hiểu được. Nhà ngôn ngữ học Triệu Nguyên Nhiệm (1892-1982) từng nghịch ngợm viết một đoạn “Kỳ văn” có tên 施氏食狮史gồm hơn 90 chữ Hán đều cùng đọc một âm [shi], khi nhìn chữ Hán thì có thể hiểu ý nghĩa, nhưng khi viết bằng chữ phiên âm thì hơn 90 chữ ấy đều viết như nhau là “shi”, đọc lên không thể hiểu gì.

Có lẽ có bạn sẽ hỏi: Chữ Nôm do tổ tiên ta làm ra là dựa trên cơ sở chữ Hán, sử dụng nhiều chữ Hán nguyên gốc, thế nhưng các giáo sĩ Công giáo người Âu đã thành công phiên âm hóa, Latinh hóa chữ Nôm thành một loại chữ phiên âm cực kỳ thích hợp với ngôn ngữ Việt, làm ra chữ Quốc ngữ hiện nay ta dùng. Tại sao các giáo sĩ lại làm được công việc thần kỳ ấy? Vấn đề này rất thú vị, chúng tôi xin trình bày trong một bài sau.

Tóm lại, bản chất của tiếng Hán đã quy định nó chỉ thích hợp dùng loại chữ viết có tính biểu ý (như chữ Hán), mọi ý đồ làm chữ viết biểu âm dùng được cho Hán ngữ đều không hiện thực. Hiện nay, có lẽ người Trung Quốc chỉ nên áp dụng chế độ “Song văn”.

 


*Số lượng âm tiết cơ bản của tiếng Hán chỉ bằng 9,62% của tiếng Việt.

 

Bình luận bài viết

    Tin sinh hoạt phật sự

    Video bài giảng

    Pháp âm

    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 79)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Tú Trinh
    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 78)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Tú Trinh
    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 77)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Tú Trinh
    Pháp âm khác >>

    Thống kê truy cập

    • Online: 32
    • Số lượt truy cập : 9385573