XUÂN VỀ, HOÀI NIỆM BẠN VĂN
ĐINH QUÂN
Trong Thư viện Hoa sen, phần index có tải lên nhiều bài viết về Phật học của tác giả Huỳnh Ngọc Chiến. Và trong Giác Ngộ Online cũng đăng nhiều trang viết súc tích về Phật giáo của Huỳnh Ngọc Chiến. Ví dụ, như Phật trên đường phố, Từ câu ngạn ngữ Á Rập đến thằng bé tắm truồng... với cách luận đàm rất duyên!

Trong ngôi nhà nhỏ nhìn ra đường thấy nguồn sáng xuyên cành lá ánh vàng yếu ớt trong tôi bất chợt cảm nhận tiết trời sắp giao mùa. Nguyễn Khuyến viết “Tuổi già giọt lệ như sương”, tôi thì tuổi cao chưa phải là già, nhưng trên đầu đã hai thứ tóc. Đông qua, xuân đến, lòng chỉ biết ngậm ngùi nghĩ về cánh hoa sớm nay nở nhiều bông trắng. Tôi lặn ngập hoài niệm về người bạn văn Huỳnh Ngọc Chiến, ngỡ như mới đây vậy mà đã rời xa cõi tạm thoáng chừng năm năm rồi. Henry Miller nói: Mục đích cuộc sống là để nhớ (The purpose of life is to remember). Nhớ là để gợi tìm chút hương xưa ấm nồng lúc trí sáng trong, hồn tươi xanh đã qua.
Mở phơi tác phẩm đầu tay
Khoảng trước vài ba năm vào làm Báo Quảng Nam, tôi được Huỳnh Ngọc Chiến đưa xem bức thư của thầy Trần Tuấn Mẫn gửi cho bạn. Trong thư, thầy Mẫn cảm ơn vài chỗ Chiến phát hiện và góp ý trong quyển Vô môn quan của Vô Môn Huệ Khai mà thầy là người dịch ra Việt ngữ. Hồi đó, thầy Mẫn không biết Huỳnh Ngọc Chiến là ai nhưng thầy ứng xử việc thưa gửi với “cư sĩ” Huỳnh Ngọc Chiến rất mực từ tốn và nghiêm túc. Dẫn việc này để thấy công việc dịch thuật tuyệt đối thận trọng từng ý từng lời chỉ vì một sơ suất nhỏ sẽ dẫn người đọc đến chỗ sai lầm.
Bạn bè đến với Chiến thường chung nhau ly rượu, tách trà. Có lúc đứa bận việc đi xa lâu ngày mới về, dù tuổi bấy giờ không còn trẻ, nhưng hễ khi gặp Chiến cứ mày tao mi tớ và đem tình thân bằng hữu ra đối đãi với nhau. Chiến hay nói gốc bền ngọn mới vững được.
Khi Chiến phác thảo dịch thơ và bình chú tác phẩm đầu tay Lý Hạ - Quỷ tài quỷ thi, thì lúc này tôi thường hay đến chơi nhà và nói chuyện văn thơ với Chiến. Có bữa say chuyện Chiến bộc bạch, thơ anh Nguyễn Lương Vỵ có nhiều bài khá hay trong tập Âm vang và sắc màu. Đơn cử bài Cái nhìn, viết về người mẹ thật bồi hồi, súc tích: Mỗi lần con nhìn mẹ/ Càng thấy lạ thêm ra/ Hương đất trời kỳ diệu/ Nào đâu biết tuổi già..., và nhất là bài Tam Kỳ (nếu làm tuyển thơ về Tam Kỳ chắc chắn sẽ có bài này) với câu: Tôi cầm viên sỏi phôi pha/ Ném lên ngày rộng, vòng hoa tím chiều/ Chiên Đàn lá rụng hoang liêu/ Hồn thơ dại nhớ cánh diều đứt dây... Rồi Chiến khẽ bình: Viết như thế là tuyệt. Ngày rộng ôm được cái lớn lao, cái bao la chứ không ngày dài đằng đẵng lê thê; vòng hoa tím chiều in hình lên bầu trời ví như cuộc đời trôi lăn bé nhỏ của kiếp phù sinh... Khi tập hợp thơ Lý Hạ, đọc đến bài Tô Tiểu Tiểu mộ, Chiến liền nhớ đến bài Chép trên nền nhạc giao hưởng số 5 của Beethoven của Nguyễn Lương Vỵ. Giữa trời đất mang mang dường như có một mối giao cảm nào đó của hai bài thơ. Mỗi bài thơ của hai nhà thơ tôi xin lược trích ra một đoạn được xem là tương liên, tương đắc nhất. Bài của Lý Hạ: “Phong vi thường, thủy vi bội/ Du bích xa, tịch tương đãi/ Lãnh thúy chúc, lao quang thái/ Tây lăng hạ, phong xuy vũ”. Dịch thơ: Nước điểm trang, áo là gió/ Xe du bích, hẹn đêm tối/ Lửa ma trơi, mưa ngậm ngùi/ Chốn Tây lăng, trong gió thổi. Bài của Nguyễn lương Vỵ: Âm nhập cốt/ Âm vàng mấy gót hồ ly/ Vạn kỷ cung thương còn réo rắt/ Còn ru ta mãi quãng đời xanh/ À ơi, ai hát ngoài phương Bắc/ Chờ nhau tinh đẩu sáng long lanh/ Tiếng hát ngân nga chìm giếng lạnh/ Sói đầu mây bạc, áng thiên tinh/ Ô hô! Quan tái đà xao xuyến/ Giọt máu năm xưa bỗng tượng hình. Huỳnh Ngọc Chiến viết: Tôi luôn có cảm tưởng như đây là bài thơ mà Nguyễn Lương Vỵ đã viết cho Tô Tiểu Tiểu, viết trên nền nhạc mà anh đã lắng nghe được từ nấm mộ của Tô Tiểu Tiểu trong một đêm gió mưa...
Chiến công tâm và công bằng tận tụy rút ra từng mảnh ghép cuộc đời của bậc thiên tài và bậc có văn tài!
Còn một chỗ gần gũi hơn hết, bạn bè không ai là không biết Chiến giỏi về khúc thức, am tường luật thẩm âm, và cũng là tay đệm guitar rất cừ nên mỗi lần thưởng thức âm nhạc gặp chỗ nào tương đắc như giai điệu đẹp, ca từ hay là Chiến say sưa nghiền ngẫm... Chính vì vậy khi làm quyển sách về Lý Hạ, đọc đến bài Lý Bằng không hầu dẫn, thì Chiến dịch thơ và bình giải chỗ này rất ư sâu sắc, tâm đắc, như: “Giang Nga đề trúc, Tố Nữ khấp/ Lý Bằng Trung Quốc đàn không hầu/ Côn Sơn ngọc toái phượng hoàng khiếu/ Phù dung khấp lộ hương lan tiếu”. Dịch thơ: Giang Nga khóc trúc ngậm ngùi/ Cung không hầu vọng bồi hồi thở than/ Nghe như tiếng hót phượng hoàng/ Côn Sơn ngọc vỡ trên ngàn xa khơi... Đàn không hầu là một nhạc khí chế tác từ đời Hán, có gốc ở rợ Hồ; hình gãy và dài, có 23 dây. Lý Bằng là một tay đàn trong đám nhạc công của Đường Huyền Tôn. Huỳnh Ngọc Chiến bình: Chơi đàn là một nghệ thuật, nghe đàn lại là một nghệ thuật khác. Nghe nhạc đến mức như Lý Hạ đã là bậc thượng thừa. “Nghe” được âm nhạc có nghĩa là “giải mã” được ngôn ngữ âm nhạc để vượt qua được dòng suối thanh âm và đến với bến bờ bên kia. Nhà thơ Lý Hạ phải nhờ vào những cái tượng hình để diễn tả thanh âm, phải thác vào những cái không phải nhạc để nói lên nhạc. Lý Bằng không hầu dẫn là bài thơ tương đối hiếm hoi của thi quỷ Lý Hạ. Ta không còn nghe tiếng quỷ ngâm thơ trên nấm mồ trong đêm thu lạnh, không còn nghe tiếng hận lòng u uất trong thế giới lãng đãng hồn ma qua tiếng đàn không hầu của Lý Bằng. Một bài khác của Lý Hạ: “Giang phi xuất thính vụ vũ sầu/ Bạch lãng phiên không động phù ngọc/ Hoán thủ ngô gia song phượng tào/ Khiển tá Tam giáp cô viên hào” (Ở đây, tiếng nhạc lên khơi vơi cho bầu trời như thu mình trong lớp bụi mưa mù/ Từng tiếng nhạc bềnh bồng như từng hạt ngọc lóng lánh trên lớp sóng/ Đôi cánh phượng múa, và con vượn lẻ loi kêu gào trên sườn núi vắng). Chỗ tận cùng của nhạc là những đồng vọng không lời, mà lời thơ cảm ứng từ đồng vọng đó; nghe đã khó mà nghe qua lời thơ lại càng khó. Bài thơ này cũng nằm trong chỗ khó ấy. Thầy Tuệ Sỹ phẩm bình trong chương Những phương trời lữ thứ (Tô Đông Pha những phương trời viễn mộng): Chỉ nói cái cảnh chung quanh chỗ tấu nhạc, mà không nói thẳng tiếng nhạc. Nhưng nghe được từ chỗ đó, thì thấy tình tự tài hoa của ông. Dĩ nhiên, không thể bàn cho thấu đáo nổi. Trừ phi muốn nói lai rai chơi. Thầy Tuệ Sỹ đọc thơ Lý Hạ mà Ngài còn nói khó vậy, huống chi mình chỉ là “tay ngang” - Chiến nghĩ vậy. Trang lời bạt “Lý Hạ: Con quái điểu cuối cùng của một thời đại thơ ca” của nhà nghiên cứu Hán học Nguyễn Tôn Nhan thì cho biết, trước năm 1975, thầy Tuệ Sỹ đã hoàn tất bản thảo Lý Trường Cát ca thi, nhà xuất bản An Tiêm của thầy Thanh Tuệ chuẩn bị ấn hành thì gặp phải biến cố năm 1975, nay không biết bản thảo quý giá ấy đã thất lạc về đâu. Anh còn nói: Vào năm 2000, do chút duyên chữ nghĩa một hôm Chiến đến tặng tôi bản Lý Hạ - quỷ tài quỷ thi do Chiến tuyển dịch và bình chú. Xem qua Nguyễn Tôn Nhan thoáng ngập ngừng và ngỏ ý với Chiến là thơ Lý Hạ khó dịch hay!
Thầy Tuệ Sỹ
Tôi cho rằng, Huỳnh Ngọc Chiến phải có “nội lực” thâm hậu mới dũng mãnh bước vào chỗ bí mật, bí nhiệm, bí hiểm nhất của thiên tài Lý Hạ đã cách biệt thế gian hơn một ngàn hai trăm năm qua, để mà phơi mở, khai phóng, phẩm bình bằng hồn Việt ngữ dung dị.
Đi vào tư tưởng Thiền tông
Tôi nhớ Huỳnh Ngọc Chiến có viết bài Bóng thầy xưa (Hòa thượng Thích Từ Ý) đăng trên Văn hóa Phật giáo với lòng kính cẩn về một vị sư tôn túc. Tôi nghĩ, thầy Từ Ý chính là Bổn sư đã nhiếp dẫn tâm hồn Chiến từ ngày thơ bé. Trí huệ và lòng từ bi của thầy Từ Ý đã truyền dẫn vào trái tim bao người khi gặp thầy lần đầu. Một vị sư tâm thanh tịnh hồn tiêu sái: Lăn tràng hạt, niệm nam vô Phật/ Cửa từ bi công đức biết bao (Chu Mạnh Trinh). Vào trang Thư viện Phật Quang, thấy viết về thầy: “Đại lão Hòa thượng Thích Từ Ý – đời thứ 43 Thiền phái Lâm Tế, thế hệ thứ 9 pháp phái Liễu Quán - là một bậc chân tu, một nhà giáo dục Phật học mẫu mực, một vị Tôn sư khai sơn nhiều ngôi phạm vũ”. Những ngày chưa vấy bụi vô minh, Chiến đã lẽo đẽo theo chân má, chân cậu để bước vào cửa chùa Hòa An – Tam Kỳ một cách nhẹ nhàng và im lắng. Vì thế sau này, tôi thường nghe Chiến nói như một sự an bài: Thầy có giỏi chùa mới thiêng. Thầy giỏi là thầy Từ Ý, còn chùa thiêng là chùa Hòa An ngày ấy vậy! Ngày thầy Từ Ý về cõi Phật (1990), Chiến và đạo hữu xếp hàng dài rất đông, trên tay mỗi người cầm nén hương kính cẩn viếng thầy. Đoàn người hàng nối hàng hơn 10 cây số đưa tiễn thầy về nơi an nghỉ. Có thể nói, đây là đám tang lớn nhất từ trước đến nay tại Tam Kỳ.

Nhà nghiên cứu, biên khảo Huỳnh Ngọc Chiến
Huỳnh Ngọc Chiến tiếp cận truyện võ hiệp Kim Dung từ năm học tiểu học, có duyên lành với cửa chùa lúc còn tấm bé, tự học chữ Hán qua những trang kinh, tự nghiên tầm nắm vững triết luận Đông Tây và nhất là Chiến nắm bắt được tư tưởng Thiền tông một cách đáng khâm phục. Phẩm hạnh tối thượng của người tu tập theo Thiền tông là liễu ngộ Phật tính, thấu suốt bản tâm thanh tịnh của chính mình. Tôi nhớ khoảng giữa thập niên đẩu của thế kỷ 21, Chiến được Thành Hội Phật giáo Đà Nẵng mời về ngồi cùng hàng với nhiều vị sư uyên bác để giải đáp những câu hỏi của đạo hữu về giáo lý nhà Phật. Tôi nghĩ, hồi đó Chiến cũng “gan” lắm, nhưng rồi ngẫm lại Chiến phải hội đủ những gì mới tự tin như vậy. Quả thật lúc bấy giờ, Chiến đã có nhiều tác phẩm biên dịch, tiểu luận về Phật giáo ra đời, như: Đạo Phật và khoa học, Trúc thanh tập (Hương thiền qua tiếng trúc), Tây Tạng: Đạo sư và Huyễn thuật, Chu dịch thiền giải, Tánh Không: Cốt tủy của triết học Phật giáo, nên tôi vững tin Chiến sẽ vượt qua.
Từ những buổi đầu có nhiều hạnh duyên với thầy Từ Ý và được thầy ban cho chữ Hòa, từ đó Chiến có pháp danh là Nguyên Hòa. Sau này, giở lại thiên khảo luận Lai rai chén rượu giang hồ, tôi mới thấy Chiến phục tài và bàn nhiều nhất về nhân vật Lệnh Hồ Xung. Huỳnh Ngọc Chiến tâm huyết Lệnh Hồ Xung như thể hành trạng nhân vật này mang đầy đủ ý nghĩa Nguyên Hòa – pháp danh của mình. Lệnh Hồ Xung là đại đồ đệ của Nhạc Bất Quần, tư chất cực kỳ thông minh, tính tình khoáng đạt, không câu nệ. Phần vì bản tính hào sảng, phần vì sở thích ưa tự do, dọc ngang hồ hải, Lệnh Hồ Xung sẵn lòng kết giao các bằng hữu giang hồ chủ yếu là lai rai chén rượu cùng với tấm chân tình rộng mở, bất kể người đó là chính hay tà. Ý Chiến cũng thích như vậy!
Theo dòng đời chảy trôi nhận thấy cuộc sống quá ư xô bồ, cảnh hám danh đoạt lợi không ngừng, con người lăn lóc chìm nổi trong cõi tử sinh luân hồi phơi bày chình ình ra đó, nên trong lời tựa tập tiểu luận về Phật giáo Trúc thanh tập, Huỳnh Ngọc Chiến có lần tâm sự: Tôi cũng lắm phen mò mẫm vào chốn ấy (tức chốn Thiền môn), nhưng không dám vào sâu vì sợ lạc lối. Không dám vào sâu thì ắt hẳn cũng không nhìn ngó nghiêng ra ngoài mà phải luôn quay vào bên trong, quay về chính mình. Hơn nữa phải giữ gìn đừng để sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) dính nhiễm với sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) là được. Đó là cội rễ của Bồ đề. Được thế, tâm hồn mới ung dung tự tại. Không nhìn ngó ra ngoài còn hàm nghĩa với “hồi quang phản chiếu”, tức là quay ánh sáng trở lại, soi rọi chính mình. Thầy Thanh Từ dặn “hồi quang phản chiếu” chỉ dành cho người triệt ngộ, nghĩa là đi, đứng, nằm, ngồi không quên mình mới dùng được. Ai còn chưa quên mình thì khoan hãy dùng. Tin rằng, Chiến lúc đọc kinh, dịch sách chỉ luôn chú ý vào từng nghĩa của chữ, ý của câu, diễn giải tỉ mỉ những diệu lý trang kinh vẫn không lìa tâm mình ra khỏi ngoài, dù chỉ một khởi niệm.
Trong Thư viện Hoa sen, phần index có tải lên nhiều bài viết về Phật học của tác giả Huỳnh Ngọc Chiến. Và trong Giác Ngộ Online cũng đăng nhiều trang viết súc tích về Phật giáo của Huỳnh Ngọc Chiến. Ví dụ, như Phật trên đường phố, Từ câu ngạn ngữ Á Rập đến thằng bé tắm truồng... với cách luận đàm rất duyên!
Hơn hết, vào những ngày cuối cùng, Huỳnh Ngọc Chiến tin rằng huyền lực đến từ những trang kinh, khi ta đọc kinh bằng cả tâm nguyện “tín, giải, thọ, trì”. Từ đó, tôi tin vào sức mạnh của kinh điển. Mỗi trang kinh, thậm chí mỗi câu kinh không chỉ mở rộng tâm thức ta ra trước những phương trời tư tưởng bất khả tư nghì mà còn có sự tác động vi tế đến thân tâm:
Gượng đau ngồi dịch Lăng Già/ Xong, lại mơ cõi Duy Ma phiêu bồng/ Để mai về bến sương hồng/ Trong tâm còn lại đôi dòng chân kinh.
Khúc vĩ thanh vọng ngân, với tâm hồn khoáng đạt bát ngát, xem cuộc đời như giấc mộng, Huỳnh Ngọc Chiến đã sống trọn nghĩa vẹn tình với người, với cõi Ta bà tạm bợ, với tất cả niềm xao xuyến thương yêu trước khi từ giã “chuyến xe đời”:
Tam Kỳ phố cũ thương yêu,/ Vui trưa Đà Nẵng, say chiều Hà Lam/ Ta nhàn du cõi trần gian/ Rong chơi cùng với cây đàn guitar/ Dịch kinh, viết sách gọi là/ Lưu chút tặng vật làm quà thế gian/ Bận tâm chi chuyện hợp tan/ Sinh là nắng gió, tử ngàn hoa bay/ Đến như hoa thắm bên này/ Đi thành hương ngát tháng ngày bên kia/ Một làn sương mỏng cách chia... Khoảnh khắc “về trở lại” Huỳnh Ngọc Chiến tan trong dải mịt mờ về trời phương ngoại rong chơi.![]()



























































































































































Bình luận bài viết