Thông tin

TỊNH ĐỘ ĐẠI KINH GIẢI DIỄN NGHĨA - TẬP 106

 

 

Chủ giảng: LÃO PHÁP SƯ TỊNH KHÔNG

*****

Trưởng ban biên dịch:

TK. Thích Đồng Bổn

 

QUYỂN 11

(Tập 101 – 110)

 

TẬP 106

 

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa

Giảo duyệt: Huệ Trang và Đức Phong

 

Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin xem tiếp Đại Thừa Vô Lượng Thọ Kinh Giải, trang 126, dòng thứ 1, từ chỗ “Chính Giác”.

“Chính Giác giả, Như Lai chi thật trí, cố thành Phật viết thành Chính Giác. Tối Chính Giác giả, sùng hiển Phật giác chi vô thượng viên mãn cứu cánh” (Chính Giác là thật trí của Như Lai, vì thế, thành Phật được gọi là “thành Chính Giác”. Tối Chính Giác: Đề cao, hiển thị sự giác ngộ của Phật là vô thượng viên mãn rốt ráo). Đoạn này về tướng thứ 6 (tức “thành đạo”) trong 8 tướng thành đạo. Kinh văn chỉ có 2 câu: “Đắc vi diệu pháp. Thành Tối Chính Giác”. Đoạn này nhằm giải thích Tối Chính Giác là gì.

Trong phần trước, tôi có nói lão cư sĩ Niệm Tổ đã trích dẫn kinh luận nhằm giải thích từ ngữ “đắc vi diệu pháp” “khế Thế Tôn chi Phật trí”, tức là khế nhập Phật trí của đức Thế Tôn, “nhập thật tướng chi diệu lý” là thành Chính Giác. Nay lại giải thích, “Chính Giác giả, Như Lai chi thật trí” (Chính Giác là thật trí của Như Lai). Hễ nói Như Lai, thì quá nửa là nói về tự tính, là tự tính của đương nhân. Trong kinh Phật thường nói “đương nhân”, thì “đương nhân” (當人) là chính mình, “đương xứ” (當處) là ở ngay nơi đây, cho nên gọi là “đương hạ” (當下: ngay nơi đây, ngay trong lúc này).

Trong tự tính của chính chúng ta vốn sẵn có trí tuệ chân thật, trí tuệ ấy chẳng giả. Trí tuệ chân thật vĩnh viễn chẳng mất đi, vĩnh viễn tồn tại. Không chỉ trí tuệ là như thế, mà đức năng cũng là như thế, tướng hảo cũng là như thế, chẳng có một pháp nào không như vậy, pháp nào cũng đều là như vậy, vì hết thảy các pháp chẳng lìa tự tính, đều do tự tính biến hiện.

Ở đây, cổ đại đức có một tỷ dụ, sánh ví tự tính như vàng, vàng ròng, sánh ví vạn pháp như các món vật làm bằng vàng, dùng vàng ròng làm thành các dụng cụ. Thí dụ như phổ biến nhất là đồ trang sức, nhẫn, xuyến, vòng đeo cổ, những món trang sức ấy, lắm thứ kiểu dáng, chẳng có cùng tận. Năm xưa tôi ở Mỹ, chúng tôi có một vị đồng tu là cư sĩ Trần Đại Xuyên kinh doanh đồ trang sức. Ông ta làm đồ trang sức giả, tức là đồ bằng vàng mạ, chẳng phải là vàng ròng, làm vô cùng xinh đẹp, lại vừa rẻ. Hàng bán hết sức chạy, bán khắp cả thế giới. Có lần, ông ta dẫn tôi đến thăm phòng trưng bày, phòng trưng bày ấy to gần gấp đôi studio của chúng ta. Những sản phẩm trong ấy ước chừng gần hai vạn loại. Quý vị đến xem, đẹp đẽ khôn xiết, thật xinh đẹp! Người ngoại quốc rất thích những món ấy, chúng hết sức đẹp đẽ, trông còn đẹp hơn đồ thật. Mất đi cũng chẳng đáng giá mấy. Một món đắt nhất cũng không hơn mười mấy đồng, đại khái chẳng thể nào mắc hơn 20 đồng.

Quý vị thấy giá thành rất thấp, rất đẹp, ai đến cũng mua vài món, có thể thường thay đổi để đeo. Quý vị thấy làm ra mấy vạn thứ, hình dạng khác nhau, chúng được gọi là “khí” (器:vật dụng). Tất cả hết thảy các món trang sức có chất liệu đều là hoàng kim, nó là vàng mạ. Cổ đức dùng tỷ dụ này, sánh ví “dĩ kim tác khí, khí khí giai kim” (dùng vàng làm đồ vật, món nào cũng đều là vàng). “Vàng”ấy chính là thật trí của Như Lai được nói đến ở đây. Chỉ cần quý vị chứng đắc, tìm được trí tuệ chân thật trong tự tính, tác dụng sẽ vô cùng.

Do vậy, Phật được gọi là Tối Chính Giác. Tối Chính Giác “sùng hiển”. Sùng (崇) là sùng thượng (đề cao), tôn sùng. Hiển (顯) là hiển thị. “Phật giác chi vô thượng viên mãn cứu cánh” (Sự giác ngộ của Phật vô thượng viên mãn rốt ráo). Hình dung từ này hay lắm! Vô thượng là chẳng có gì cao hơn, nó có thể sinh ra vạn pháp. Viên mãn là chẳng có mảy may khuyết hãm nào. Cứu cánh là đạt tới chỗ tột bậc. Đây là nói về trí tuệ hiện tiền, đức năng cũng là vô thượng viên mãn rốt ráo, tướng hảo cũng như thế. Cũng có thể nói là chẳng có pháp nào không phải là vô thượng viên mãn rốt ráo. Chỗ như vậy ở nơi đâu? Tây Phương Cực Lạc thế giới là như vậy; thế giới Hoa Tạng của Tỳ Lô Giá Na Phật được nói trong kinh Hoa Nghiêm cũng là như vậy; báo độ của hết thảy chư Phật đều là như vậy. Vì sao? Có thể tiến nhập báo độ của Như Lai là ai? Đều là những người tu hành đã đạt địa vị, vọng tưởng, phân biệt, chấp trước thảy đều buông xuống.

Do vậy, thế gian ấy là một thế gian bình đẳng, chẳng có cao, thấp. Vì sao? Ai nấy đều đạt đến vô thượng viên mãn rốt ráo. Chẳng phải ở trong cảnh giới ấy, quý vị sẽ chẳng thể tiến vào, thế giới ấy ở ngay trước mặt mà quý vị cũng chẳng nhìn thấy. Các nhà khoa học hiện thời đang nói đến các chiều không gian khác nhau. Chúng có tồn tại trước mặt chúng ta hay không? Ở ngay trước mặt chúng ta! Về căn bản là hiện tiền, chẳng hề rời khỏi, ở ngay đó, nhưng chúng ta chẳng thấy. Giống như chúng ta xem TV, quý vị thấy những hình ảnh đều ở trong màn hình này, đang tồn tại. Ở đây (Úc) thì tôi không biết, chứ ở Mỹ có hơn một trăm băng tần TV, đều hiện diện trong một màn hình.

Quý vị chẳng mở đúng băng tần, chẳng thể nói nó không có. Nhà Phật nói “ẩn - hiển”. Nó ẩn chẳng hiển, vì quý vị chẳng bắt đúng băng tần. Sau khi ấn nút đúng băng tần, nó bèn hiển hiện, hiển chứ không ẩn. Khi ẩn, quý vị chẳng thể nói là nó không có; khi hiện, quý vị chẳng thể nói là nó có, đó là Diệu! Chẳng phải có, chẳng phải không, đó là Diệu. Trong kinh Phật, chữ Diệu thường được dùng để chỉ ý nghĩa này. Duyên đầy đủ bèn hiện, duyên chẳng đủ bèn chẳng hiện. Trong chân tính, ở đây [chân tính được] gọi là thật trí. Trí tuệ chân thật chẳng hiện, giống như chúng ta nhìn vào màn hình TV, chẳng nhấn đúng băng tần, cái gì cũng chẳng có, nhưng hễ gặp duyên, nó có thể hiện tướng, có thể sinh ra vạn pháp. Không chỉ có thể sinh ra vạn pháp, sách Hoàn Nguyên Quán còn cho biết nó “xuấtsinh vô tận”, biến hóa vô cùng, những điều này đều là thật. Vì sao nó biến hóa vô cùng? Vì nó vô thượng viên mãn rốt ráo!

Cảnh giới này không phải chỉ riêng mình Phật Thích Ca Mâu Ni mới có, cũng chẳng phải là một số vị như Phật A Di Đà và Phật Tỳ Lô Giá Na riêng có, chẳng phải vậy. Đức Phật bảo chúng ta: “Hết thảy chúng sinh trong khắp pháp giới hư không giới đều có”. Chỉ vì hiện thời quý vị đang mê chẳng giác. Mê mất tự tính, nên cảnh giới thù thắng khôn sánh chẳng hiện ra. Duyên ấy là gì? Nay, chúng ta gọi duyên là nghiệp. Chúng ta hãy suy nghĩ, đại chúng trong xã hội hiện thời đang tạo nghiệp gì? Vì tự tư, tự lợi, tiếng tăm, lợi dưỡng, bất hiếu với cha mẹ, bất kính tôn trưởng, kiêu căng, ngã mạn, tạo những nghiệp ấy.

Những nghiệp ấy là nghiệp bất thiện. Vì sao hiện thời trên địa cầu có lắm tai nạn như thế? Do nghiệp bất thiện biến hiện. Những điều ấy đều thuộc loại viên mãn rốt ráo, nó có thể biến, tùy duyên biến, tức là thuận theo duyên mà biến hiện. Tùy thuận duyên gì vậy? Tùy thuận duyên của hết thảy chúng sinh, chẳng tùy thuộc bản thân Phật, Bồ tát. Nếu là tùy thuận bản thân Phật, Bồ tát, thì hiện tướng gì cũng không có. Điều đó giống như gì? Giống như chúng ta nhìn vào màn hình TV, trong ấy thứ gì cũng đều chẳng có. Đó là duyên của chư Phật Như Lai.

Vì sao các Ngài không hiện? Vì các Ngài chẳng khởi tâm, không động niệm. Khởi tâm động niệm còn không có, chư vị nghĩ xem: Há có phân biệt, chấp trước? Các Ngài thật sự chẳng khởi tâm, không động niệm, chẳng phân biệt, không chấp trước; do vậy, các Ngài hiện Thường Tịch Quang, một bầu quang minh. Trong đó, chẳng có hiện tượng vật chất, mà cũng chẳng có hiện tượng tinh thần, giống như chúng ta nhìn vào màn bạc, trên màn bạc thứ gì cũng đều chẳng có, hiện những tướng ấy.

Chư Phật Như Lai hiện tướng, kinh giảng rất rõ ràng: “Tùy chúng sinh tâm, ứng sở tri lượng” (Thuận theo tâm chúng sinh, ứng với khả năng nhận biết của họ). Quý vị thấy “tùy tâm ứng lượng”, chẳng phải là tùy thuận cái tâm của chính mình, mà thuận theo tâm của chúng sinh. Tâm địa ngục hiện tướng địa ngục. Địa ngục là tâm gì? Sân hận, sân khuể bèn hiện tướng địa ngục. Đối với tướng ngạ quỷ, thì tâm ngạ quỷ hiện tướng ngạ quỷ. Ngạ quỷ là gì? Tham lam. Tham lam chẳng chán, đó là ngạ quỷ. Tâm súc sinh là ngu si. Do vậy, tham, sân, si hiện 3 ác đạo. Nhân đạo là gì? Nhân đạo là Thập thiện, Ngũ giới. Cổ nhân dạy chúng ta Ngũ luân, Ngũ thường là nhân đạo.

Hiện thời, làm người khổ quá! Vì sao? Họ chẳng phải là người. Con người hiện thời còn khổ hơn ngạ quỷ. Vì sao? Đã mất cái tâm người rồi! Tâm người là gì? Ngũ luân, Ngũ thường, Tứ duy, Bát đức, đó là tâm người. Cổ nhân dạy chúng ta 4 khoa mục ấy, chúng ta phải tìm lại chúng. Đó là xã hội phúc báo nhân thiên, người trong thế gian này thật sự có phúc. Kinh còn dạy chúng ta tu phúc, quý vị chẳng tu phúc, lấy đâu ra phúc báo? Tạo tội mà mong có được phúc báo, chẳng có lẽ ấy! Chẳng có đạo lý ấy! Chịu tội chính là bị tai nạn, tai nạn cá nhân là bệnh tật, quả báo của biệt nghiệp và cộng nghiệp chính là thiên tai, nhân họa.

Xã hội hiện thời đầy dẫy thiên tai, nhân họa. Vì sao? Người sống trên địa cầu này vứt bỏ thiện nghiệp, chẳng còn học theo điều lành, chẳng biết tu phúc, chẳng biết tu đức. Vì thế, xã hội lâm vào tình trạng bình trị hay loạn lạc đều là các phản ứng đối với tâm hạnh và nghiệp cảm của cư dân hiện tiền, chứ chẳng phải là gì khác. Hiểu rõ đạo lý này, liễu giải sự thật này, trông thấy khá nhiều điềm báo bất tường, chúng ta lập tức giác ngộ, lập tức quay đầu, tai nạn sẽ từ từ hóa giải. Nếu chính mình chẳng thừa nhận lầm lỗi của chính mình, chẳng biết sám hối, chẳng biết quay đầu, vẫn thuận theo tập khí phiền não của chính mình để tiếp tục làm, thì sẽ bị hủy diệt; chính mình bị hủy diệt, xã hội cũng bị hủy diệt, địa cầu cũng hủy diệt, quý vị làm chuyện như thế đó.

Những vị đại thánh đại hiền của các sắc dân khác nhau và các tôn giáo bất đồng nhắc nhở, chỉ dạy chúng ta hãy thoát ly biển khổ, đạt tới cuộc sống thật sự hạnh phúc mỹ mãn như thế nào, đó là giáo dục tôn giáo. Nói đến “tôn giáo” thì chữ “Tôn” có 3 ý nghĩa, thứ nhất là chủ yếu, thứ hai là trọng yếu, thứ ba là tôn sùng, tôn trọng, đề cao, tôn sùng; “Giáo” là giáo dục, giáo học. Quý vị thấy 2 từ “Tôn giáo” gộp lại rất tuyệt diệu. Trong thế gian này, tôn giáo là điều nhân dân cần thiết, là giáo dục trọng yếu nhất, là sự giáo học chính yếu nhất, là sự giáo hóa đáng tôn sùng nhất. Trong mười mấy năm gần đây, chúng tôi tiếp xúc khá nhiều tôn giáo trên thế giới, đem định nghĩa về tôn giáo nói với mọi người, người nghe chẳng có ai không hoan hỷ, chẳng có tôn giáo nào phản đối cách nói ấy. Nghe xong rất hoan hỷ, bởi tôn giáo vốn có ý nghĩa ấy. Đó là gì? Giáo dục tôn giáo là nhu cầu tất yếu của người thế gian. Quý vị có nền giáo dục ấy sẽ có hạnh phúc, có sự mỹ mãn, có hài hòa, có hòa bình. Không có nền giáo dục ấy, xã hội động loạn chẳng biết đến mức nào!

“Như Thích Ca Phổ viết: Đắc vô thượng chính chân chi đạo, vi Tối Chính Giác” (Như sách Thích Ca Phổ có nói: “Đắc đạo vô thượng chính chân là Tối Chính Giác”). Trong Thích Ca Phổ có một câu nói như thế. Có thể dùng câu ấy để giải thích ý nghĩa bao hàm trong từ ngữ Tối Chính Giác. “Hội Sớ viết: Giác chi trung vi tối cực” (Sách Hội Sớ giảng Tối Chính Giác là “sự giác ngộ tột bậc”), vì A La Hán đã giác ngộ, nhưng là vừa mới bắt đầu giác ngộ. A La Hán là như vậy. Giác ngộ có lợi ích gì? Bất giác có gì chẳng tốt? Bất giác sẽ chẳng thoát khỏi lục đạo luân hồi. Quý vị sống sống chết chết trong lục đạo luân hồi, vĩnh viễn chẳng thể gián đoạn, thân thể này đã diệt lại đi tìm một cái thân khác, vĩnh viễn ở trong lục đạo. Trong lục đạo, được làm thân người, hay được làm thân chư thiên, cơ hội ấy chẳng nhiều. Phải làm thân ngạ quỷ, thân súc sinh, thân địa ngục trong lục đạo, cơ hội ấy quá nhiều! Nghĩ tới điều này, quý vị sẽ hiểu. Do vậy, đức Phật tỷ dụ lục đạo là biển khổ.

Câu “Biển khổ vô biên”, hình dung lục đạo luân hồi chẳng có ngằn hạn, nên nói là “Biển khổ vô biên”. Chúng ta hãy suy nghĩ, chẳng cần nói đến 5 đường kia, trong nhân đạo hiện thời, hãy nhìn xem con người hiện thời đang sống cuộc đời gì, có thật sự sung sướng hay chăng? Tôi thấy nhiều vị lãnh đạo quốc gia, tôi cũng từng thấy những phú ông có tài sản ức vạn, nhưng họ chẳng sung sướng! Vì sao tôi biết? Mỗi tối đi ngủ, họ phải uống thuốc ngủ, chẳng có thuốc ngủ sẽ không thể ngủ được! Chẳng có cà-phê đậm đặc, tinh thần sẽ uể oải. Do vậy, tôi hiểu, địa vị rất cao, có nhiều của cải, vẫn chẳng sung sướng, họ vẫn khổ sở. Phật pháp giúp họ lìa khổ được vui.

Nếu họ thật sự chịu học, thật sự tin tưởng, thật sự có thể nghe hiểu, y giáo tu hành, sẽ lìa khổ được vui! Lìa khổ được vui là cả đời hạnh phúc mỹ mãn, chẳng liên can đến địa vị cao hay thấp, nghèo giàu, sang hèn! Cả cuộc đời của loài người chúng ta trong thế gian này là để theo đuổi hạnh phúc mỹ mãn hay là để theo đuổi phú quý? Phú quý mà chẳng sung sướng, thì chẳng thà nghèo hèn mà sung sướng. Kẻ tại gia như Nhan Hồi, là môn đệ được Khổng phu tử tán thán nhất, cuộc sống của ông ta hết sức bần hàn, thiếu thốn, nhưng là người sung sướng nhất trong các đồng học.

Trong các vị xuất gia, Bố Đại Hòa thượng chẳng có một thứ gì. Ngài đã xuất gia, thứ gì cũng đều buông xuống, kể cả đạo tràng cũng không có, đi khắp nơi quải đơn, chính mình chẳng có đạo tràng, vui sướng khôn sánh, suốt ngày từ sáng đến tối cười hề hà. Đó là các tấm gương trong giới xuất gia và tại gia, chẳng liên can gì đến phú quý hay nghèo hèn, đắc đại tự tại, được sung sướng to lớn, đắc đại viên mãn. Nhờ vào đâu? Họ nhờ vào đạo, đắc đạo! Đắc đạo là gì? Giác ngộ, hiểu rõ, chẳng còn là kẻ hồ đồ nữa. Vạn sự vạn vật trong vũ trụ họ đều thông đạt, hiểu rõ, lẽ đâu chẳng vui sướng? Triệt để buông xuống, tâm địa thanh tịnh, bình đẳng, chẳng nhiễm mảy trần, lẽ nào chẳng vui sướng?

Vì vậy, “Đắc vô thượng chính chân chi đạo” như sách Thích Ca Phổ chính là minh tâm kiến tính. Trong Tịnh Độ tông, dùng phương pháp Niệm Phật cũng có thể đạt đến cảnh giới ấy. Đạt tới cảnh giới ấy thì Tịnh Độ tông dùng thuật ngữ “Lý Nhất tâm bất loạn”. Đắc Lý Nhất tâm bất loạn là thành Phật. Quý vị đắc đạo vô thượng chính chân, đó là Lý Nhất tâm bất loạn. Sự Nhất tâm bất loạn bằng với A La Hán. Lý Nhất tâm bất loạn là đã thành Phật. Kế đó, chúng ta lại thấy lão cư sĩ trích dẫn một câu nói từ sách Hội Sớ. Sách Hội Sớ giảng: “Giác chi trung vi tối cực” (Sự giác ngộ tột bậc). A La Hán vừa mới bắt đầu giác ngộ, Bồ tát tuy giác ngộ, nhưng chưa đạt tới tối cực, Phật đã đạt tới tối cực, tức Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác.“Cố vân thành Tối Chính Giác. Thành Tối Chính Giác tức cứu cánh thành Phật” (Nên nói là “thành Tối Chính Giác”. Thành Tối Chính Giác chính là rốt ráo thành Phật). Đây là nói đến tướng “thành đạo” trong 8 tướng thành đạo của Phật Thích Ca Mâu Ni, chính mình đã tu hành viên mãn.

Sau khi viên mãn bèn làm gì? Sau khi chính mình đã viên mãn, phải giúp người khác viên mãn, phải giáo hóa chúng sinh. Vì thế, đoạn tiếp theo là: “Thiên nhân quy ngưỡng, thỉnh chuyển pháp luân” (Trời, người nương về, ngưỡng mộ, xin chuyển pháp luân). Đó là hóa độ chúng sinh, tức là tướng thứ 7 trong 8 tướng thành đạo. Tướng thứ 7 là “chuyển pháp luân”. Chúng ta học Phật, nói thật ra, đời người gặp gỡ duyên phận thù thắng như vậy, học Phật là đúng, chẳng học Phật bèn sai mất rồi.

Học Phật cũng phải lấy “thành Tối Chính Giác” làm mục tiêu học tập. Trong một đời này, chúng ta có thể đạt được Tối Chính Giác hay không? Khó lắm! Nói thật ra, chẳng làm được! Chúng ta có thể đoạn tập khí phiền não hay không? Kiến Tư phiền não còn chưa thể đoạn, huống hồ Trần Sa, huống gì Vô Minh? Nhưng quý vị phải biết: Chẳng đoạn được những thứ ấy là không được! Nghĩ đến lục đạo, nhất định trước hết phải nghĩ đến tam đồ. Tam đồ quá khổ, quá đáng sợ. Chúng ta chẳng dễ gì thoát khỏi tam đồ để được làm thân người. Chẳng tiêu trừ tội nghiệp trong tam đồ sẽ không thể thoát khỏi, giống như phạm tội bị xử phạt giam cầm trong tù ngục. Kỳ hạn xử phạt chưa mãn, thì quý vị chẳng thoát ra được! Thời hạn bị xử phạt trong tam đồ đã mãn, thoát ra, vào nhân đạo. Đã thoát ra, nhưng chẳng khéo học, lại làm chuyện xấu, sau khi chết lại trở vào tam đồ.

Trong kinh Địa Tạng, các quỷ vương đã nói tới chuyện này. Quý vị thấy đó, vừa mới thả quý vị ra, cớ sao quý vị bèn quay lại ngay? Quỷ vương chê cười quý vị. Sau khi thoát ra, chớ nên lộn lại, quý vị bèn thành công. Người nào chẳng còn quay lại nữa? Sau khi thoát ra, gặp gỡ Phật pháp, tu hành chứng quả, người ấy sẽ chẳng quay lại. Chứng quả vị như thế nào? Tối thiểu là quả vị Tu Đà Hoàn. Thật sự chứng đắc Tu Đà Hoàn sẽ không quay lại tam ác đạo, vĩnh viễn sẽ không đọa vào nữa.

Trong kinh, đức Phật đã dạy rất nhiều lần: Tuy Tu Đà Hoàn chưa thoát luân hồi, vẫn ở trong lục đạo, nhưng Ngài sinh trong cõi Trời hoặc nhân gian, ở trong hai nơi ấy, chẳng đọa tam ác đạo. Lại còn qua lại chỉ tối đa là 7 lần trong cõi Trời hoặc nhân gian, sau 7 lần sẽ vượt thoát lục đạo. Không chỉ vĩnh viễn chẳng đọa tam ác đạo, mà còn vĩnh viễn chẳng trở lại lục đạo, kể như là thật sự thành tựu.

Nói thật ra, chúng ta hiện thời ngay cả Tiểu Quả Tu Đà Hoàn còn chẳng có cách nào đạt được. Nếu nói là cắn chặt răng nghiêm túc tu hành, thì sẽ có thể đạt được, chẳng phải là không đạt được! Thật sự có thể buông ngã chấp xuống, chẳng còn chấp trước thân là ta, đã thấy thấu suốt, buông đối lập xuống, đối với người, đối với sự, đối với vật chẳng có ý niệm đối lập, buông thành kiến xuống, buông hết thảy kiến giải sai lầm xuống, đọc kinh nhuần nhuyễn, biến đạo lý trong kinh Phật thành tư tưởng và kiến giải của chính chúng ta, đó là chính xác, chẳng có vấn đề gì! Chẳng cần niệm quá nhiều, một bộ kinh LượngThọ là đủ rồi. Đệ Tử Quy, Cảm Ứng Thiên, Thập Thiện Nghiệp, đủ rồi, sẽ có thể chứng đắc địa vị Sơ Tín trong Thập Tín Bồ tát như kinh Hoa Nghiêm đã nói, là thánh nhân, chẳng phải là phàm phu.

Sau khi chứng đắc sẽ chẳng bị thoái chuyển, đó là Vị Bất Thoái. Nếu gặp pháp môn Tịnh Độ, quý vị rất may mắn. Vì sao? Gặp pháp môn này, quý vị có thể thành Phật trong một đời, chẳng phải là thành Tu Đà Hoàn, mà ngay lập tức vượt qua 50 địa vị, có thể thành Phật trong một đời, còn hành những thứ gì khác trong thế gian nữa ư? Thảy đều buông xuống, nhất tâm nhất ý đọc kinh, niệm Phật, chẳng cần phải mất một thời gian rất dài, quý vị có thể biết trước lúc mất, tự tại vãng sinh. Tự tại vãng sinh, dẫu còn thọ mạng trong thế gian này, ta chẳng cần, ra đi sớm, có năng lực ấy, đến Tây Phương Cực Lạc thế giới làm Phật, chẳng tuyệt diệu ư? Chuyện may mắn như thế mọi người đều gặp gỡ, tùy thuộc ai có thể nắm được vận may này thì sẽ thành công. Bỏ lỡ sẽ rất đáng tiếc, trăm ngàn vạn kiếp khó gặp gỡ, hy hữu khó gặp! Do vậy, thành Tối Chính Giác là thành Phật rốt ráo.

Chúng ta đọc 2 câu kế tiếp: “Thiên nhân quy ngưỡng. Thỉnh chuyn pháp luân”. Chỉ có đức hạnh và trí tuệ của chính mình đã thành tựu, quý vị mới có thể cảm trời, người quy ngưỡng. Quy (歸) là quy y. Nói cách khác, họ đến bái quý vị làm thầy, nương vào sự giáo huấn của quý vị để tu hành, đó là “quy ngưỡng”(歸仰). Thỉnh chuyển pháp luân: Chuyển pháp luân là truyền pháp. Vì sao không nói truyền, mà nói chuyển? Lần lượt truyền pháp, Phật truyền cho quý vị, quý vị lại truyền cho người khác, từng người truyền cho nhau, càng truyền càng nhiều, càng truyền càng lâu, chính pháp tồn tại lâu dài trên thế gian này, đạo lý ở chỗ này.

Chúng ta đọc lời chú giải của lão cư sĩ: “Kỵ dĩ hạ chư cú” (Cùng với các câu dưới đó). Phần kinh văn kế tiếp rất dài, đều nói về tướng thứ 7, tức tướng thứ 7 trong 8 tướng thành đạo. Tướng thứ 7 là chuyển pháp luân. Hãy ghi nhớ, chuyển pháp luân là lần lượt truyền pháp. “Thiên nhân” có nghĩa là cõi Trời và nhân gian, chúng ta giải thích như vậy càng dễ hiểu.

Ở đây, cụ Hoàng giải thích: “Thiên đạo trung nhân” (Người sống trong cõi Trời) được gọi là “thiên nhân”, tức là chư thiên. Thiên thượng nhân gian, chúng ta gộp cả nhân gian vào đó. “Quy giả quy kính. Ngưỡng giả khâm ngưỡng” (Quy là quy kính. Ngưỡng là khâm phục, ngưỡng mộ). Bồ tát đã thành Phật, lời chú giải của lão cư sĩ chẳng phải là thiếu đạo lý! Phật Thích Ca Mâu Ni đã thành Phật, người thế gian chẳng biết, chỉ thấy Phật Thích Ca Mâu Ni tịnh tọa dưới cội cây Tất Bát La. Phàm nhân thấy người ấy đang tịnh tọa. Người tu hành tịnh tọa, thì họ đi qua cũng chẳng để ý đến. Nếu không có ai thỉnh pháp, đức Phật sẽ diệt độ. Phàm phu chẳng nhận biết, làm sao có thể đến thỉnh pháp cho được? Chư thiên biết. Chư thiên nơi nào? Cõi trời Đệ Tứ Thiền, tức chư thiên trong Ngũ Bất Hoàn Thiên thấy biết, họ được gọi là Tịnh Cư Thiên.

Kinh Phật gọi Tịnh Cư Thiên là Ngũ Bất Hoàn Thiên. Họ trông thấy Phật Thích Ca Mâu Ni thị hiện thành Phật dưới cội Bồ đề, vội vã giáng xuống, biến thành hình dạng của người thế gian, quỳ gối trước đức Phật Thích Ca, thỉnh Phật trụ thế, thỉnh chuyển pháp luân. Phật Thích Ca có người đến khải thỉnh, do có người đến thỉnh nên nhận lời, chẳng nhập diệt. Vì thế, câu “Thỉnh chuyển pháp luân” ở đây là thỉnh pháp. Chư thiên ở Tịnh Cư Thiên giúp chúng ta thỉnh pháp.

Vì vậy, ta có thể biết: Thỉnh pháp liên quan tới pháp vận của Phật pháp hưng hay suy. Có người thỉnh pháp, pháp vận của Phật sẽ hưng vượng. Phật chẳng phan duyên, chư vị phải liễu giải đạo lý này. Phật sẽ chẳng đến tìm quý vị. Chẳng có ai thỉnh pháp, đức Phật sẽ rời khỏi thế gian này, lìa khỏi nhân gian. Vì thế, có thể thỉnh pháp hay không sẽ có liên quan đến sự hưng suy của Phật pháp. Ngày nay, Phật pháp đã mấp mé bên bờ vực tồn vong, chẳng ai biết thỉnh pháp, Phật pháp sẽ thật sự biến mất trên thế gian này, cho nên chúng ta phải biết thỉnh. Thỉnh ai? Xem trong số những người trẻ tuổi, những ai ta biết rõ là người thật sự có đạo tâm, chân thật tu trì, thật sự giác ngộ, chúng ta phải thỉnh người ấy! Người khác chẳng thỉnh vì chẳng nhận biết, chúng ta nhận biết, có thể nào chẳng thỉnh hay không? Hiện thời, người ấy là tại gia cư sĩ, ta thấy chính xác người ấy có thể hưng vượng Phật giáo bèn thỉnh cầu người ấy xuất gia, thỉnh cầu người ấy chuyển pháp luân.

Chính pháp tồn tại lâu dài trên thế gian, chúng sinh mới thật sự có thể tai chướng tiêu tan. Có phúc, tai nạn tiêu trừ, phúc báo hiện tiền. Đó là chuyện tốt, là chuyện tốt lành bậc nhất trong thiên hạ, chớ nên không biết. Ngàn vạn phần chớ nên ganh ghét, chướng ngại. Nếu ganh ghét, chướng ngại, chắc chắn sẽ là quả báo trong địa ngục A Tỳ, tuyệt đối chẳng phải là chỗ khác! Chắc chắn quý vị sẽ đọa trong địa ngục A Tỳ. Nếu tâm thái của quý vị chuyển biến, chuyển biến 180o, thỉnh Phật trụ thế, công đức ấy còn gì tuyệt diệu bằng? Cứu vớt Phật giáo, cứu vớt xã hội, cứu vớt địa cầu. Tích lũy công đức to tát dường ấy, nếu quý vị mong hưởng thụ phúc báo nhân gian, hãy nghĩ xem đó là phúc báo gì? Quý vị hưởng phúc báo đế vương trong nhân gian. Ngôi vị đế vương ấy nếu truyền cho con cháu sẽ truyền được bao nhiêu đời? Tối thiểu là truyền được 1.000 năm, phúc báo quá to! Đúng là 1.000 năm thịnh trị, quý vị tích lũy công đức to tát dường ấy. Duyên phận hy hữu khó gặp như thế, đến nơi đâu để tìm được? Sau khi gặp gỡ lại tu phúc báo to như thế, chẳng tuyệt diệu ư? Nhưng nếu quý vị có huệ nhãn, sẽ có thể thấy rõ ràng. Nếu chẳng muốn làm quốc vương trên thế gian, quý vị có phúc báo to lớn ngần ấy, vãng sinh Tây Phương Cực Lạc thế giới là đi làm Phật, sẽ thành Phật. Công đức ấy quá lớn, chẳng có bất cứ công đức nào có thể sánh bằng!

Chúng ta xem tiếp đoạn dưới, trong Trí Độ Luận có nói: “Kim thị Thích Ca Văn Phật đắc đạo hậu, ngũ thập thất nhật tịch bất thuyết pháp” (Nay đức Thích Ca Văn Phật sau khi đắc đạo, trong 57 ngày yên lặng chẳng thuyết pháp). Sau khi thành đạo, đức Phật ngồi dưới cội cây to 57 ngày, chẳng nói câu nào. “Tự ngôn, ngã pháp thậm thâm, nan giải, nan tri, nhất thiết chúng sinh phược trước thế pháp, vô năng giải giả” (Tự nhủ: “Pháp của ta quá sâu, khó hiểu, khó biết, hết thảy chúng sinh bị trói buộc bởi pháp thế gian, không ai có thể hiểu được!”). Đối với người thế gian, “phược” (縛) là giống như quý vị bị dây thừng trói chặt, chẳng thể động đậy; “trước” (著) là chấp tướng. 2 từ này đều là tên gọi khác của phiền não. Tập khí phiền não quá sâu, mê mà bất giác, nên quý vị nghe chẳng hiểu lời Phật giảng, nghe mà chẳng có hứng thú. “Bất như mặc nhiên nhập Niết bàn lạc” (Chẳng thà lặng lẽ nhập trong niềm vui Niết bàn). Đây là lúc chẳng có ai thỉnh, Phật Thích Ca Mâu Ni nhập bát Niết bàn. “Thị thời chư Bồ tát cập Thích Đề Hoàn Nhân, Phạm Thiên vương, chư thiên, hợp chưởng kính lễ, thỉnh Phật vị chư chúng sinh sơ chuyển pháp luân. Phật thời mặc nhiên thọ thỉnh, đáo Ba La Nại Lộc lâm trung chuyển pháp luân” (Lúc bấy giờ, các vị Bồ tát và Thích Đề Hoàn Nhân, Phạm Thiên vương, chư thiên, chắp tay kính lễ, thỉnh Phật hãy vì chúng sinh mà chuyển pháp luân lần đầu tiên. Khi đó, đức Phật im lặng nhận lời thỉnh, đến rừng Lộc Uyển trong thành Ba La Nại chuyển pháp luân). Đó là giáo hóa 5 vị tỳ-kheo. Trong Đại Trí Độ Luận có ghi câu chuyện như vậy.

Thật ra, đức Phật ở trong định, giảng kinh Hoa Nghiêm 14 ngày, cũng có kinh nói là 21 ngày, trong định giảng kinh Hoa Nghiêm. 57 ngày, thì sau khi đã giảng xong kinh Hoa Nghiêm, chẳng có ai đến khải thỉnh. Đức Phật ngồi dưới cội cây suốt 57 ngày, trừ 3 lần 7 là 21 ngày ra, tối đa là đức Phật giảng kinh Hoa Nghiêm trong 21 ngày. Thời gian còn lại là chờ đợi, người thế gian mê hoặc, điên đảo, chẳng hay, chẳng biết, chờ đợi trời, người. Chư Bồ tát trông thấy, người Hoa gọi Thích Đề Hoàn Nhân là Ngọc Hoàng Đại Đế, vị này cũng trông thấy, Đại Phạm Thiên vương cũng thấy, kế đó là chư thiên. Chư thiên cõi Trời Tịnh Cư cũng thấy. Trong Thích Ca Phổ chép thiên chúng Tịnh Cư đến thỉnh pháp. Lúc đó, Phật Thích Ca Mâu Ni chấp thuận, im lặng là chấp thuận, chẳng cần phải nói. Nếu chẳng chấp thuận sẽ phải nói, không nói tức là chấp thuận, Ngài đến Lộc Dã Uyển. “Ba La Nại Lộc lâm trung”, chính là Lộc Dã Uyển, giáo hóa 5 tỳ-kheo.

Sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo, bắt đầu giáo hóa chúng sinh từ nơi đây. “Hựu Pháp Hoa kinh vân” (Lại nữa, kinh Pháp Hoa nói). Lão cư sĩ trích dẫn kinh luận rất nhiều, nên chúng ta đọc bản chú giải này cũng giống như đọc hơn 100 bộ kinh luận. Đây là chuyện tốt đẹp vô cùng hiếm có, khó gặp. [Cụ trích dẫn] tổng cộng 193 bộ kinh luận.

Tiếp theo đó là: “Hựu Pháp Hoa kinh vân: Nhĩ thời, chư Phạm Vương, cập chư thiên Đế Thích, hộ thế tứ thiên vương, cập Đại Tự Tại Thiên, tịnh chư dư thiên chúng, quyến thuộc bách thiên vạn, cung kính hợp chưởng lễ, thỉnh ngã chuyển pháp luân” (Lại nữa, kinh Pháp Hoa nói: “Lúc bấy giờ, các Phạm vương và chư thiên, Đế Thích, 4 vị thiên vương hộ thế và Đại Tự Tại Thiên, cùng các thiên chúng, quyến thuộc trăm ngàn vạn người, cung kính chắp tay lễ, thỉnh ta chuyển pháp luân”). Trong kinh Pháp Hoa, chính đức Phật tự nói, thuở Ngài thành đạo, loài người chẳng biết, phàm phu mắt thịt chẳng nhìn thấy, nhưng chư thiên trông thấy. Vì thế, các thiên vương trong 28 tầng trời, trừ Vô Sắc Giới Thiên ra, 18 tầng trời thuộc Sắc Giới và 6 tầng trời thuộc Dục Giới, đều dẫn quyến thuộc của chính mình và đại chúng tới khải thỉnh.

“Pháp luân”, lại giải thích chữ Pháp Luân, “Pháp, chỉ Phật giáo pháp. diễn thuyết Phật chi giáo pháp, xưng vi chuyển pháp luân” (Pháp: Chỉ giáo pháp của đức Phật. Diễn nói giáo pháp của Phật, thì gọi là “chuyển pháp luân”). Chúng ta hiểu rất rõ ý nghĩa của “chuyển pháp luân”. Thuở Phật Thích Ca Mâu Ni tại thế, thân hành, ngôn giáo nêu gương tốt nhất cho hết thảy chúng sinh, đó gọi là “chuyển pháp luân”. Chuyển (轉) là chuyển động. Pháp (法) là thân hành, ngôn giáo. Luân (輪) là tượng trưng sự viên mãn, tượng trưng cho sự rốt ráo. Tiếp đó, lại giải thích chữ Luân: “Luân giả, Chuyển Luân Thánh vương chi luân bảo, hồi chuyển tứ thiên hạ, triển tồi chư oán địch. Cố dĩ thí dụ Phật chi giáo pháp, diệc lưu chuyển nhất thiết chúng sinh giới, phá trừ chư phiền não” (Luân là luân bảo (bánh xe báu) của Chuyển Luân Thánh vương, xoay chuyển khắp tứ thiên hạ, nghiền nát các oán địch. Vì thế, dùng nó để sánh ví giáo pháp của Phật cũng lưu chuyển trong hết thảy chúng sinh giới, phá trừ các phiền não).

Luân là gì? Hiện thời, đại khái là trong nửa thế kỷ này, trong quá khứ cũng có, nhưng chẳng rõ rệt, trong nửa thế kỷ này thì vô cùng rõ rệt, thường nghe nói có người từ ngoài vũ trụ đến địa cầu chúng ta. Công cụ giao thông của họ là gì? Đĩa bay! Đĩa bay chẳng phải là Luân ư? Nó tròn trĩnh, đó là công cụ giao thông của họ. Khoa học kỹ thuật phát triển hơn chúng ta, nay chúng ta chế tạo máy bay nhưng chẳng có cách nào bay ra ngoài vũ trụ.

Quý vị thấy công cụ giao thông của họ tròn xoe, các nhà khoa học bảo hình tròn thích hợp nhất để phi hành. Tất cả hết thảy tinh cầu cũng đều là hình tròn, tốc độ phi hành trong vũ trụ cũng hết sức nhanh chóng. Vì thế, tôi cảm thấy luân bảo của Chuyển Luân Thánh vương như kinh đã nói, đại khái là đĩa bay! Chẳng phải là nhà vua đích thân đến, mà vua sai những binh lính cấp thấp đến các tinh cầu để tuần tra một lượt, xem xét tình hình. Vì sao? Đây là khu vực cai trị của vua, phải thường xuyên phái người đến đây tuần tra đôi chút. Vua thuộc về loài người, chẳng phải là thiên đạo. Nếu là thiên đạo, sẽ chẳng cần đến công cụ giao thông. Chư thiên có thần thông, chẳng cần tới công cụ giao thông. Chuyển Luân Thánh vương vẫn thuộc về nhân đạo. Trong nhân đạo chẳng có cách nào đột phá các chiều không gian và thời gian, nên nhất định phải có công cụ giao thông. Do đó, đĩa bay từ tinh cầu khác bay đến, chắc chắn thuộc về nhân đạo. Tôi học Phật nhiều năm như vậy, trong khi giảng kinh mới thấu hiểu điều này.

“Hồi chuyển tứ thiên hạ” (Xoay chuyển trong tứ thiên hạ). Tứ thiên hạ đều thuộc khu vực quản hạt của Chuyển Luân Thánh vương. Trong kinh nói Chuyển Luân Thánh vương có 4 loại, đẳng cấp khác nhau. Kinh Phật nói 4 loại ấy là Kim Luân Thánh vương, Ngân Luân Thánh vương, Đồng Luân Thánh vương, và Thiết Luân Thánh vương. Thiết Luân Thánh vương nhỏ nhất, cai quản một thiên hạ trong tứ thiên hạ, cai quản một phương. Tứ thiên hạ là Đông, Nam, Tây, Bắc, Thiết Luân Thánh vương cai quản một phương. Đồng Luân vương cai quản một nửa tứ thiên hạ, tức là cai quản 2 phương. Ngân Luân vương cai quản 3 phương. Kim Luân vương cai quản trọn hết.

Đó là 4 loại Chuyển Luân Thánh vương. Vật báu của Chuyển Luân Thánh vương là công cụ giao thông, các công cụ giao thông thuộc về nhà vua, nay chúng ta gọi là “không quân”, cũng thuộc loại vũ khí. Luân bảo của Chuyển Luân Thánh vương là vũ khí. Luân bảo có thể đến các nơi thuộc phạm vi của nhà vua, nhưng chẳng thể tới những nơi chẳng thuộc vào phạm vi của ông ta. Chỗ nào vua có thể tới bèn thuộc vào phạm vi của ông ta. Câu tiếp theo khiến cho chúng ta hiểu luân bảo là vũ khí: “Triểntồichưoán địch” (Nghiền nát các oán địch). Đó là vũ khí của ông ta. Dùng nó để tỷ dụ giáo pháp của đức Phật.

Hiện thời, chúng ta gọi giáo pháp của đức Phật là giáo dục của Phật Đà, mọi người bèn dễ hiểu. Giáo dục Phật Đà lưu chuyển trong hết thảy chúng sinh giới, giúp cho hết thảy chúng sinh đoạn phiền não, khai trí tuệ. Do vậy, đức Phật giảng kinh, thuyết pháp ví như Chuyển Luân Thánh vương đang chỉ huy, đang huy động luân bảo để tuần thị (tuần tra, xem xét) tứ thiên hạ. Tứ thiên hạ là mỗi tinh cầu. Ở đây, nếu dựa theo cách nói của lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ, chúng ta xem một đơn vị thế giới là một hệ Ngân hà. Phạm vi thống lãnh, quản hạt của Kim Luân Thánh vương là một hệ Ngân hà. Khu vực quản trị của vị Luân vương nhỏ nhất, tức Thiết Luân vương, cai quản một phần tư hệ Ngân hà.

Như vậy là công cụ giao thông của ông ta rất lợi hại, có thể trong một khoảng thời gian rất ngắn đã tuần tra trọn hết, quay về, hiểu rõ rệt tình hình. Loài người chúng ta trên địa cầu hiện nay làm càn, làm quấy, họ (các vị Chuyển Luân Thánh vương) điều tra rõ ràng, gây ra tai nạn cho chúng ta. Điều này, rất có thể là như vậy! Con người chẳng học điều tốt lành, không học điều thiện, có khả năng này! Nếu tâm chúng ta biến thành thiện, đoạn ác, tu thiện, tích công lũy đức, Luân vương sẽ ban thưởng, tặng thưởng chúng ta, chẳng đến trừng phạt. Nêu ra cách nhìn này để mọi người tham khảo!

“Pháp Hoa Văn Cú vân” (Sách Pháp Hoa Văn Cú nói). Đây là trước tác của Trí Giả Đại sư, là chú giải kinh Pháp Hoa, “chuyển Phật tâm trung hóa tha chi pháp, độ nhập tha tâm, danh chuyển pháp luân” (chuyển pháp hóa độ người khác từ trong tâm Phật vào tâm người khác nên gọi là chuyển pháp luân). Trí Giả Đại sư nói: Chuyển phương pháp giáo hóa chúng sinh, kể cả lý luận từ trong tâm Phật. Đây là dạy người khác, nếu kẻ ấy có thể tin, có thể hiểu, có thể thật sự thấu hiểu, biểu hiện trong cuộc sống hằng ngày, đó là thật sự “độ nhập tha tâm” (đưa vào tâm người khác), người thọ giáo đạt được lợi ích chân thật. Đó là “chuyển pháp luân”. Vì thế, giáo pháp của đức Phật được chia thành 4 giai đoạn là Tín, Giải, Hành, Chứng. Khi quý vị chẳng tin tưởng, bèn giúp cho quý vị sinh khởi lòng tin.

Trên thế giới hiện thời, tuy người tín ngưỡng Phật giáo chẳng nhiều lắm, ít hơn Cơ Đốc giáo và Y Tư Lan giáo, nhưng các tôn giáo khác đều tôn trọng Phật giáo, chúng ta thấy được điều này. Vì sao? Trong kinh điển nhà Phật có đạo lý. Những đạo lý ấy có thể thật sự giúp chúng ta giải quyết vấn đề. Phật pháp ở trong thế gian này, nêu gương, giúp đỡ hết thảy chúng sinh lìa khổ được vui, đó là giáo học của Phật pháp. Dạy điều gì? Dạy con người lìa khổ được vui. Khổ - vui là quả báo. Hiện thời, chúng sinh đang chịu khổ, đang mắc nạn, chẳng dễ sống! Nếu Phật pháp được thực hành rộng rãi, khôi phục như thời cổ, tự viện am đường thời cổ giảng kinh, giáo học, là giáo dục, chẳng phải là tôn giáo.

Từ xưa tới nay, đế vương trực tiếp chưởng quản nền giáo dục ấy, cao tăng đại đức đều được phong làm Quốc sư, giúp xã hội an định, giúp thế giới hài hòa. Thâu hẹp phạm vi, thì Phật pháp có thể giúp cho hết thảy chúng sinh thân tâm thanh tịnh, khỏe mạnh, sống lâu, gia đình hòa thuận, sự nghiệp thuận lợi, xã hội an tường, hòa bình, quốc thái dân an. Quý vị có thể nói Phật pháp chẳng có cống hiến gì hay sao? Do vậy, lịch đại đế vương đều quy y Tam Bảo, chẳng có ai không nghiêm túc học tập. Đại khái những kẻ chẳng nghiêm túc học tập là các đời đế vương cuối cùng trong mỗi triều đại. Do họ chẳng nghiêm túc học tập, nên quốc gia bị diệt vong trong tay họ. Từ lịch sử Trung Quốc, quý vị thấy rõ ràng, minh bạch chuyện như vậy.

Chúng ta lại xem phần trích dẫn kế tiếp: “Gia Tường sư vân: Tự ngã chí bỉ, cố xưng vi Chuyển” (Ngài Gia Tường nói: “Từ ta đưa tới người khác nên gọi là Chuyển”). “Ta” ở đây là Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật Thích Ca Mâu Ni dạy bảo. Bỉ (kẻ khác) là người tiếp nhận, kẻ thọ giáo học và hiểu. Đức Phật truyền cho mọi người, mọi người đều học, thấu hiểu; do vậy, Chuyển mang ý nghĩa dạy bảo và truyền lại. “Hựu, Thám Huyền Ký giải pháp luân viết” (Lại nữa, sách Thám Huyền Ký giải thích Pháp Luân như sau). Thám Huyền Ký là chú giải kinh Hoa Nghiêm, do Tổ sư đời thứ 3 của tông Hoa Nghiêm là Hiền Thủ Quốc sư soạn. Ngài là thầy của Ngài Thanh Lương, đã giải thích Pháp Luân như sau: “Pháp thị quỹ trì nghĩa” (Pháp có nghĩa là giữ cho đúng với khuôn khổ). Quỹ (軌) là quỹ đạo, nay chúng ta nói là nguyên lý, nguyên tắc. Trì (持) là bảo trì (gìn giữ), ắt phải tuân thủ những nguyên lý, nguyên tắc ấy, chẳng thể vi phạm. Hễ vi phạm, quý vị sẽ bị phiền phức.

Những nguyên lý, nguyên tắc ấy giống như gì? Giống như chân lý, quý vị chẳng thể vi phạm, nên gọi là quỹ đạo (đường lối, khuôn khổ nhất định). “Thông hữu tứ nghĩa, vị Giáo, Lý, Hành, Quả” (Nói chung, có 4 nghĩa là Giáo, Lý, Hành, Quả). Giáo là giáo học, nói theo hiện thời, chú trọng sách giáo khoa. Kinh bổn này là Giáo, tức sách giáo khoa. Trong sách giáo khoa có Lý, tức là có đạo lý. Nếu chẳng có Lý, sẽ chẳng có Hành, chẳng có Quả, thì Giáo ấy chẳng phải là chính giáo, đương nhiên càng chẳng thể nói là thánh giáo được!

Trong thánh giáo, nội dung nhất định gồm có Lý, Hành, Quả, đó là nội dung của nó. Vì thế, nó có đạo lý trong ấy. Đạo lý ấy, nay được gọi là triết học và khoa học. Thật sự có! Không chỉ có, mà còn là rốt ráo viên mãn, điều này rất khó có. Tiên sinh Phương Đông Mỹ nói là triết học cao cấp. Hành là phương pháp. Những đạo lý này được áp dụng như thế nào trong cuộc sống, công việc, xử sự, đãi người, tiếp vật, đó là hành. Lý nếu chẳng thể hành, sẽ biến thành huyền học; làm chẳng được, thì chẳng đạt được lợi ích chân thật. Đạt được lợi ích chân thật, thì phải hành. Tiếp đó, Quả là quả báo. Quả báo thù thắng khôn sánh, chẳng hạn như tôi vừa mới nói, thân tâm khỏe mạnh, gia đình hạnh phúc, sự nghiệp thuận lợi, quả báo ấy mở rộng thành xã hội hài hòa, thiên hạ thái bình, quả báo như vậy đó! Đối với sự tu hành chứng quả của quý vị mà nói, quý vị thành A La Hán, chứng đắc Bồ tát, chứng đắc quả vị Phật, đó là pháp. Do vậy, pháp có giáo pháp, lý pháp, hành pháp, quả pháp, có 4 loại ấy, giảng rất tỉ mỉ.

“Luân thị sở thành” (Luân là cái được hoàn thành bởi pháp). Luân tượng trưng cho sự thành tựu, thành tựu viên mãn. Nó cũng có 4 ý nghĩa:

1) Thứ nhất là viên mãn. “Dĩ ly khuyết giảm cố” (Do lìa khuyết giảm), chẳng có khuyết giảm, nó là viên mãn. Luân (輪) là bánh xe. Bánh xe thời cổ là bánh xe ngựa. Cụ Hoàng nêu lên tỷ dụ này, nó có hình tròn. Hình tròn tượng trưng cho viên mãn. Nói theo hình tròn trong hình học hiện thời, nó có viên chu (circumference, chu vi đường tròn, độ dài đường tròn) và viên tâm (tâm hình tròn). Đó là hình tròn theo hình học hiện thời. Do vậy, Phật pháp dùng hình tròn làm tiêu chí (logo), ý nghĩa này rất sâu! Đường tròn là có, là động, tâm hình tròn là không, trống không. Trong hình học, chẳng tìm được một điểm, nhưng “điểm” có hay không? Khẳng định là có. “Điểm” có hình dạng như thế nào? Không có hình tướng, nó là một khái niệm trừu tượng(1), thật sự có, nhưng thứ gì cũng chẳng có, điều này tuyệt lắm! Vì thế, đức Phật dùng pháp luân làm biểu hiệu, làm tiêu chí, sử dụng ý nghĩa ấy, chỉ có hình vẽ ấy mới có thể biểu thị ý nghĩa “Không và Có bất nhị”. Nó biểu trưng ý nghĩa viên mãn.

2) Thứ hai là “cụ đức” (trọn đủ các đức). Bánh xe có trục, tức là có tâm, chúng ta gọi nó là “cốc lộc” (轂轆: trục bánh xe, tâm bánh xe). Nó có căm xe, căm xe phát xuất từ chính giữa bánh xe. Bánh xe có rất nhiều căm tõe ra, những cái đó được gọi là “bức” (輻: căm xe). Bên ngoài, võng (輞: vành bánh xe) là phần bao quanh, bọc ngoài bánh xe là vành bánh xe. Đó là ý nghĩa “cụ đức”. “Cụ đức” có nghĩa là chẳng thiếu thứ gì. “Tất giai cụ cố” (Do thảy đều có). Thứ gì cũng trọn đủ, thì hình tướng bánh xe mới viên mãn.

3) Thứ ba là “hữu dụng, tồi triển hoặc chướng cố” (do có công dụng nghiền nát hoặc chướng). Áp dụng vào Phật pháp, thì Phật pháp có thể nghiền nát, trừ sạch mê hoặc, nghiệp chướng. Dùng Phật pháp để giúp chúng sinh đoạn phiền não, khai trí tuệ, bỏ mê hoặc, bỏ phiền não, chướng ngại, mang ý nghĩa này.

4) Thứ tư là “chuyển động chi nghĩa” (nghĩa là chuyển động). Trong thế gian hiện thời, toàn thể khoa học đều phải cậy vào bánh xe chuyển động. Nếu bánh xe không xoay chuyển, cái gì cũng chẳng có. Tác dụng lớn nhất của bánh xe là chuyển động. “Vị tùng thử hướng bỉ, tức tùng Phật chí chúng sinh, diệc tùng bỉ hướng thử, tức tùng chúng sinh chí Phật quả” (Ý nói từ đây hướng đến kia, tức là từ Phật đến chúng sinh, mà cũng từ kia hướng đến đây, tức là từ chúng sinh hướng đến Phật). Đó là chuyển động. Đức Phật dạy chúng ta, chúng ta có thể Tín, Giải, Hành, Chứng, đến cuối cùng, chúng ta thành Phật. Ngài dạy chúng ta là Ngài đến với chúng ta ở nơi đây. Sau khi chúng ta thành Phật là chúng ta trở về chốn Phật ngự, chúng sinh và Phật bất nhị. 2 câu này là “thỉnh pháp”, tức thỉnh chuyển pháp luân.

Chúng ta lại xem 2 câu kế đó, “Thường dĩ pháp âm. Giác chư thế gian” (Thường dùng pháp âm. Giác ngộ các thế gian). Bắt đầu từ câu này. “Tùng thử cú hạ” (từ câu này trở đi) mãi cho đến trước câu “ư thử trung hạ, nhi hiện diệt độ” (trong hàng trung, hạ căn, thị hiện diệt độ) đều là tướng thứ 7, tức tướng chuyển pháp luân, đều nói về điều này. Mãi cho đến cuối phẩm, toàn là nói về những hình tích giáo hóa chúng sinh của Phật Thích Ca Mâu Ni trong suốt một đời trên thế gian này.

Câu này, tức câu “Thường dĩ pháp âm, giác chư thế gian”, là nói tổng quát. Đối với “pháp âm”, chúng ta hãy nhớ lời giải thích của Hiền Thủ Quốc sư, bao gồm giáo pháp, lý pháp, hành pháp, quả pháp. Đó là nói theo giáo pháp Đại thừa. Nói nhiều cách mấy vẫn chẳng ra ngoài 4 loại lớn ấy. Giới thiệu Phật A Di Đà và Tây Phương Cực Lạc thế giới với chúng ta, đó là quả pháp, mong sao chúng ta sau khi hiểu rõ sẽ thật sự tu hành chứng quả, sự giáo học của đức Phật mới xem như viên mãn, mới thật sự được kể là đã đạt đến mục đích. 2 câu này là cương yếu tổng quát trong giáo học, chúng ta hãy đọc lời giải thích kế đó.

“Pháp âm giả, quảng chỉ Như Lai giáo pháp, bất cục hạn ư ngôn ngữ, thanh âm” (Pháp âm, nói theo nghĩa rộng là giáo pháp của Như Lai, chẳng hạn cuộc trong ngôn ngữ hay thanh âm), vì nhất cử nhất động của đức Phật đều là thuyết pháp, khiến cho người khác khai ngộ.

Ở đây nói rất hay, “Cái Thế Tôn thuyết pháp, nãi trần thuyết, sát thuyết, xí nhiên thuyết, vô gián thuyết, thuyết thời thuyết, mặc thời diệc thuyết. Bất đản hữu tình thuyết, vô tình diệc thuyết. Cố bất nghi dĩ pháp âm hạn ư Thế Tôn chi ngôn giáo dã” (Bởi lẽ, đức Thế Tôn thuyết pháp chính là vi trần nói, cõi nước nói, nói hừng hực, nói chẳng gián đoạn, lúc nói bèn là nói, mà khi im lặng cũng là nói. Không chỉ là hữu tình nói, mà vô tình cũng nói. Vì vậy, chớ nên hạn cuộc pháp âm trong vòng ngôn giáo của đức Thế Tôn). Phải hiểu ý nghĩa này. Trong quá khứ, chúng tôi học tập những câu kinh văn như thế này rất hoang mang, thường nghĩ “trần thuyết, sát thuyết” đều là tỷ dụ, chúng tôi luôn hiểu như vậy. Hiện thời, chúng tôi đã hiểu rõ, đối tượng giáo học của đức Thế Tôn không chỉ là nhân gian. Tuy đức Phật thị hiện trong nhân gian, nhưng phạm vi giáo học của Ngài vẫn là khắp pháp giới hư không giới. Trần là thứ nhỏ bé nhất.

Nay, chúng ta biết một vi trần theo như kinh Hoa Nghiêm đã dạy, trong một vi trần có tin tức của khắp pháp giới hư không giới. Nó giống một đài thâu phát, có thể phát ra tin tức, và cũng có thể thâu thập tin tức trong các vi trần thuộc khắp pháp giới hư không giới, giống như mạng lưới điện tử. “Trần thuyết”  là như vậy đó! Lợi ích loài chúng sinh nào? Trong một vi trần có thế giới, thế giới ấy chẳng hai, chẳng khác đại thế giới bên ngoài của chúng ta. Trong thế giới ấy có Phật, có Bồ tát, có hết thảy chúng sinh. Đối với một vi trần, một lỗ chân lông của Phật, đem các tin tức truyền vào đó, chúng sinh trong thế giới ở trong một vi trần sau khi tiếp nhận cũng có thể khai ngộ, cũng có thể thành Phật, cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn! Vi trần nhỏ nhất, cõi nước lớn nhất, nay chúng ta nói tới “trần” là nói thế giới vi mô, “sát” (cõi nước) là thế giới vĩ mô. Các nhà vật lý học hiện thời phát triển theo hai hướng, một là chuyên nghiên cứu vật lý vũ trụ, hai là nghiên cứu cái nhỏ nhất tức là vi trần, tức Lượng tử lực học. Phát triển theo hai cực này, đều có thành tựu khá đáng kể. Nay, chúng tôi mới hiểu “trần thuyết” và “sát thuyết” như trong kinh Phật nói là chuyện như thế nào!

“Xí nhiên thuyết” (Đức Phật rất nhiệt tâm thuyết pháp), rất từ bi, chẳng hề mệt mỏi. Kinh Hoa Nghiêm nói “Vô hữu bì yếm” (Chẳng hề mệt nhọc, chán ngán). Chẳng chán ngán, chẳng mỏi mệt, chỉ cốt sao giúp cho chúng sinh giác ngộ. Chúng sinh giác ngộ bèn lìa khổ. Khổ do mê hoặc mà có. Đã giác ngộ sẽ không mê nữa. Khởi tâm động niệm, ngôn ngữ lẫn tạo tác đều chính đáng, bèn lìa khổ, chẳng có tai nạn nữa. Hết thảy các pháp đúng là sinh từ tâm tưởng, chuyện này chỉ có đức Phật hiểu rõ ràng, rành rẽ. Nếu chúng ta chẳng huân tập nhiều năm như thế, cũng rất khó tiếp nhận. Hiện tại, càng khó có là các nhà khoa học đã chứng tỏ thế giới vĩ mô như trong kinh Phật đã nói (trọn khắp pháp giới hư không giới) và thế giới vi mô (Lượng tử lực học) đều được chứng tỏ là thật, chẳng giả. Đối với chúng ta, chuyện này hết sức đáng hoan hỷ.

“Vô gián thuyết” (Đức Phật thuyết pháp chẳng gián đoạn). Khi Ngài ngủ, có thuyết hay không? Thuyết! Thuyết bằng cách nào? Khi ngủ, trong kinh đức Phật đã dạy, nơi Chính báo của chúng ta, một sợi lông, hoặc cái nhỏ nhất trong Chính báo là tế bào, mỗi tế bào hoặc một sợi lông lan truyền tin tức ấy khắp pháp giới. Sách Hoàn Nguyên Quán nói sự dao động của một vi trần hoặc của một sợi lông sẽ trọn khắp pháp giới, xuất sinh vô tận, hàm chứa Có và Không. Lẽ nào chẳng nói? Có khi nào ngưng nghỉ? Chưa hề ngưng nghỉ. Vì thế, chẳng hạn cuộc nơi ngôn ngữ.

“Thuyết thời thuyết”: Phật Thích Ca Mâu Ni giảng kinh, thuyết pháp, đó là khi nói năng, Ngài bèn thuyết pháp.

“Mặc thời diệc thuyết” (Khi không nói, thì Ngài vẫn đang thuyết pháp). Đối tượng chẳng phải là chúng ta. Đối tượng nghe pháp thuộc chiều không gian khác nhau, cũng có thể nói là từ nhỏ như thế giới trong một vi trần, cho đến lớn như các cõi Phật trong mười phương. Trong thực tại, giống như chúng ta hiện thời, nay chúng ta đang học tập kinh giáo, người nghe tại giảng đường chẳng nhiều, chúng ta lợi dụng mạng Internet để cùng lúc phát ra, người trên cả thế giới chỉ cần có máy computer, biết địa chỉ trang web của chúng ta, bèn đều có thể tiếp nhận. Đạo lý là như vậy đó. Phật Thích Ca Mâu Ni trần thuyết, sát thuyết, chúng sinh thuộc thế giới trong một vi trần đều nhận được, các thế giới trong các cõi Phật cũng nhận được, khắp pháp giới hư không giới chẳng có chỗ nào không nhận được.

“Bất đản hữu tình thuyết, vô tình diệc thuyết” (Không chỉ nói cho hữu tình mà cũng nói cho vô tình), chúng ta vừa nói tới điều này. Vì sao? Xứng tính! Tính đức tự nhiên lưu lộ, tự nhiên phát huy. Trong vi trần có nói hay không? Nói! Ai nói? Trong đó có Phật Thích Ca Mâu Ni, mà cũng có Phật A Di Đà, vô lượng vô biên chư Phật đều ở trong một vi trần, các Ngài thuyết pháp chẳng gián đoạn. Ai có thể nghe? Kẻ có duyên sẽ nghe, Phật pháp chẳng lìa khỏi nhân duyên. Giống như thế giới vĩ mô và thế giới vi mô, người như thế nào sẽ có duyên? Người tâm thanh tịnh sẽ có duyên, người tâm bình đẳng sẽ có duyên. Nếu người ấy khai ngộ, minh tâm kiến tính, duyên thật sự trọn đủ. Trong trạng huống ấy, chẳng cần thời gian rất dài. Đối với các phương pháp do mười phương ba đời hết thảy chư Phật đã nói, người ấy sẽ viên mãn trong khoảng sát-na. Chúng ta có lý do để tin tưởng, chẳng hoài nghi điều này.

Tiếp đó, lại giải thích từ “thế gian”: “Giác chư thế gian” là đối tượng. “Thường dĩ pháp âm” là Phật. Phật giáo hóa chúng sinh. “Giác chư thế gian” là nói tới đối tượng. “Thế gian giả, La Thập Đại sư viết: Thế gian giả, tam giới dã” (“Thế gian”: La Thập Đại sư giảng: “Thế gian là tam giới”). Nói tới tam giới thì rất gần: Dục giới, Sắc giới, Vô Sắc giới, nói thực tại là lục đạo; vì thế, tam giới lục đạo thường được nói gộp chung lại. Từ Dục Giới Thiên trở xuống, Dục giới có 6 tầng trời, phía dưới là Nhân đạo. Dưới Nhân đạo là Súc sinh đạo, Ngạ quỷ đạo, Địa ngục đạo, đều thuộc về Dục giới. Chúng sinh ở trong đó có quá nhiều dục vọng. Dục vọng là phiền não, là cội nguồn tạo tác hết thảy tội nghiệp. Lên cao hơn là Sắc Giới Thiên. Sắc Giới Thiên có hình sắc, nhưng chẳng có dục vọng; vì thế, rõ ràng là họ thanh tịnh hơn chúng ta; dục vọng đối với sắc, danh vọng, ăn uống, ngủ nghê đều không có. Họ vẫn có tham, sân, si, mạn, nghi, nhưng rất nhẹ ít, hoàn toàn chưa đoạn, nhưng đã buông toàn bộ hoàn cảnh bên ngoài xuống, nên tâm họ thanh tịnh. Kế đó, sách còn viết: “TứcDục giới, Sắc giới, Vô Sắc giới dã” (Tức là Dục giới, Sắc giới, Vô Sắc giới), chính là tam giới.

“Thế Tôn thọ thỉnh hậu” (Đức Thế Tôn sau khi được thỉnh), chúng ta phải hiểu người thỉnh pháp là những người thuộc thiên đạo, có địa vị cao cả trong thiên đạo, chẳng phải là thiên chúng bình phàm! Họ thấy Phật Thích Ca Mâu Ni thị hiện thành Phật, nên đến thỉnh pháp. Vậy thì chúng ta biết thời gian Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp cho họ sẽ lâu dài, thời gian thuyết pháp cho nhân gian chúng ta ít ỏi, chắc chắn là như vậy! Người ta là người khải thỉnh, đương nhiên chiếu cố nhiều hơn một tí, chúng ta giống như nghe ké, vì chẳng khải thỉnh. Chúng ta hưởng phúc của chư thiên, họ khải thỉnh, chúng ta hưởng lây. Đạo lý là như vậy. Vì thế, “Quảng diễn nhất đại: Đại, Tiểu, Quyền, Thật, Thiên, Viên chư pháp” (Rộng diễn các pháp Đại, Tiểu, Quyền, Thật, Thiên, Viên trong một đời giáo hóa của đức Phật). Một câu này đại diện hết thảy các pháp do Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói trong 49 năm, chúng ta không dễ gì lãnh hội, phạm vi quá rộng lớn.

Quý vị nghĩ xem: Lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ bảo chúng tôi, theo vũ trụ quan Phật giáo, một đơn vị thế giới là một hệ Ngân hà, đó là một đơn vị thế giới. Một ngàn đơn vị thế giới hợp thành một tinh hệ, gọi là tiểu thiên thế giới. Tiểu thiên thế giới là một ngàn hệ Ngân hà. Lại lấy tiểu thiên thế giới làm đơn vị, một ngàn tiểu thiên thế giới gọi là một trung thiên thế giới; lại lấy trung thiên thế giới làm đơn vị, một ngàn trung thiên thế giới gọi là một đại thiên thế giới.

Phạm vi to như thế là giáo khu của một vị Phật, tức là khu vực giáo hóa của Ngài. Tính ra là bao nhiêu hệ Ngân hà? Mười ức hệ Ngân hà, đó là giáo khu của Phật Thích Ca Mâu Ni, to dường ấy. Ngài thuyết pháp ở bất cứ chỗ nào, giống như hiện thời chúng ta dùng vô tuyến điện để phát sóng, toàn cầu đều có thể thu được. Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp, toàn thể đại thiên thế giới, toàn bộ chúng sinh trong mười ức hệ Ngân hà đều thu được. Có thể hay không? Có thể! Trong quá khứ, chúng ta nghe như vậy bèn hoài nghi, khoa học hiện tại đã chứng tỏ, sách Hoàn Nguyên Quán của Hiền Thủ Quốc sư đã giảng rõ ràng, tốc độ ấy rất lớn, chẳng phải là tốc độ ánh sáng hay tốc độ vô tuyến điện mà hòng sánh được, những tốc độ ấy quá nhỏ!

Sách Hoàn Nguyên Quán cho biết, bất luận là hiện tượng vật chất hay hiện tượng tinh thần, toàn bộ đều là hiện tượng dao động. Chỉ cần sự dao động ấy vừa động, sẽ trọn khắp pháp giới hư không giới. Ba thứ dao động, thì thứ nhất là trọn khắp pháp giới. Vừa mới động, tin tức bèn truyền đạt trọn khắp pháp giới. Vẫn chưa phải là lớn, vẫn là rất nhỏ, giáo khu của một vị Phật chỉ là mười ức hệ Ngân hà. Có phải chỉ là mười ức hệ Ngân hà hay chăng? Không chỉ như vậy. Hệ Ngân hà là giáo khu của Phật Thích Ca Mâu Ni. Trừ giáo khu của Phật Thích Ca Mâu Ni ra, khắp pháp giới hư không giới đều thu được. Giống như chúng tôi dạy học nơi đây, trung tâm này là phạm vi của chúng tôi, giống như tam thiên đại thiên thế giới của Phật Thích Ca Mâu Ni, nhưng chúng ta dùng Internet, trừ khu vực này của chính mình ra, quý vị đều có thể nhìn, đều có thể thu được, toàn thể địa cầu cũng đều có thể thu được.

Do vậy, chư Phật, Bồ tát giáo hóa chúng sinh chẳng thể nghĩ bàn, các cõi Phật trong tam giới khắp mười phương thảy đều chịu ân. Rộng diễn giáo pháp trong một đời đức Phật như giáo pháp Đại thừa, giáo pháp Tiểu thừa, Quyền giáo (giáo pháp phương tiện thiện xảo), Thật giáo (giáo pháp minh tâm kiến tính), Thiên giáo (偏教: giáo pháp có cục hạn, cục bộ), Viên giáo là giáo pháp viên mãn. Mấy từ này tượng trưng cho pháp luân viên mãn được nói bởi chư Phật Như Lai. Mục đích ở chỗ nào? “Giác tỉnh tam thế nhất thiết chúng sinh” (Giác ngộ, thức tỉnh hết thảy chúng sinh trong ba đời), nhằm mục đích giúp đỡ chúng sinh giác ngộ, giúp chúng sinh tỉnh mộng, vì quý vị đang nằm mộng trong tam giới. Tam giới là lục đạo, lục đạo là tam giới; do vậy, phạm vi của tam giới to cỡ nào? Mười ức hệ Ngân hà!

“Cố viết: Thường dĩ pháp âm, giác chư thế gian. Thử thị chuyển pháp luân chi tổng tướng” (Nên nói: “Thường dùng pháp âm giác ngộ các thế gian”. Đây là tổng tướng chuyển pháp luân). Từ đây trở đi, tức là từ câu “Phá phiền não thành” trở đi là biệt tướng của chuyển pháp luân. 2 câu này (tức câu “Thường dĩ pháp âm. Giác chư thế gian”) là nói tổng quát. Nếu có người hỏi chúng ta, Phật Thích Ca Mâu Ni suốt đời giảng gì? Quý vị có thể dùng 4 từ này để trả lời: “Giác chư thế gian”, chẳng sai tí nào! Ngài giúp cho hết thảy thế gian giác ngộ. Cũng có thể nói Phật Thích Ca Mâu Ni giảng giải suốt đời nhằm dạy chúng ta làm thế nào lìa khổ được vui. Nói cách này, mọi người rất dễ hiểu: Đức Phật thuyết pháp cả đời nhằm dạy chúng ta làm thế nào để lìa khổ được vui. Khổ do đâu mà có? Khổ do mê mà có. Lạc do đâu mà có? Lạc do giác mà có. Chỉ cần quý vị phá mê, giác ngộ, sẽ lìa khổ, được vui, thật sự đạt được. Do vậy, khổ - vui trọn chẳng liên quan đến nghèo giàu, sang hèn. Kẻ nghèo hèn sống cả đời sung sướng, quý vị thấy kẻ ấy hạnh phúc lắm, viên mãn lắm. Đó là Phật pháp, quý vị học Phật. Vì sao phải học Phật? Do ta muốn vui sướng, nên mới học Phật. Đều là thật, chẳng giả tí nào!

 


[1] Trong hình học, điểm (point) được xem là một khái niệm cơ bản để xây dựng các khái niệm khác, nó thường được xem là có mọi chiều kích thước đều bằng zero. Đường (line) được định nghĩa là tập hợp nhiều điểm.

Bình luận bài viết

    Tin sinh hoạt phật sự

    Video bài giảng

    Pháp âm

    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 106)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Tú Trinh
    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 105)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Tú Trinh
    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 104)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Tú Trinh
    Pháp âm khác >>

    Thống kê truy cập

    • Online: 11
    • Số lượt truy cập : 10631633