TỊNH ĐỘ ĐẠI KINH GIẢI DIỄN NGHĨA - TẬP 137

Chủ giảng: LÃO PHÁP SƯ TỊNH KHÔNG
*****
Trưởng ban biên dịch:
TK. Thích Đồng Bổn
QUYỂN 14
(Tập 131 – 140)
TẬP 137
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa
Giảo duyệt: Huệ Trang và Đức Phong
Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin xem tiếp Đại thừa Vô Lượng Thọ Kinh Giải, trang 155, xem từ hàng thứ 5.
“Ư chư chúng sinh. Thị nhược tự kỷ” (Đối với các chúng sinh. Coi như chính mình). 2 câu này là kinh văn. Kế đó là lời chú giải: “Biểu đồng thể chi bi. Nhân sở bảo ái, mạc quá tự thân. Linh thị chúng sinh như đồng tự kỷ, cố năng cứu độ quần sanh tâm bất tạm xả” (Biểu thị lòng đồng thể đại bi. Cái được người đời yêu mến nhất không gì bằng thân mình. Vì xem chúng sinh như thân mình, nên có thể chẳng tạm bỏ cái tâm cứu độ quần sanh).
Chúng ta xem đoạn này, đây là tâm thái lợi tha của Bồ tát, chúng ta phải nên học tập. Thấy hết thảy chúng sinh và chính mình là cùng một Thể, cùng một tự tính, cùng một Pháp thân, cùng một thanh tịnh viên minh thể, sự thừa nhận này vô cùng trọng yếu. Vì sao? Đấy chính là “Phật tri Phật kiến” như kinh Pháp Hoa đã nói. Thật vậy, chẳng giả, tất cả hết thảy hiện tướng (hình tướng được biến hiện) trong khắp pháp giới hư không giới chẳng thật, giả trất, chỉ có sự thừa nhận này là thật. Nếu quý vị đã thật sự nhận biết, xin chúc mừng quý vị, quý vị đã minh tâm kiến tính, đã thành Phật.
Nay, chúng ta tập khí phiền não rất nặng, xác thực là biết chính mình đang thuộc địa vị phàm phu, có giải ngộ, nhưng chẳng chứng ngộ, đã biết cách tu hành như thế nào, nhưng công phu chẳng đắc lực. Vì sao không đắc lực? Không buông phiền não tập khí xuống được! Câu này nói dễ dàng, làm thật khó khăn! Vì chẳng buông tự tư, tự lợi xuống được, chẳng buông tiếng tăm, lợi dưỡng xuống được, chẳng buông lòng tham luyến ngũ dục, lục trần xuống được, chẳng buông tham, sân, si, mạn xuống được. Tu hành thời cổ dễ hơn hiện thời. Vì sao? Căn cội luân lý, đạo đức, nhân quả đã được vun trồng sâu chắc từ bé, có thể nói: Người nào trong xã hội cũng đều là người tốt. Vì sao? Giáo dục thuở ấy là giáo dục vun bồi căn cội, ai nấy đều được học. Chuyện này, chẳng dính dáng gì đến biết chữ hay không, mà cũng chẳng dính dáng đến chuyện có đi học hay không!
Từ lúc được sanh ra, cha mẹ, người lớn trong nhà luôn biểu diễn trước mặt quý vị những điều ngay thẳng, chẳng có gì sai trái. Vì thế, từ nhỏ đã được học kỹ lưỡng. Xã hội thuần phác, chẳng có nhiều thứ dụ dỗ, mê hoặc như trong hiện tại, đều rất thật thà, đều khiến cho mọi người thành thật, bền vững, nên tu hành dễ dàng. Trong xã hội hiện thời, tu hành hết sức khó khăn, trong tâm có tham, sân, si, mạn, nghi. Đây là những cội rễ phiền não, tập khí nghiêm trọng hơn bất cứ những điều nào khác. Phật pháp sánh ví những phiền não ấy như 5 cội rễ của địa ngục. Tham, sân, si, mạn, nghi là 5 cội rễ của địa ngục. Trong tập khí thì có oán, hận, não, nộ, phiền. Bên ngoài thì có tài, sắc, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ dụ dỗ, mê hoặc. Nói gộp lại, sẽ là “ma chưởng” (bàn tay ma), quý vị có thể nhảy ra khỏi bàn tay ma ấy hay chăng? Nếu chúng ta chẳng học tập kinh giáo hằng ngày, thời thời khắc khắc đề cao cảnh giác, một chút công phu bé tẹo ngần ấy còn chẳng thể giữ được, nói chi đến tăng tiến? Vì thế, nhận biết đồng thể đại bi vô cùng quan trọng! Chúng sinh và ta có cùng một Thể. Biết là một Thể, điều này được gọi là luân lý, tức là luân lý trong nhà Phật. Đạo gia cũng nói: “Trời đất và ta cùng một căn. Vạn vật và ta cùng một Thể”. Đó là luân lý của Đạo gia.
Kế đó, cụ Hoàng nói: “Nhân sở bảo ái, mạc quá tự thân”, nghĩa là cái được con người yêu mến nhất là thân thể của chính mình. Nay, thấy hết thảy chúng sinh và chính mình là một Thể, chẳng khác gì nhau! Thân thể chúng ta chẳng khỏe mạnh, không thoải mái, chắc chắn là thời thời khắc khắc luôn nghĩ tới, thời thời khắc khắc mong được chữa lành, khôi phục sức khỏe nhanh hơn một chút. Trong xã hội hiện thời, bao nhiêu người đánh mất sức khỏe, nhất là sức khỏe nơi phương diện tinh thần. Đánh mất như thế nào? Do mê hoặc tự tính bèn đánh mất. Phật, Bồ tát từ bi, đến giúp đỡ chúng ta, giúp chúng ta trị lành. Các Ngài dùng phương pháp gì? Giáo học, phá mê khai ngộ, đó là cứu độ hết thảy chúng sinh. Đã giác ngộ, thì đều là Phật, đều là Bồ tát. Hễ mê hoặc, thì là chúng sinh.
Chúng sinh khó thành Phật dường ấy, vấn đề ở chỗ chẳng thể triệt để buông tiếng tăm, lợi dưỡng xuống, khởi tâm động niệm chẳng lìa khỏi tiếng tăm, lợi dưỡng. Có thể nhạt hơn người khác một chút thì được, nhưng mức độ đậm nhạt hết sức bất ổn định! Nhìn bề ngoài có vẻ khá nhạt nhẽo, nhưng hễ danh lợi vừa hiện tiền, ngay lập tức nảy sinh biến hóa, chẳng thể giữ được! Do nguyên nhân nào?
Nay, chúng tôi kể như đã hiểu: Do chẳng có căn cội! Chúng ta tu hành mà chẳng có căn cội, nên mới có hiện tượng này. Làm sao để có thể giống như bị vua Ca Lợi cắt chặt thân thể mà vẫn chẳng động tâm, thì mới có thể thành tựu. Chẳng có mảy may hoài nghi, chẳng có mảy may ích kỷ, chẳng có mảy may ganh tỵ nào! Vì sao? Hết thảy chúng sinh và ta là một, không hai. Người khác là chính mình. Người khác chiếm được một chút tiện nghi của ta, ta chẳng oán hận, mà mang lòng hoan hỷ. Đó là Bồ tát, chẳng phải là phàm nhân. Người khác hủy báng, tổn hại, hãm hại ta, ta vẫn hoan hỷ, chẳng có mảy may oán hận. Vì sao? Những người ấy đến giúp ta nâng cao cảnh giới của chính mình, đến khảo nghiệm chính mình. Đúng là một Thể, ta mong giúp họ tăng cao cảnh giới, họ cũng thường tăng cao cảnh giới của ta, bất luận là hữu ý hay vô ý. Có khi làm quá lố, nhưng nếu quý vị là người tu hành thật sự, sẽ chẳng cảm thấy kẻ đó quá lố, mà còn cảm thấy kẻ ấy làm chưa đủ.
Do đó, trong cảnh giới chân, vọng, tà, chánh, đúng, sai, thiện, ác, thảy đều chẳng tồn tại. Một bầu thanh tịnh, bình đẳng, giác, chân tâm hoàn toàn hiển lộ. Nếu vẫn là chưa buông tự tư tự lợi xuống, chưa buông tiếng tăm, lợi dưỡng xuống, cái này nhìn cũng không quen, cái kia nhìn cũng chẳng quen, vậy là tu uổng công mất rồi, mảy may tăng trưởng hay tiến bộ đều chẳng có! Trên thế gian, tối đa là quý vị tăng trưởng một chút học vấn do hỏi han, ghi nhớ, nhưng sau đó, phải thêm một câu “Chẳng đáng làm thầy người khác”. Quý vị học được một chút kiến thức Phật pháp thông thường bề ngoài, chẳng học được Phật pháp thật sự!
Lục Tổ Huệ Năng Đại sư đã nói rất hay: “Phật pháp thật sự chẳng liên quan đến văn tự, ngôn thuyết”. Nói theo cách hiện thời, học Phật hoàn toàn là chuyển biến tâm thái, quay tâm thái trở về. Người xưa đã nói rất hay: “Con người tánh vốn lành”, trở về cái bản thiện là tu hành thật sự. Công phu ấy được gọi là thật sự đắc lực. Trong giáo pháp Đại thừa, đức Phật có nói: Hết thảy chúng sinh đều do tâm hiện, thức biến. Tâm là tự tính của chính mình. Thức là vọng tâm của chính mình. Chân và vọng cùng một Thể. Những khai thị ấy trong giáo pháp Đại thừa, câu nào cũng đều là nói tới Thật tướng của các pháp. Chúng ta nhận biết từ chỗ này, thì mới coi như chính xác. Thực hiện ở nơi đâu? Thực hiện bằng chẳng hề tạm bỏ tâm cứu độ chúng sinh.
Quý vị đã thật sự giác ngộ, chắc chắn là như vậy. Niệm niệm thấy những chúng sinh khổ nạn, bèn chẳng nghĩ đến chính mình, toàn tâm toàn lực giúp đỡ những chúng sinh ấy quay đầu, giác ngộ. Dùng phương pháp gì để giúp họ quay đầu? Thực hiện từ chính mình. Quý vị dạy người khác, dạy người khác trong hiện thời, thì phải sử dụng thân giáo. Thuở đức Phật tại thế, Ngài giáo dục người ta bằng thân giáo, tức là nêu gương cho quý vị thấy. Con người hiện thời suy nghĩ sai lầm, khởi tâm động niệm luôn luôn là tổn người, lợi mình. Chúng ta nêu gương, khởi tâm động niệm đều là tổn mình, lợi người, dần dần mới có thể khiến cho họ giác ngộ, khiến cho họ quay đầu. Nếu quý vị chẳng làm được những gì mình đã nói, thì còn làm sao được nữa! Xã hội hiện thời là cạnh tranh, chúng ta phải nêu gương lễ nhượng. Không chỉ là khiêm nhượng, mà còn là lễ nhượng, chỗ nào cũng đều nhường nhịn. Chúng sinh niệm niệm đều mong cầu có được, chúng ta niệm niệm mong bố thí, bỏ ra.
Chúng sinh chẳng biết vâng giữ luật lệ, cậy vào thông minh, tài trí của chính mình để lách theo lỗ hổng pháp luật, mong mỏi chiếm đôi chút tiện nghi. Đó là cái tâm trộm cắp! Chúng ta vâng giữ luật lệ nghiêm ngặt, nêu gương cho họ thấy. Họ sợ bị thua thiệt, chúng ta thích chịu thiệt thòi, có thể hứng chịu thiệt thòi. Đó là việc làm của Bồ tát, việc làm của Phật. Việc làm của Phật, Bồ tát luôn là tốt nhất, hoàn toàn tương ứng với Tính đức, chẳng tương ứng với chuyện nhân tình ấm lạnh của người thế gian, mà hoàn toàn trái nghịch. Vì sao? Người hiện thời đã lìa khỏi tiêu chuẩn đức hạnh quá ư là xa! Đối với thời cổ mà nói, tuy có lầm lỗi, vẫn chưa đến nỗi hoàn toàn lệch lạc, kể như vẫn chẳng cách xa tiêu chuẩn cho mấy. Hiện thời, cách biệt quá xa, nay gần như chẳng thấy tiêu chuẩn đâu nữa. Hiện tượng này đáng sợ lắm; do đó, tai nạn dấy lên.
Chúng ta có thể tự mình làm, không chỉ nâng cao cảnh giới chính mình, mà còn thật sự giúp đỡ đại chúng, cứu độ quần sanh, và cũng là giúp đỡ quả địa cầu này. Các nhà khoa học cận đại cho biết: Vật chất dẫu nhỏ đến mấy, ngay như các hạt căn bản đều có thấy, nghe, hay, biết, đều biết ý nghĩ của chúng ta, giống như trong thí nghiệm với nước của ông Giang Bổn Thắng đã chứng tỏ điều ấy; nhưng chúng ta đã nhận được tin tức này rất sớm!
Trong kinh Đại thừa đã nói rất nhiều, điều khó có là nó đã được khoa học chứng minh. Mấy năm trước, Tiến sĩ Giang Bổn Thắng đã dùng nước để chứng minh và đã chứng minh được! Các nhà khoa học hiện thời cho biết: Mỗi hạt cơ bản đều có thấy, nghe, hay, biết, khiến cho chúng ta thật sự hiểu rõ ràng, minh bạch Ngũ uẩn tức Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức như kinh Bát Nhã đã nói. Hạt cơ bản nhỏ nhoi ngần ấy có trọn đủ Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Nó có sắc tướng, đó là vật chất, nó lại có Thọ, Tưởng, Hành, Thức, [đó là tinh thần, nên nó trọn đủ] Ngũ uẩn. Hiện thời, các nhà lượng tử lực học cho biết: Tiểu quang tử tuy nhỏ hơn hạt cơ bản, nhưng cũng trọn đủ Ngũ uẩn. Trí tuệ của Quán Thế Âm Bồ tát, Bát nhã vốn trọn đủ trong tự tính, “chiếu kiến Ngũ uẩn giai không”. Tâm Kinh đã dạy: “Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc, Sắc chính là Không, Không chính là Sắc,Thọ,Tưởng,Hành, Thức cũng lại như thế”. Nếu quý vị thật sự hiểu chân tướng sự thật này, còn có gì chẳng thể buông xuống? Thứ gì cũng đều buông xuống được. Vì sao buông xuống?
Năm xưa, khi tôi ở Mỹ, đọc kinh Đại Bát Nhã. Kinh ấy có phân lượng rất lớn, tôi nhớ bản đóng bìa cứng gồm 24 quyển. Tôi xem xong một lượt, bèn viết mấy chữ để làm báo cáo tâm đắc: “Hết thảy các pháp vô sở hữu, rốt ráo không, chẳng thể được”. Trong tâm quý vị còn có gì chẳng thể buông xuống được? Còn có gì vướng mắc? Còn có gì ưu lự? Quét sạch trơn! Đó là Thật tướng của các pháp, là pháp được cùng chứng đắc bởi hết thảy chư Phật và Pháp thân Bồ tát, tâm khai ý giải. Bát Nhã Tâm Kinh còn nói 260 từ, tôi dùng mấy chữ tâm đắc vừa trình bày để tổng kết. Thế nhưng phiền não tập khí đúng là nặng nề, chẳng giả! Tôi chẳng đạt được sự đại tự tại như trong kinh Phật đã dạy. Đó là gì? Phiền não, tập khí nhiễu loạn, tập khí khó đoạn. Nguyên nhân khiến khó đoạn, nguyên nhân khiến chẳng đoạn được là gì? Đối với chuyện này, chúng tôi thừa nhận trình độ vẫn chưa đủ!
Năm xưa, Chương Gia Đại sư đã dạy tôi: “Tu học Phật pháp là biết khó, hành dễ”. Tôi tin tưởng câu ấy. Quý vị thấy Huệ Năng Đại sư ở trong phương trượng thất của Hòa thượng Ngũ Tổ Nhẫn. Trong thời gian ngắn ngủi như vậy, chúng tôi ước tính tối đa là 2 tiếng đồng hồ, Ngũ Tổ giảng cho Ngài nghe đại ý kinh Kim Cương, giảng đến câu “Ưng vô sở trụ. Nhi sanh kỳ tâm”, Ngài liền khai ngộ. Khai ngộ là gì? Ngài đã buông xuống. Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước đều cùng buông xuống, trong Phật pháp gọi điều này là “đốn xả, đốn đoạn, đốn ngộ, đốn chứng”.
Khi ấy, Huệ Năng Đại sư 24 tuổi, chúng ta chẳng thể không bội phục, Ngài đã thành Phật! Phật Thích Ca Mâu Ni vì chúng ta thị hiện dưới cội Bồ đề cũng là tình hình như vậy. Đức Phật thị hiện vào lúc 30 tuổi. Vì sao chúng ta chẳng thể bỏ? Do chẳng thấu suốt. Chẳng thấu suốt kinh giáo. Chẳng thấu suốt là vì chúng ta huân tập chẳng đủ! Đối với sự huân tập, nhìn từ gương cổ thánh tiên hiền, ta thấy thâm nhập một môn là tuyệt đối chính xác. Các Ngài chẳng có tạp niệm. Hễ lan man quá nhiều thứ, chắc chắn bị phân tâm, chẳng thể tập trung ý chí, chẳng thể tập trung tinh thần, hiệu quả bị giảm bớt rất lớn!
Tuy nhiên, nhìn theo pháp thế gian, học rộng nghe nhiều, thì người ấy có kiến thức thông thường hết sức phong phú. Sách vở thế gian và xuất thế gian đều đọc qua, chẳng có gì không biết, dường như là khá lắm, nhưng người ấy chẳng kiến tính, chẳng đắc tam-muội. Nếu đắc tam-muội sẽ khai ngộ, há còn phải học ư? Chẳng cần phải học! Hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian đã thông suốt toàn bộ. Giống như Long Thọ Bồ tát, trong thời gian 3 tháng, thông suốt toàn bộ hết thảy các kinh do Phật Thích Ca Mâu Ni đã nói trong 49 năm. Đấy chính là sự giáo dục chân chánh của đức Phật. Sự giáo dục của đức Phật là dạy quý vị triệt để quán thông, thông đến tự tính, khiến cho quý vị thành Phật, chẳng phải là khiến cho quý vị học rộng nghe nhiều. Chẳng phải là làm chuyện ấy, mà là dạy quý vị thâm nhập Tam-Muội, đại triệt đại ngộ, quý vị mới có năng lực giống như Phật “Tâm cứu độ quần sinh chẳng hề tạm bỏ”.
Quý vị đã thông đạt vô lượng pháp môn, hết thảy các pháp thế gian và xuất thế gian chẳng có gì không thông đạt. Cầu điều này! Hoàn toàn bảo quý vị hãy quay về nhập Thường Tịch Quang, thật sự “quay đầu chính là bờ”. Vì thế, thái độ này chính là khẳng định “Chúng sinh và quý vị là một Thể”. Hiện thời, chúng sinh trên địa cầu gặp lắm tai nạn ngần ấy, bản thân địa cầu có tai nạn, [những chuyện này] đều là bất bình thường, quý vị phải có tâm cứu độ và hành vi cứu độ tích cực hơn bất cứ ai khác!
Tiếp đó, sách Chú Giải nêu tỷ dụ. Tỷ dụ ấy được nói trong kinh Niết Bàn: “Như Niết Bàn Kinh kệ viết: Nhất thiết chúng sinh thọ dị khổ, tất thị Như Lai nhất nhân khổ” (Kinh Niết Bàn có bài kệ rằng: “Hết thảy chúng sinh hứng chịu các nỗi khổ khác nhau, thì cũng đều như chính bản thân Như Lai chịu khổ”). Mê, ngộ, thiện, ác, họa, phúc, chúng sinh và Phật cùng một Thể. Do đó, trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta có thể giống Như Lai, thấy người khác có lầm lỗi, tức là chính mình có lầm lỗi hay không? Vì sao? Ta chẳng nêu gương tốt để ảnh hưởng đến người ấy, ta làm chưa đủ viên mãn. Cũng chính là như cổ đại đức đã nói: “Điều gì làm chẳng được, bèn quay lại xét mình”, trọn chẳng có ý niệm chỉ trích lỗi lầm của kẻ khác. Luôn tâm niệm chính mình chưa làm tốt đẹp đủ mức, nên chẳng thể thật sự cảm hóa kẻ khác, khích lệ chính mình hãy thêm gắng công ra sức tu tập.
Đối với câu kinh Niết Bàn ấy, xét ra cổ thánh tiên hiền như Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang đều có tâm thái ấy, thấy dân chúng khổ sở, thấy nhân dân khổ sở, bèn thời thời khắc khắc tự trách, chẳng trách móc người khác. Quý vị nói xem họ chẳng phải là hóa thân của Phật, Bồ tát ư? Thuở đó, Phật pháp chưa truyền đến Trung Hoa, có thể là Phật Thích Ca Mâu Ni chưa xuất thế. Phật Thích Ca Mâu Ni sinh nhằm năm thứ 24 đời Châu Chiêu Vương, gần như là cách thời Nghiêu, Thuấn, Đại Vũ, Văn Vương 1.000 năm. Những điều các Ngài nói, những hành vi biểu hiện đều là “hết thảy chúng sinh chịu những nỗi khổ khác biệt, đều là một mình Như Lai chịu khổ”.
“Cố phổ nguyện chửng tế phụ hà, giai độ bỉ ngạn” (Vì vậy, phổ nguyện “cứu vớt, gánh vác cho đều vượt lên bờ kia”). Vì sao phải làm như vậy? Trong kinh Phật đã có một câu: “Pháp nhĩ như thị”, nghĩa là hết thảy các pháp vốn là như vậy, chẳng có lý do, chẳng có suy tưởng, mong cầu, một Thể mà! “Chửng giả, cứu trợ dã. Tế giả, độ dã, thành dã, ích dã” (Chửng (拯) là cứu giúp, Tế (濟) là độ, làm cho hoàn thành, tạo lợi ích). Có nhiều ý nghĩa như vậy, cứu vớt chúng sinh, lợi ích chúng sinh, hướng dẫn chúng sinh lìa khổ được vui.
“Cố chửng tế tức thị cứu độ chi nghĩa. Phụ giả, đảm hà dã. Đại Pháp Cự Đà La Ni Kinh Phật ngôn: Bồ tát đảm giả, thệ nguyện hà phụ nhất thiết chúng sinh xuất ly thế gian. Thí như trưởng giả, gia nội phong nhiêu, đa chư trân bảo, duy hữu nhất tử, dĩ ái niệm cố, tài bảo, lạc cụ tất cấp dữ chi, vô hữu bì quyện. Bồ tát diệc phục như thị, nhất thiết lạc cụ tận giai dữ chi, nãi chí linh nhập Vô Dư Niết Bàn, thị cố danh vi hà phụ trọng đảm” (Do đó, “chửng tế” có nghĩa là cứu độ. Phụ (負) là gánh vác. Trong kinh Ðại Pháp Cự Ðà La Ni(1), đức Phật dạy: “Trách nhiệm của Bồ tát là thệ nguyện gánh vác hết thảy chúng sinh xuất ly thế gian. Ví như trưởng giả trong nhà giàu có, dư dật, nhiều của cải quý báu, chỉ có một con. Vì thương yêu con, nên của cải, vật yêu thích đều trao hết cho con, chẳng hề mệt nhọc. Bồ tát cũng lại giống như vậy: Hết thảy vật yêu thích đều trao hết cả cho, cho đến khiến cho chúng sinh nhập Vô Dư Niết Bàn. Vì vậy, gọi là gánh vác gánh nặng”).
Trong phần kinh văn này, có nói đến một câu chuyện nhỏ, nhằm khải thị người thật sự học Phật hành Bồ tát đạo. Từ chỗ này, chúng ta thấy được nguyện hạnh của Bồ tát. Phát nguyện dễ dàng, nhưng thực hiện nguyện ấy chẳng đơn giản. Thực hiện là thật, chẳng giả. Cha mẹ yêu thương con cái, vào thời cổ ta thấy chuyện như vậy rất nhiều, nhưng trong xã hội hiện thời chẳng thấy. Vì nguyên nhân gì? Chẳng có giáo dục luân lý. Chẳng có giáo dục luân lý, thì cha con chẳng có tình thân.
Cha mẹ chẳng yêu thương con cái, làm sao con cái dấy lên lòng yêu thương cha mẹ cho được? Vì sao chẳng yêu thương? Từ nhỏ đã chẳng vun bồi tốt đẹp đức hạnh cho con, đó là chẳng yêu thương! Chăm sóc áo, cơm, những trò vui chơi cho con, súc sinh cũng có thể làm được những chuyện ấy! Quý vị thấy người hiện thời, kẻ giàu có nuôi thú vật cưng, quả thật có những trường hợp chăm bẵm những con vật cưng còn hơn cả con cái của chính mình, chẳng đối xử tốt đẹp và quan tâm con cái bằng những con vật cưng! Xã hội hiện tại thật sự nảy sanh những vấn đề mà cổ nhân chẳng thể nào tưởng tượng được!
Trong xã hội hiện tại, đâu đâu cũng là như vậy. Khắp mọi nơi đều trông thấy, mà cũng chẳng biết giáo dục là gì! Cái nghĩa gốc của chữ Giáo (教) trong tiếng Hán là “trưởng thiện, cứu thất” (tăng trưởng điều thiện, bổ cứu những khuyết điểm), hiện thời chẳng có ai nói tới. Giáo là gì, mấy ai có thể hiểu được? “Thất” (失) là lầm lỗi. Bổ cứu những lầm lỗi như thế nào? Tăng trưởng thiện tâm, thiện hạnh của quý vị ra sao? Đó là giáo dục; trên hành, dưới bắt chước theo. Phương thức thực hiện trọng yếu nhất vẫn là thân giáo (giáo dục con người bằng hành động gương mẫu). Một đứa trẻ từ bé đã được quý vị nêu gương tốt, nó trông thấy liền hiểu, học theo. Điều này, thật sự chẳng liên quan đến chuyện biết chữ, chẳng liên quan đến học hành. Trẻ thơ từ lúc lọt lòng cho đến khi 3 tuổi, còn chưa có năng lực học chữ, mà cũng chẳng có năng lực biết chữ, đó chính là lúc vun bồi, đặt vững cơ sở giáo dục, luân lý, đạo đức, nhân quả.
100 năm trước, tức là một thế kỷ trước, người Hoa nhà nào cũng đều biết chuyện này. Sau khi nhà Mãn Thanh vong quốc, ảnh hưởng của nền giáo dục truyền thống đại khái còn kéo dài 25 năm. Nó được gìn giữ đầy đủ nhất ở nông thôn. Tại nông thôn, giữ được khoảng 25 năm, nhưng tại đô thị giữ được nền giáo dục truyền thống đại khái ít hơn 10 năm so với nông thôn, cũng có nghĩa là: Thông thường, tại đô thị, trong vòng 15 năm, vẫn còn có thể thấy ảnh hưởng của nền giáo dục truyền thống. Sau 15 ấy, ảnh hưởng đó dần dần nhạt mỏng đi. Kể từ thời chiến tranh giữa Trung Hoa và Nhật Bản, sau 8 năm kháng chiến, tại nông thôn chẳng còn ảnh hưởng ấy nữa.
Do đó, nay chúng ta hiểu biết tầm trọng yếu của nền giáo dục truyền thống, nhưng khôi phục nó rất ư là khó! Khôi phục bằng cách nào? Nền giáo dục truyền thống chẳng thể khôi phục, thì xã hội vĩnh viễn chẳng thể nào an định, đây là đạo lý nhất định. Vì thế, cổ nhân hiểu chuyện này, nhưng người hiện thời rất thờ ơ, mà cũng chẳng tin tưởng! Trong kinh giáo, Phật, Bồ tát đã dùng tỷ dụ để nói rõ. Bồ tát đối với hết thảy chúng sinh đã dốc trọn công sức, chẳng có mảy may ý niệm đòi hỏi, mong mỏi chúng sinh báo đáp các Ngài chút gì, chẳng có ý niệm ấy.
Người hiện thời có thể làm chuyện này hay không? Người nhất tâm mong thành Phật sẽ làm được, nhưng kẻ còn tham luyến thế gian này sẽ quyết định chẳng làm được. Chỉ có người nhất tâm mong làm Phật là có thể làm được. Vì sao? Người ấy biết hết thảy các pháp đều là Không, ngay cả thân thể của chính mình cũng là rỗng không, vật ngoài thân chẳng có gì là của chính mình. Người ấy đã hiểu chân tướng sự thật này, nên dần dần bèn phóng khoáng, sẽ có thể làm được. Nếu chẳng thật sự liễu giải, [tức là] chẳng liễu giải thấu triệt chân tướng sự thật này, sẽ rất khó! “Rất khó” cũng có nghĩa là vượt thoát lục đạo luân hồi khó lắm! Chẳng thể buông xuống, sẽ không thoát khỏi luân hồi. Bồ tát giúp đỡ chúng sinh, mục tiêu thật sự là gì? Khiến cho họ nhập Vô Dư Niết Bàn. Vô Dư Niết Bàn là địa vị gì? Dư (餘) là tập khí. Tập khí vô thỉ vô minh đều đoạn hết sạch, thì gọi là Vô Dư Niết Bàn, thuộc địa vị Diệu Giác, trở về Thường Tịch Quang viên mãn.
Vì thế, điều này được gọi là “hà phụ trọng đảm” (荷負重 擔: gánh vác gánh nặng). 4 từ ấy danh phù hợp thực, giúp đỡ bất cứ chúng sinh nào đều phải giúp họ trở về Đại Bát Niết Bàn, thì nguyện tâm cứu độ của Bồ tát mới xem như viên mãn.
“Thượng dẫn kinh văn, thâm hiển ‘chửng tế phụ hà’ chi nghĩa. Độ giả, đáo dã. Bỉ ngạn giả, Niết bàn dã. Đại Luận thập nhị viết” (Ðoạn kinh vừa dẫn trên đã hiển thị sâu sắc ý nghĩa “cứu vớt, gánh vác”. “Độ” (度) là đến nơi. “Bỉ ngạn” (彼岸: bờ kia) là Niết bàn. Ðại Luận, quyển 12 đã nói). Đại Luận là Đại Trí Độ Luận. “Nhược năng trực tiến bất thoái, thành biện Phật đạo, danh đáo bỉ ngạn, biểu đại sĩ phổ độ, tất linh nhất thiết chúng sinh chứng nhập Vô Dư Niết Bàn nhi hậu dĩ dã” (“Nếu có thể thẳng tiến chẳng lui, hoàn thành Phật đạo, thì gọi là đáo bỉ ngạn (đạt đến bờ kia)”, ý nói: Ðại sĩ phổ độ, làm cho hết thảy chúng sinh chứng nhập Vô Dư Niết Bàn rồi chính mình mới chứng Niết bàn).
Trong thế gian, Bồ tát chẳng làm chuyện gì khác, mà làm chuyện như vậy đó, chẳng mệt, chẳng ngán, vĩnh viễn chẳng ngơi nghỉ! Chúng ta lại xem mấy câu kinh văn kế đó: “Tất hoạch chư Phật vô lượng công đức. Trí tuệ thánh minh bất khả tư nghị” (Đều đạt được vô lượng công đức của chư Phật. Trí tuệ thánh minh chẳng thể nghĩ bàn).
2 câu ấy được chú giải như sau: “Dĩ thượng nhị cú, biểu chư đại sĩ cụ túc phúc trí nhị nghiêm” (2 câu trên đây biểu thị các vị đại sĩ phúc trí nhị nghiêm). “Nghiêm” (嚴) là trang nghiêm (莊嚴). Phúc trí nhị nghiêm là phúc trang nghiêm và tuệ trang nghiêm. “Vị tề quả vị, nãi tùng quả hướng nhân chi đại Bồ tát, hàm đắc Như Lai chi phúc đức trang nghiêm. Trí tuệ thánh minh bất khả tư nghị, minh đại sĩ hàm đắc Như Lai chi trí tuệ trang nghiêm” (Là bậc Bồ tát có địa vị ngang với quả vị, nhưng từ quả hướng nhân, đều đã đắc phúc đức trang nghiêm của Như Lai. “Trítuệ thánh minh chẳng thể nghĩ bàn” là nói các đại sĩ đều đã chứng đắc trí tuệ trang nghiêm của Như Lai). Đây là gì? Thành tựu người khác vốn là thành tựu chính mình. Chính mình đã thành Phật. Sau khi đã thành Phật, phúc tuệ sẽ đạt tới viên mãn rốt ráo, quý vị phải phổ độ chúng sinh. Nếu chẳng thể phổ độ chúng sinh, phúc tuệ của quý vị sẽ chẳng thể viên mãn. Phúc tuệ viên mãn là chuyện tự nhiên, không nhất định do tâm ta mong tưởng; quả thật là trong cảnh giới, Bồ tát chẳng khởi tâm, không động niệm. Chúng ta biết, đối với 41 phẩm vô minh, tức là tập khí vô minh, Ngài chưa đoạn 41 phẩm tập khí vô minh, nhưng Ngài có mong đoạn hay không? Ngài cũng chẳng mong! Nếu Ngài nghĩ tưởng, mong muốn, liền bị đọa lạc, vì Ngài lại khởi tâm động niệm.
Pháp thân Bồ tát chẳng khởi tâm, không động niệm, lẽ đâu Ngài mong đoạn tập khí vô minh, hay là mong muốn, hy vọng phúc tuệ viên mãn? Chẳng có ý niệm ấy, thế mà 41 phẩm vô minh tự nhiên đoạn sạch viên mãn. Do đó, sau khi đã đại triệt đại ngộ, sau khi minh tâm kiến tính, các Ngài trụ trong cõi Thật Báo Trang Nghiêm, chúng ta thường gọi cõi ấy là Nhất Chân pháp giới. Trụ bao lâu? 3 đại A-tăng-kỳ kiếp. Vì sao phải trụ lâu như thế? Phải qua thời gian dài như thế, thì mới chẳng còn tập khí. Ngài trụ trong cõi Thật Báo lâu như thế để làm gì? Tính đức tự nhiên lưu lộ, mười phương thế giới, khắp pháp giới hư không giới, bất cứ chỗ nào chúng sinh có cảm, Ngài bèn có ứng.
Chúng sinh cảm, thì có hiển cảm (顯感: cảm rõ rệt) và có minh cảm (cảm ngấm ngầm). Minh cảm (冥感) là chúng sinh có cầu Phật, Bồ tát, nhưng chính họ chẳng biết, vì ý niệm rất vi tế. Chính họ chẳng cảm nhận được, nhưng Phật, Bồ tát nhận biết, nhận được tin tức ấy. Hễ nhận được, các Ngài liền đến giúp đỡ quý vị. Vì sao? Quý vị có duyên với các Ngài. Do đó, phải biết: Nay, chúng ta kết duyên với hết thảy mọi người, kết duyên với hết thảy chúng sinh, thiện duyên cũng thế, mà ác duyên cũng vậy. Duyên bình đẳng, bất luận thiện hay ác, chỉ cần là có duyên, khi thành Phật, họ nhất định đến độ quý vị. Quý vị có duyên với họ, nên quý vị vừa phát ra tin tức, họ sẽ nhận được ngay lập tức!
Chưa đoạn tập khí phiền não, sẽ có thiện duyên và có ác duyên. Nếu đoạn sạch tập khí phiền não, thiện duyên và ác duyên thảy đều biến thành pháp duyên. Trong tự tính, chẳng thể tìm được thiện hay ác. Không chỉ là chẳng có thiện, ác, mà chân, vọng cũng chẳng có, tà, chánh cũng chẳng có. Đó là nói theo Nhất Chân pháp giới. Trong mười pháp giới, thì có những thứ thật, giả, tà, chánh, thiện, ác rất rõ ràng, nhưng cõi Thật Báo Trang Nghiêm chẳng có chuyện ấy. Chúng ta phải biết điều này. Đấy là nói trí tuệ viên mãn trong tự tính thấu lộ, mà cũng là như đức Phật đã nói trong kinh Hoa Nghiêm: “Hết thảy chúng sinh đều có trí tuệ và đức tướng của Như Lai”. Như Lai là tự tính. Trí tuệ, đức năng, và tướng hảo trong tự tính chẳng có mảy may chướng ngại nào, thảy đều hiển thị. Hiển ở nơi đâu? Hiển lộ khi người ấy ứng theo sự cảm của chúng sinh.
Chúng sinh có cảm, người ấy bèn có ứng, nên dùng thân gì để đắc độ, bèn hiện thân ấy, nên dùng pháp môn gì để giáo hóa, bèn dùng pháp môn ấy, nhất định chẳng có suy xét. Trong khoảng thời gian ấy, chúng ta giả thiết khoảng thời gian ấy là 3 đại A-tăng-kỳ kiếp như kinh đã nói, vị ấy trọn chẳng khởi tâm động niệm. Khởi tâm động niệm còn chẳng có, há có phân biệt, chấp trước? Toàn là tự tính, tự nhiên. Chúng ta dùng danh từ gì để hình dung nó? Tự nhiên vận hành, chẳng do ai làm, chẳng có bất cứ sức mạnh nào thao túng, chẳng có! Hoàn toàn là tự nhiên, nên chúng ta chỉ có thể nói là Tính đức tự nhiên lưu lộ.
Trong kinh Phật có một danh từ rất đơn giản để diễn tả điều này: “Pháp nhĩ như thị”. Từ ngữ ấy rất hay, pháp vốn là như vậy. Điều này, biểu thị các vị Pháp thân đại sĩ trọn đủ phúc tuệ nhị nghiêm. Chúng ta ca ngợi Phật, quý vị thấy khi quy y Phật, chúng ta đọc: “Quy y Phật, Nhị túc tôn”. Ai nấy đều đã đọc cả rồi. Nhị túc là gì? Là huệ và phúc, tức phúc trí, chính là “phúc trí nhị nghiêm” ở chỗ này. Đạt đến quả vị rốt ráo, phúc viên mãn, trí viên mãn, thì gọi là Nhị túc tôn, chẳng khiếm khuyết mảy may. Đẳng Giác Bồ tát còn có chút khiếm khuyết, vẫn chưa đạt tới viên mãn, nhưng địa vị Diệu Giác đã viên mãn. Địa vị ngang với Phật quả, thì địa vị ấy đã đạt đến Diệu Giác, tức là quả vị Phật rốt ráo. Những vị ấy tuyệt diệu, chính là hàng đại Bồ tát từ quả hướng đến nhân, các Ngài chẳng ứng hóa từ cõi Thật Báo, mà từ đâu ứng hóa? Các Ngài ứng hóa từ cõi Thường Tịch Quang. Ý nghĩa này hay lắm. Nếu không, rất nhiều người hoài nghi: Trở về Thường Tịch Quang bèn chẳng khởi tác dụng. Cõi Thường Tịch Quang đã chẳng phải là tinh thần, mà cũng chẳng phải là vật chất, há chẳng phải là không có tác dụng gì hay sao? Được rồi!
Tôi nói cho quý vị biết: Trong Thường Tịch Quang có ứng. Thường Tịch Quang là Nhị túc tôn viên mãn rốt ráo, tức Diệu Giác! Theo định nghĩa trong Phật pháp, chữ Diệu (妙) thường được giảng là “chẳng phải có, chẳng phải không”. Quý vị chẳng thể nói nó là có, mà cũng chẳng thể nói là “chẳng có”. Đó là Thường Tịch Quang. Quý vị thấy khi Huệ Năng Đại sư kiến tính đã nói 5 câu chẳng phải có, chẳng phải không: “Nào ngờ tự tính, vốn tự thanh tịnh”. Tự tính chưa hề bị ô nhiễm. Chỉ cần có hiện tướng, bất luận là hiện tượng vật chất hay hiện tượng tinh thần, đều có thể bị ô nhiễm. Nó chẳng phải là vật chất, mà cũng chẳng phải là tinh thần, nên nó chưa hề có hiện tượng ô nhiễm, vốn tự thanh tịnh. Câu thứ hai là “Vốn chẳng sinh diệt”, đây là Đại Bát Niết Bàn, chẳng có sinh diệt.
Trong tôn giáo của ngoại quốc có nói “sống đời đời”, nhưng điều này còn cao hơn chuyện sống đời đời vì chẳng có sinh diệt. Câu thứ ba là “Vốn tự trọn đủ”, nó chẳng khiếm khuyết mảy may. Bất luận là trí tuệ, đức năng, hay tướng hảo, hết thảy đều hoàn toàn trọn đủ. Câu thứ tư là “Vốn chẳng dao động”, nói rõ: Vọng tâm của chúng sinh trong mười pháp giới đều là động. Khoa học hiện đại nói là hiện tượng dao động. Hiện tượng dao động, thì từ địa ngục giới cho đến Phật pháp giới trong mười pháp giới đều có hiện tượng này, nhưng trong cõi Thật Báo chẳng có hiện tượng này. Câu cuối cùng là “Có thể sinh ra vạn pháp”. Một niệm bất giác sẽ có thể hiện ra A Lại Da. A Lại Da có thể biến. Tự tính có thể sanh, có thể hiện, còn A Lại Da có thể biến. Tự tính là chân tâm của chính mình. A Lại Da là vọng tâm của chính mình. Vọng sinh từ chân, điều này đã được các khoa học gia hiện thời phát hiện.
Hiện tượng tinh thần và hiện tượng vật chất do đâu mà có? Trong Không sinh ra Có, được gọi là “Vô trung sanh hữu”. Vô là gì? Vô là tự tính, vì tự tính thật sự chẳng phải là vật chất, chẳng phải là tinh thần, nên 6 căn của quý vị chẳng thể duyên được! Vật chất, thì 5 căn trước có thể duyên đến, tức là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân có thể duyên đến, tiếp xúc được vật chất. Tinh thần, thì ý căn có thể tiếp xúc được. Nhưng nó (tự tính) chẳng phải là vật chất, mà cũng chẳng phải là tinh thần, nên Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức của chúng ta đều không duyên được. Vì vậy, nói là “Vô trung sanh hữu”. Các khoa học gia đã có thể phát hiện cảnh giới này, điều này rất khó có! Chứng tỏ lời Phật nói chẳng giả. 3.000 năm sau, các khoa học gia đã giúp Ngài chứng thực; nhưng các khoa học gia chẳng thể kiến tính. Nguyên nhân vì sao? Do họ chẳng buông vọng tưởng, phân biệt, chấp trước xuống! Hễ buông xuống liền kiến tính. Sau khi đã buông xuống, trí tuệ và đức tướng bèn hiện tiền. Vì thế, trong Phật pháp, các nhà khoa học ấy được gọi là giải ngộ, chưa chứng đắc, chỉ là giải ngộ. Giải ngộ bèn đạt tới cảnh giới rất cao ấy, nhưng nếu lại tiến cao hơn thì chẳng thể, vì tiến cao hơn sẽ là kiến tính. Kiến tính, thì phải thật sự buông xuống. Chẳng buông xuống, chẳng thể kiến tính.
Do đó, câu “Từ quả hướng đến nhân” có ý nghĩa rất sâu, nói cho chúng ta biết: Thường Tịch Quang là một thể hữu cơ, sống động, chẳng phải là chết ngắc; nó có thể hiện hết thảy các tướng. Nó thứ gì cũng đều chẳng có, nhưng có thể hiện hết thảy các tướng, có thể sinh ra muôn pháp. Những vị đại Bồ tát này đều đắc Như Lai phúc đức trang nghiêm. “Trí tuệ thánh minh chẳng thể nghĩ bàn” là nói rõ các vị đại sĩ đều đắc trí tuệ trang nghiêm của Như Lai. Trên đây là phúc đức trang nghiêm và trí tuệ trang nghiêm. “Trang nghiêm” ở đây là nói đến sự viên mãn. Chúng ta biết, theo kinh Hoa Nghiêm, từ Sơ Trụ trở lên đều chứng đắc phúc trí nhị nghiêm. Tuy chưa viên mãn, nhưng đã sử dụng được, chẳng có chút chướng ngại nào. Do trí tuệ và đức tướng đều chẳng có chướng ngại, nên Sơ Trụ Bồ tát có thể hiện thân Phật, nên dùng thân Phật để độ được, liền hiện thân Phật để thuyết pháp, Sơ Trụ đã làm được.
Kế đó, sách viết: “Tịnh Ảnh dữ Chân Giải, Hợp Tán chư gia, giai đồng thử thuyết” (Ngài Tịnh Ảnh và tác giả các sách Chân Giải, Hợp Tán đều cùng nói như vậy). Đối với điều này, tổ sư đại đức đều cùng nói giống như nhau. “Thánh giả, chính dã” (Thánh là chánh), đây là giải thích chữ Thánh.
“Hựu Triệu công viết: Trí tuệ, Thể; thánh minh, Dụng. Vô sự bất chiếu vị chi Thánh. Bồ tát Quyền Thật linh chiếu, bất khả dĩ ngôn tư nghĩ nghị kỳ hình dung, cố vân bất khả tư nghị” (Ngài Tăng Triệu nói: “Trí tuệ là Thể. Thánh minh là Dụng. Không sự gì chẳng chiếu là Thánh. Bồ tát Quyền Thật linh chiếu, chẳng thể dùng ngôn ngữ và suy nghĩ để suy đoán, bàn luận hình dung của nó, nên bảo là bất khả tư nghị”).
Tiếp đó, cụ Hoàng giải thích: “Triệu công chi ý vi: Trí tuệ thị bản thể, thánh minh thị diệu dụng. Nhất thiết sự giai năng chiếu liễu thông đạt, danh chi vi Thánh. Bồ tát chi Quyền trí dữ Thật trí, sở sinh chi linh minh chiếu dụng, chúng sinh phàm tình tuyệt bất năng giải, cố viết bất khả tư, nhất thiết ngữ ngôn bất năng biểu đạt, cố viết bất khả nghị” (Ý của Triệu công là: Trí tuệ là bản thể, thánh minh là diệu dụng, đều chiếu rõ, thông đạt được hết thảy sự, nên gọi là Thánh. Thật trí và Quyền trí của Bồ tát phát sinh diệu dụng sáng tỏ vằng vặc để chiếu soi. Chúng sinh do phàm tình nên trọn chẳng thể hiểu nổi diệu dụng ấy, nên bảo là “bất khả tư”. Vì hết thảy ngôn ngữ chẳng thể diễn đạt nổi, nên nói là “bất khả nghị”). Chúng ta xem tới đây. Theo Tăng Triệu đại sư(2), trí tuệ là Thể. Đối với tầng cấp này, tức là tầng cấp của hàng đại Bồ tát, Định và Huệ là một, chẳng hai. Huệ là Thể, Định là Dụng, [hoặc nói cách khác], Định là Thể, Huệ là Dụng, sống động, chẳng khô khan. Thể và Dụng dùng lẫn cho nhau, quý vị nói kiểu nào cũng thông suốt. Không sự gì chẳng chiếu, đó là trí tuệ.
Do vậy, kinh Bát Nhã nói “chiếu kiến”, danh từ này được nói rất nhiều, người thế gian chúng ta nói là “khán kiến”, tức là thấy bằng mắt, hoặc quán kiến (quan sát thấy). Trong giáo pháp Đại thừa nói là “chiếu kiến”, Tâm Kinh nói “Chiếu kiến Ngũ uẩn giai Không”. Câu này đã được các nhà khoa học hiện đại chứng minh, Ngũ uẩn đúng là rỗng không, các nhà khoa học đã nói rất hay! Vật chất là gì? Ý niệm tích lũy liên tục sinh ra huyễn tướng. Nói rất hay!
Trước kia, chúng tôi học Duy thức, trong Duy thức nói tới Kiến phần và Tướng phần: Nếu Kiến phần trông thấy, ngay khi đó, sẽ phát sinh Tướng phần. Cách nói này khiến cho chúng ta chẳng hiểu rõ từ ngữ. Cổ nhân nói như thế, chúng tôi cũng nói như thế, thì chẳng rõ ràng. Kiến thì nhất định là phải thấy, đã thấy bèn có huyễn tướng. Ví như quý vị trừng mắt nhìn, trong hư không chẳng có thứ gì, nhưng quý vị nhất định muốn thấy. Trừng mắt nhìn hồi lâu, mỏi mắt, sẽ thấy trong không trung thật sự hiện ra tướng hoa đốm lăng xăng. Dùng phương pháp ấy để nói, thì chẳng hợp khoa học(3), cách nói của các nhà khoa học hay hơn. Sau này, hễ chúng ta nói đến chuyện này (Kiến phần sinh ra Tướng phần), bèn có thể dùng cách nói của các nhà khoa học, thì sẽ chính xác. Có thể thấy là cổ nhân dùng tỷ dụ ấy, vì họ chưa kiến tính, nên cũng chẳng thấy. Nếu họ đã kiến tính, sẽ nói rõ ràng, họ nói lờ mờ, vì chính họ chưa kiến tính. Trí tuệ khởi tác dụng là thánh minh.
Không sự gì chẳng chiếu, thì gọi là Thánh, năng lực thấy rất rộng: Trọn khắp pháp giới hư không giới. Vì thế, nếu nói thật sự, nói chân thật, tức là nói chân thật theo giáo pháp Đại thừa, hoàn toàn là cảnh giới của Pháp thân Bồ tát. Các Ngài chẳng có thời gian, phải biết điều này: Tuyệt đối chẳng có quá khứ, mà cũng chẳng có vị lai, chỉ có ngay trong hiện tại. Không chỉ chẳng có thời gian, mà còn chẳng có không gian; không gian cũng chẳng tồn tại. Không gian chẳng tồn tại, thì khoảng cách chẳng còn nữa, nói tới không gian là nói tới khoảng cách. Tây Phương Cực Lạc thế giới ở nơi đâu? Ngay tại nơi đây. Thế giới Hoa Tạng của Tỳ Lô Giá Na Phật ở chỗ nào? Ngay tại nơi đây.
Do vậy, nói chân thật cùng quý vị, sẽ là ngay trong lúc này, mười đời xưa nay chẳng lìa một niệm. Một niệm hiện hữu, niệm niệm đều là một niệm ngay trong lúc này. Đấy là nói lời chân thật, nói ra chân tướng với chúng ta, một niệm là thật. Do đó, quý vị thấy kinh Phật mở đầu bằng: “Như thị ngã văn, nhất thời”, đức Phật nói lời chân thật. “Nhất thời” là thật. Phật Thích Ca Mâu Ni giảng kinh, giảng kinh Vô Lượng Thọ, có “tại” hay không? Có, nhất thời! Nếu chúng ta đạt tới nhất thời, sẽ thấy Phật Thích Ca Mâu Ni đang giảng kinh. Thời gian chẳng có, 3.000 năm trước hay 3.000 năm sau chi nữa đều chẳng có, ở ngay trong lúc này, quý vị thấy núi Linh Thứu ở ngay nơi đây! Đời Đường, Trí Giả Đại sư niệm kinh Pháp Hoa, niệm đến phẩm Dược Vương, lão nhân gia nhập định, thấy Phật Thích Ca Mâu Ni giảng kinh Pháp Hoa ở núi Linh Thứu, thấy vẫn còn có chỗ trống, bèn ngồi nơi đó nghe giảng một buổi. Sau khi xuất Định, kể với mọi người: Hội Linh Sơn chưa giải tán, Ngài tham gia, nghe giảng ở đó một buổi.
Do vậy, trong kinh, đức Phật thường nói: “Hết thảy các pháp chẳng lìa tự tính”. Lại nói “Ngoài tâm chẳng có pháp. Ngoài pháp chẳng có tâm” đều nhằm tiết lộ chân tướng này. Chúng ta nghe chẳng hiểu, dường như hiểu mà chẳng hiểu, nửa tin, nửa ngờ. Nếu thật sự hiểu, không khẩn yếu chi! Nếu chẳng hiểu, không sao cả!
Hãy cứ nghe hằng ngày, cổ nhân nói: “Đọc sách ngàn lượt, tự thấy ý nghĩa”. Chúng ta ngốc hơn người khác, người ta nghe một ngàn lượt, chúng ta nghe một vạn lượt bèn hiểu. Vì sao? Huân tập thành chủng tử, huân tập thành căn, căn ấy sẽ sinh ra sức mạnh. Huân tu lâu dài, phải huân tập nó thành chủng tính của ta, nó sẽ khởi tác dụng. Đó cũng là một phương pháp để minh tâm kiến tính trong 84.000 pháp môn. Phải biết: 84.000 pháp môn đều là các phương pháp để minh tâm kiến tính, phương pháp nào thích hợp với ta, ta bèn dùng phương pháp ấy. Học rộng nghe nhiều cũng là một phương pháp, căn tính mỗi người khác nhau.
Trong xã hội hiện tiền, nay là thời Mạt pháp, lại còn là lúc Phật pháp suy vi đến cùng cực. Khắp thế giới sơ sót giáo dục luân lý, đạo đức. Có thể nói luân lý, đạo đức tương ứng với giáo dục tự tính, nhưng đã bỏ mất. Nhà Phật có một thuật ngữ là “xứng tánh”, nhưng hiện thời đã hoàn toàn mê mất tự tính. Mê gần như nghiêm trọng đến mức 100%, cho nên học Phật đặc biệt khó khăn! Phương pháp này của Tịnh tông được mười phương chư Phật giới thiệu, chẳng riêng gì một mình Thích Ca Mâu Ni Phật, mà là mười phương chư Phật giới thiệu. Trong hoàn cảnh khó khăn đến tột cùng, các pháp môn khác đều bị chướng ngại trùng trùng, rất khó học tập, nhưng pháp môn này đơn giản. Thậm chí, quý vị chẳng cần đọc kinh, chỉ là một câu Phật hiệu.
Chúng ta đang ở HongKong, năm xưa, tôi nghe lão pháp sư Đế Nhàn thường kể với mọi người: Lão Hòa thượng Đế Nhàn có một người đồ đệ làm thợ vá nồi. Người này là bạn cùng chơi đùa thuở bé của pháp sư Đế Nhàn, tuổi tác chẳng chênh lệch cho mấy, ở trong thôn trang. Sau khi trưởng thành, gia cảnh nghèo hèn, chẳng có cơ hội đi học, bèn học một nghề thủ công là vá nồi, vá chén, dùng nghề mọn ấy để kiếm sống hết sức khổ sở. Thuở bé, tôi thường thấy thợ vá nồi gánh một gánh nhỏ đi rảo trong làng vá nồi, vá chén. Vì thế, khi Ngài (pháp sư Đàm Hư) nói chuyện ấy, tôi hiểu ngay, ông ta sống bằng nghề đó. Ông ta cảm thấy cuộc đời quá khổ, thấy bạn xuất gia, xuất gia cũng khá, bèn tìm đến, thưa với Ngài Đế Nhàn, ông ta cũng muốn xuất gia, bái Ngài Đế Nhàn làm sư phụ. Pháp sư Đế Nhàn nói: “Không được! Ông cứ làm nghề của mình đi, xuất gia há phải dễ dàng! Ông xuất gia, chậm lụt như vậy, mà cũng chẳng biết chữ, đầu óc chậm chạp, đoán chắc là học kinh sám, Phật sự, gõ pháp khí, xướng niệm đều học không nổi, tay chân vụng về! Học giảng kinh, thì lại chẳng biết chữ”. Vì thế, cự tuyệt ông ta. Nhưng ông ta vẫn một mực nằn nì, chẳng chịu đi, không cho ông ta xuất gia cũng không được.
Cụ Đế Nhàn chẳng còn cách nào, bèn đặt điều kiện với ông ta. Sư nói: “Nếu ông thật sự muốn xuất gia, tôi có mấy điều kiện, ông có thể làm được thì cho phép ông xuất gia”. Ông ta thưa: “Được! Nếu tôi bái thầy làm sư phụ, thầy dạy tôi điều gì, tôi cũng đều làm theo”. Lão pháp sư Đế Nhàn bất đắc dĩ cho ông ta xuống tóc. Chẳng ở trong chùa được, vì ở trong chùa có rất nhiều quy củ. Ông ta cũng đã bốn mươi mấy tuổi rồi, những tật xấu, tập khí chẳng dễ gì sửa được. Vì thế, đến vùng quê, tìm cho ông ta một ngôi chùa nhỏ, chẳng có ai ở, là một ngôi chùa hư nát, cho ông ta ở đó. Dạy ông ta niệm một câu Nam-mô A Di Đà Phật.
Dạy gì khác ông ta cũng không hiểu, bèn dạy ông ta niệm: “Ông hãy niệm câu này, suốt ngày niệm câu Nam-mô A Di Đà Phật. Niệm đã mệt bèn nghỉ ngơi, nghỉ khỏe khoắn rồi lại niệm tiếp”. Làm như vậy sẽ nhẹ nhàng, thong dong, chẳng có áp lực gì. Chẳng phân biệt ngày, đêm, hễ niệm đã mệt bèn nghỉ ngơi, hễ nghỉ đã khỏe, bèn lập tức tiếp tục niệm. Trong làng quê, Sư tìm một bà cụ học Phật, ở gần đó, mỗi trưa đến nấu cơm trưa và cơm chiều, còn bữa điểm tâm do ông ta tự nấu, tự lo. Bà cụ giặt giũ quần áo cho ông ta để ông ta chuyên tâm niệm Phật. Niệm suốt 3 năm, đến một hôm, ông ta bảo bà cụ hộ trì: “Ngày mai, bà không cần nấu cơm, tôi vào thành gặp bạn bè”.
Trên thực tế, ông ta biết trước lúc mất, sắp vãng sinh, nên quay về từ biệt thân thích, chào hỏi, thăm viếng. Hôm sau trở về; khi trở về, bèn nói với bà cụ: “Ngày mai chẳng cần nấu cơm cho tôi”. Bà cụ lại tưởng ông ta đến thăm bạn bè, chẳng biết người bạn nào sẽ mời ông ta ăn cơm. Đến bữa sau, cụ ra chùa xem, coi sư phụ có nhà hay không? Kết quả là thấy sư phụ ở trong Phật đường, đứng trước tượng Phật, gọi thì chẳng ừ hử gì, đến trước mặt xem kỹ, thấy ông ta đã mất, đứng mất! Liền vội vã quay về báo tin, vì còn có mấy đồ đệ quy y với cụ Đế Nhàn ở vùng phụ cận, thảy đều báo tin cho họ biết, gọi họ đến xem. Trước nay, chưa từng thấy người đứng mất, rất hiếm hoi, lạ lùng! Những người ấy sau khi tìm đến, bèn vội đến Quán Tông Tự(4) thưa trình. Từ nông thôn đến thành thị chẳng có phương tiện giao thông, phải đi bộ, đi một ngày mới đến nơi, thưa chuyện với Hòa thượng Đế Nhàn. Hòa thượng Đế Nhàn chuẩn bị, sắp xếp, đến hôm sau mới trở lại, đi về mất 3 ngày. Ông ta đứng sững suốt 3 ngày, chờ lão pháp sư Đế Nhàn đến lo liệu hậu sự. Cụ Đế Nhàn thấy tình hình ấy, rất tán thán: “Ông rất lỗi lạc! Thật sự có thành tựu. Bất cứ trụ trì hay phương trượng chùa miếu nào nơi danh sơn bảo sát đều chẳng bằng ông. Những pháp sư thông Tông, thông Giáo, giảng kinh cũng chẳng sánh bằng ông!”.
Một câu A Di Đà Phật mà thôi! Người ấy chưa từng nghe kinh ngày nào, nhưng nghe lời, đúng là thật thà, thật sự làm. Trừ một câu A Di Đà Phật ra, điều gì ông ta cũng chẳng hiểu, [thế mà] biết trước lúc mất, tự tại vãng sinh, lại còn đứng sững suốt 3 ngày. Coi như lão pháp sư Đàm Hư và người thợ vá nồi là đồng học, đều cùng là học trò của Lão Hòa thượng Đế Nhàn. Ngài thường kể chuyện này để khích lệ người niệm Phật. Quý vị thấy thời gian không dài, 3 năm đã đến thế giới Cực Lạc làm Phật, có công phu như vậy chẳng đơn giản. Lời cụ Đế Nhàn nói là thật, chẳng giả! Do vậy, vấn đề là chúng ta có chịu tin tưởng hay không, chịu phát nguyện hay không, buông xuống vạn duyên, phát Bồ đề tâm, một mực chuyên niệm, bèn thành công. Người thợ vá nồi 3 năm thành công.
Mấy năm trước, tại Thâm Quyến, ông Hoàng Trung Xương 30 tuổi mới lộ diện. Ông ta nghe tôi giảng kinh thường dẫn ra những câu chuyện bèn rất hoan hỷ, cũng rất muốn học theo, dùng 3 năm để làm thử xem chính mình có thể làm được hay không. Bà Hướng Tiểu Lỵ hộ quan cho ông ta. Ông ta bế quan 3 năm, còn thiếu 2 tháng là đầy 3 năm, tức là 2 năm 10 tháng, cũng biết trước lúc mất. Phật A Di Đà tiếp dẫn ông ta về thế giới Cực Lạc. 2 năm 10 tháng, làm cho chúng ta thấy. Ông ta thử xem rốt cuộc là thật hay giả, bèn thành công. Niệm Phật vãng sinh là chuyện ngàn vạn phần xác đáng, chẳng giả tí nào, vấn đề là quý vị không chịu làm, thì chẳng có cách nào cả! Sinh về thế giới Cực Lạc là đi làm Phật. Kinh đã nói hết sức hay: “Dẫu là hạ hạ phẩm vãng sinh trong cõi Phàm Thánh Đồng Cư, hễ đến thế giới Cực Lạc bèn là A Duy Việt Trí Bồ tát”. A Duy Việt Trí là 3 món Bất thoái. Vị Bất thoái thì A La Hán làm được; Hạnh Bất thoái, Bồ tát làm được; nhưng Niệm Bất thoái, thì phải là Pháp thân Bồ tát, minh tâm kiến tính, đại triệt đại ngộ, cũng là vượt thoát mười pháp giới.
Theo kinh Hoa Nghiêm, từ Viên giáo Sơ Trụ trở lên mới là Niệm Bất thoái. Cổ đại đức cũng có thuyết cho rằng: Từ Thất Địa trở lên mới là Niệm Bất thoái. Chúng ta chẳng tính từ Thất Địa trở lên, chỉ tính từ Viên giáo Sơ Trụ trong Hoa Nghiêm trở lên, thì đã rất lỗi lạc. Niệm Bất thoái sinh vào cõi Thật Báo Trang Nghiêm. Trong thế giới Cực Lạc, hạ hạ phẩm vãng sinh trong cõi Đồng Cư, do được bổn nguyện và oai thần của A Di Đà Phật gia trì, cho nên người vãng sinh ấy cũng hưởng thụ sự đãi ngộ của A Duy Việt Trí Bồ tát, tức là sự đãi ngộ do 3 món Bất thoái. Có sự đãi ngộ ấy, giống như trong phần trên đã nói, người ấy có năng lực ứng hóa: Chúng sinh có duyên với người ấy trong khắp pháp giới hư không giới, hễ nhắn tin cho người ấy, người ấy liền có thể ứng hóa. Cung cấp tin tức cho người ấy là cảm, người ấy bèn ứng, nên dùng thân gì để độ được bèn hiện thân ấy, nên dùng pháp gì để hóa độ người ấy bèn dùng pháp đó. Cũng có thể nói là người ấy đã thông suốt toàn bộ mười phương ba đời tất cả Phật pháp và pháp thế gian, vì chẳng lìa tự tính. Chỉ cần quý vị kiến tính bèn thông suốt toàn bộ.
Do vậy, tôi nói những người ấy là người thật sự thông minh, tốn thời gian 3 năm bèn thông suốt, đạt được toàn bộ, há có nhiều nỗi phiền phức như trong các pháp môn khác! Pháp môn hy hữu, khó gặp, mà chúng ta có duyên gặp gỡ. Đã gặp gỡ mà chẳng thể nắm vững, hãy còn hoài nghi, vẫn chưa thể hoàn toàn tin tưởng pháp môn này, đó là nghiệp chướng của chính mình! Trước mắt, đã có lắm chứng cứ ngần ấy, những người như ông thợ vá nồi hoặc Hoàng Trung Xương đã làm Tác chứng chuyển trong 3 thứ chuyển pháp luân, chứng minh cho chúng ta, chứng minh pháp môn này, chứng minh thế giới Cực Lạc, chứng minh niệm Phật vãng sinh chẳng giả tí nào. Do đó, trí tuệ chiếu kiến. Chúng ta cũng phải dùng trí tuệ để soi thấu suốt thế gian này. Đối với bất cứ tai nạn nào, cũng đều chẳng có mảy may sợ hãi gì. Biết tai nạn do nguyên nhân nào phát sinh, và cũng biết phương pháp gì để có thể hóa giải. Hiềm rằng chúng sinh chẳng tin tưởng, chẳng thể tiếp nhận, đó là do cộng nghiệp cảm vời. Tai nạn xảy tới giống hệt nhau. Nhưng mỗi người đi về một chỗ khác nhau, người niệm Phật chúng ta có chỗ để người niệm Phật sanh về. Vì thế, hiện thời phải đặt chuyện này lên đầu, tức là xếp niệm Phật vãng sinh hàng đầu.
Người thật sự có công phu ấy, giống như ông Hoàng Trung Xương, nếu chẳng đến thế giới Cực Lạc, ở thêm trong thế gian này mấy năm nữa có được hay không? Được chứ! Chẳng phải là không được, đến đi tự do. Người thợ vá nồi trụ thêm mấy năm cũng được. Vì sao phải ra đi như vậy? Dùng phương pháp ấy để độ chúng sinh, giúp đỡ chúng sinh, đó là đại từ đại bi, nêu gương tốt cho chúng sinh, khiến cho mọi người kiên định tín tâm, nghiêm túc học tập, tương lai ai nấy đều vãng sinh. Vì thế, chúng ta phải nới rộng tầm mắt, nhìn cho xa, thấy cho sâu, quý vị sẽ liễu giải hành động của những người ấy là công đức chân thật! Tiếp đó, cụ Hoàng nói ý của Ngài Tăng Triệu là: Trí tuệ là bản thể, thánh minh là diệu dụng. Hết thảy mọi sự đều có thể soi tỏ thông đạt bèn gọi là Thánh. Người Hoa gọi là thánh nhân, ở Ấn Độ gọi là Phật. Quyền trí và Thật trí của Bồ tát: Quyền trí là phương tiện thiện xảo, Thật trí là Căn bản trí. Thật trí là định, thanh tịnh, bình đẳng, giác. Quyền trí là phương tiện thiện xảo, ứng dụng trong cuộc sống hằng ngày, tự hành, hóa độ người khác. Sinh ra tác dụng chiếu soi linh minh, chúng sinh do phàm tình trọn chẳng thể hiểu được. Vì sao? Chúng sinh có phân biệt, chấp trước, vì thế, họ chẳng thể hiểu, đó gọi là “bất khả tư”, tức là chẳng thể suy tưởng. Hễ suy tưởng bèn rớt vào ý thức, là sai mất rồi!
Hết thảy ngôn ngữ chẳng thể biểu đạt, nên là “bất khả nghị”. “Nghị” (議) là nghị luận, là thảo luận, nói năng. “Phi ngữ ngôn phân biệt chi sở năng tri, cố kỳ hình kỳ dung vô pháp nghĩ nghị” (Do ngôn ngữ, phân biệt chẳng thể biết được, nên không có cách nào mô tả, bàn luận hình tướng của trí tuệ ấy). Tìm không ra phương pháp thích đáng để tỷ dụ, nên đến cuối cùng, đức Phật nói: “Duy chứng phương tri” (Chỉ có chứng mới biết). Quý vị thật thà tu hành, đạt đến cảnh giới này, sẽ tự nhiên hiểu rõ.
“Hựu bất khả tư nghị hữu nhị chủng, nhất giả Lý Không” (“Chẳng thể nghĩ bàn” lại có hai loại, một là Lý Không). Chữ Không này chẳng dễ hiểu! Không chẳng phải là Vô (không có gì), mà Không là Có! Vì sao chẳng nói là Có, lại nói là Không? Vì lục căn của quý vị chẳng duyên được! Lý là gì? Lý là tự tính. Tự tính là Lý, Thể. Tất cả hết thảy các pháp đều sanh từ nó, nó có thể sanh, có thể hiện. Thức có thể biến. Thức là phân biệt, chấp trước. Phân biệt, chấp trước có thể sinh ra biến hóa, Y báo và Chính báo trang nghiêm trong mười pháp giới do thức biến. Nhất Chân pháp giới, cõi Thật Báo của chư Phật do tâm hiện, chẳng có thức biến, mà do tâm hiện. Tâm sanh, tâm hiện, mười pháp giới là thức biến, đó là Lý. Lý, Thể là tự tính, nên chẳng phải là “hoặc tình” (惑 情: tình chấp do phiền não tạo thành). Hoặc (惑) là vô minh phiền não, là khởi tâm động niệm. Tình (情) là phân biệt, chấp trước. Quý vị có khởi tâm động niệm, phân biệt, chấp trước, sẽ chẳng có cách nào, chắc chắn chẳng đạt được “bất khả tư nghị”.
Chỉ cần quý vị đoạn hết “Hoặc tình”, chân tướng liền ở ngay trước mặt, bèn hoàn toàn hiểu rõ. Loại thứ hai là “thần kỳ”. “Thần kỳ” (神奇) là Bồ tát ứng hóa, khởi tác dụng, “phi thiển thức sở lượng”, nghĩa là người kiến thức kém cỏi, nông cạn sẽ chẳng biết.
“Hựu Trí Độ Luận viết: Tiểu thừa pháp trung vô bất khả tư nghị sự, duy Đại thừa pháp trung hữu chi, như lục thập tiểu kiếp thuyết Pháp Hoa Kinh vị như thực khoảnh” (Trí Độ Luận lại nói: “Trong pháp Tiểu thừa, chẳng có chuyện chẳng thể nghĩ bàn, chỉ có pháp Đại thừa là có, như 60 tiểu kiếp nói kinh Pháp Hoa mà nói là như trong khoảng một bữa ăn”). Đó là gì? Thời gian là giả, chẳng thật. Trong pháp Tiểu thừa đều là có thể nghĩ, có thể bàn, có thể thảo luận, có thể nghiên cứu, pháp Đại thừa thì không được. Trong pháp Đại thừa có chuyện chẳng thể nghĩ bàn. Do vậy, luận lý, biện chứng pháp (dialectic), lý tắc học (logic), áp dụng những phương pháp luận khoa học đó vào kinh Tiểu thừa thì được, nhưng vô dụng đối với kinh Đại thừa, vì kinh Đại thừa vượt ngoài lý luận. Tôi nhớ thuở trước, lúc mới xuất gia chưa được bao lâu, pháp sư Đạo An dùng danh nghĩa của hội Phật giáo Trung Hoa tổ chức một hoạt động là Đại Chuyên Phật Học Giảng Tòa, cũng làm được vài năm. Lão hòa thượng muốn tôi đảm nhiệm vai trò tổng chủ giảng trong giảng tòa. Tôi nhớ đã đảm nhiệm chức vụ ấy 3 năm mấy. Khi đó, tôi mời tiên sinh Phương Đông Mỹ giảng phương pháp luận cho chúng tôi. Phương pháp luận trong khoa học là Lý tắc học, trong Phật pháp gọi là nhân minh. Dùng kinh bổn Phật pháp để giảng lý tắc học, thì gọi là nhân minh, mời thầy mở khóa học ấy. Thầy bảo tôi: “Tiểu thừa thì có thể dùng, sơ cấp thì có thể dùng, chứ tiến cao hơn, toàn bộ chẳng dùng được”.
Lần đầu tiên, tôi nghe thầy Phương nói chân tướng sự thật ấy: Phương pháp luận khoa học chẳng thể áp dụng cho pháp Đại thừa. Quý vị thấy 60 tiểu kiếp, thời gian ấy dài lắm! 20 tiểu kiếp là một trung kiếp, 60 tiểu kiếp là 3 trung kiếp, đức Phật giảng gì? Giảng kinh Pháp Hoa giống như trong một “thực khoảnh” (食頃), tức là thời gian một bữa cơm. Đó là nói về thời gian. Có thể thu gọn 60 tiểu kiếp thành một “thực khoảnh”, tức là thời gian một bữa cơm. Thời gian một bữa cơm có thể triển khai thành 60 tiểu kiếp. Đức Phật nói kinh Hoa Nghiêm càng chẳng thể nghĩ bàn, kinh nói là “Nhị thất nhật trung”. Nhị thất (二七) là 14 ngày. Ngài giảng bao nhiêu? Tam thiên đại thiên thế giới vi trần kệ, một tứ thiên hạ vi trần(5) phẩm. Trong Long cung, Bồ tát Long Thọ thấy địa cầu chẳng thể chứa đựng toàn bộ nguyên văn kinh Hoa Nghiêm! Trong 14 ngày, có thuyết nói là 21 ngày, sao lại có thể làm như vậy được? Nếu quý vị niệm bộ kinh ấy một lượt, nói theo trạng huống trong nhân gian chúng ta hiện thời, quý vị niệm 100 năm cũng chẳng xong, niệm một bộ cũng chẳng xong. Vì sao tôi biết? Tôi nhìn vào TứKhố Toàn Thư, quý vị mỗi ngày đọc TứKhố Toàn Thư 8 tiếng đồng hồ, đọc suốt 100 năm vẫn chưa xong. Kinh Hoa Nghiêm to hơn bộ sách ấy nhiều lắm. Đúng là vô lượng kiếp cô đọng thành 14 ngày, thật sự chẳng thể nghĩ bàn!
Kinh: “Như thị đẳng chư đại Bồ tát, vô lượng vô biên, nhất thời lai tập” (Kinh: Các vị đại Bồ tát như thế vô lượng vô biên, cùng một lúc nhóm họp). Những vị Bồ tát cùng một đẳng cấp, tức là Pháp thân Bồ tát, vô lượng vô biên! Nói rõ: Chẳng phải là một vạn hai ngàn người cùng một lúc nhóm họp.
“Tổng kết dĩ thượng đức tuân Phổ Hiền chi chư đại Bồ tát, vị thính văn, tán dương Tịnh tông diệu pháp cố, vị quảng hoằng Phổ Hiền nguyện vương cố, vị phổ độ thập phương tam thế nhất thiết hữu tình, vãng sinh Tịnh độ cứu cánh Niết bàn cố, đồng đức, đồng tâm, nhất thời lai hội. Tịnh Ảnh Sớ viết: Vị pháp tâm đồng, cố lai nhất thời” (Tổng kết: Các vị đại Bồ tát trên đây đều là đức tuân Phổ Hiền, do nghe giảng, khen ngợi diệu pháp Tịnh tông, do hoằng truyền rộng rãi nguyện vương Phổ Hiền, vì phổ độ mười phương ba đời hết thảy hữu tình vãng sinh Tịnh độ, đạt đến Niết bàn rốt ráo, đồng đức, đồng tâm, nên cùng một lúc nhóm đến. Tịnh Ảnh Sớ viết: “Vì pháp và tâm giống nhau, nên cùng lúc nhóm đến”). Đoạn này là tổng kết.
Đoạn tiếp theo cho biết trong đại hội này còn có những người như dưới đây. Kinh: Hựu hữu tỳ-kheo-ni ngũ bách nhân. (Kinh: Lại có tỳ-kheo-ni 500 vị). Đây là nữ chúng xuất gia. Kinh: Thanh tín sĩ thất thiên nhân (Kinh: Thanh tín sĩ 7.000 người). Đây là cư sĩ, ưu bà tắc. Kinh: Thanh tín nữ ngũ bách nhân (Kinh: Thanh tín nữ 500 người). Đây là nữ cư sĩ. Còn có: Kinh: Dục Giới Thiên, Sắc Giới Thiên, chư thiên Phạm chúng, tất cộng đại hội (Kinh: Trời Dục Giới, Trời Sắc Giới, chư thiên Phạm chúng đều cùng tới trong đại hội). Đoạn giải thích sau phần này của lão cư sĩ chúng ta đọc qua là được rồi.
“Thanh tín sĩ tức Ưu bà tắc, thanh tín nữ tức Ưu bà di. Dĩ thượng kinh văn, độc kiến Hán dịch. Ngụy dịch tắc cẩn hữu Bồ tát dữ tỳ-kheo chúng. Tống dịch kinh mạt viết: ‘Tịnh thiên long bát bộ nhất thiết đại chúng, văn Phật sở thuyết, giai đại hoan hỷ’, quân quảng ư Ngụy dịch” (“Thanh tín sĩ” là Ưu-bà-tắc (Upāsaka). “Thanh tín nữ” là Ưu-bà-di (Upāsikā). Ðoạn kinh trên chỉ thấy trong bản Hán dịch, bản Ngụy dịch chỉ chép chúng Bồ tát và tỳ-kheo. Cuối bản Tống dịch chép: “Cùng trời, rồng, tám bộ, hết thảy đại chúng, nghe lời Phật dạy, đều hoan hỷ lớn”, như vậy đều là phần nói rộng của bản Ngụy dịch vậy). Trên đây là Tự chứng phần. Chúng ta học tới chỗ này.![]()
[1] Đại Pháp Cự Đà La Ni Kinh gồm 20 quyển, 52 phẩm, do Ngài Xà Na Quật Đa dịch vào đời Tùy. Do Thiện Oai Quang thiên tử thỉnh vấn pháp Đà La Ni, đức Phật bèn nhập Đại Lực Trang Nghiêm Tam Muội, thuật lại chuyện chư Như Lai đã phóng quang nói kinh này trong đời quá khứ, và cách hành trì các pháp Đà La Ni.
[2] Thích Tăng Triệu (394-414) là đệ tử đắc ý và nổi danh nhất của La Thập Đại sư. Ngài họ Trương, người xứ Kinh Triệu (Trường An), nổi tiếng là một nhà lý luận và tư tưởng của Đại thừa Phật giáo tại Trung Hoa. Ngài được coi như đã có công bản địa hóa tư tưởng Trung Quán của Bát Nhã và mạnh dạn dùng những khái niệm sẵn có trong triết học Trung Hoa để diễn đạt tư tưởng Bát Nhã. Trước khi học Phật, Ngài từng học Nho, đặc biệt yêu thích Lão Trang, nhưng vẫn chưa cảm thấy thỏa mãn. Đến khi đọc kinh Duy Ma Cật, tỉnh ngộ, bèn xuất gia, nghiên cứu Phật học càng tinh thâm, chưa đầy hai mươi tuổi mà danh tiếng đã vang rền khắp nước. Về sau, nghe Ngài La Thập đến xứ Cô Tạng (nay thuộc huyện Vũ Oai, tỉnh Cam Túc), Sư tìm dến, vô cùng ngưỡng mộ, tận lực theo hầu. Khi Ngài La Thập đến Trường An, Ngài xin tham gia dịch trường, cùng với các vị Đạo Dung, Tăng Duệ và Đạo Sanh được gọi là Quan Trung Tứ Kiệt. Ngài đặc biệt tinh thông Trung Quán, nên được người đương thời tôn xưng là bậc Giải Không Đệ Nhất. Ngài cũng tham gia dịch trường của Ngài Phật Đà Da Xá để dịch Tứ Phần Luật và Trường A Hàm Kinh. Tiếc là Ngài mất rất sớm. Pháp sư Ấn Thuận hết sức ngưỡng mộ Ngài Tăng Triệu, tôn xưng Ngài là Đệ nhị tổ của Tam Luận tông.
[3] Câu này hơi khó hiểu nên chúng tôi mạn phép vẽ rắn thêm chân như sau: Theo Duy thức học, Tướng phần (vật chất) phát sinh từ Kiến phần (cái tâm phát sinh tác dụng nhìn thấy). Luận điểm này được diễn tả bằng câu: “Kiến thì nhất định phải thấy, hễ trông thấy bèn có huyễn tướng”. Tiếp đó, cổ nhân dùng một tỷ dụ giả thiết như sau: Trừng mắt nhìn hồi lâu, do mắt mỏi, sẽ thấy các đốm sáng chao lượn trước mắt”, tức là do từ cái nhìn đó mà có huyễn tướng xuất hiện. Hòa thượng nói tỷ dụ này không phù hợp lắm (vì mắt mỏi mà có tướng hoa đốm, chẳng liên quan đến vọng tâm), vẫn chưa giải thích rõ vì sao từ Kiến phần sinh ra Tướng phần, nên mới bảo là: “Dùng cách ấy để nói thì không khoa học”. Hòa thượng cho rằng: Do Kiến phần (tác dụng của tâm thức, tức là vọng tâm), vọng tâm thường sinh khởi ý niệm, vật chất do ý niệm tích lũy tạo thành. Đấy chính là đã nói rõ Kiến phần sinh ra Tướng phần.
[4] Chùa Quán Tông ở thành phố Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang, được sáng lập vào năm 1081 bởi pháp sư Giới Nhiên. Ngài Giới Nhiên là đồ tôn đời thứ 5 pháp sư Tri Lễ (tổ thứ 17 của tông Thiên Thai). Thoạt đầu, chùa mang tên Thập Lục Quán Đường trực thuộc chùa Diên Khánh. Chùa gần như hoang phế dưới thời Quang Tự. Ngài Đế Nhàn đã trùng tu chùa này, khôi phục tông phong Thiên Thai. Chùa trải qua nhiều nỗi thăng trầm: Năm 1951 bị nhà nước tịch thu biến thành trường huấn luyện cán bộ, rồi trường Đảng vào năm 1958, phá bỏ rất nhiều kiến trúc trong chùa. Đến năm 1993, mới được trả lại cho Phật giáo, và đưa về trực thuộc chùa Diên Khánh như cũ.
[5] Tứ Thiên Hạ là danh xưng khác của Tứ Bộ Châu (Đông Thắng, Tây Ngưu, Diêm Phù và Bắc Câu). Gọi là Tứ Thiên Hạ vì tầng trời ngay trên Tứ Bộ Châu là tầng trời của 4 vị Thiên Vương (Đa Văn, Quảng Mục, Trì Quốc, Tăng Trưởng). “Tứ thiên hạ vi trần” nghĩa là số vi trần trong một tứ thiên hạ.


























































































































































Bình luận bài viết