Thông tin

TỊNH ĐỘ ĐẠI KINH GIẢI DIỄN NGHĨA - TẬP 143

 

 

Chủ giảng: LÃO PHÁP SƯ TỊNH KHÔNG

*****

Trưởng ban biên dịch:

TK. Thích Đồng Bổn

 

QUYỂN 15

(Tập 141 – 150)

 

TẬP 143

 

Địa điểm: Hiệp Hội Giáo Dục Phật Đà HongKong

Thời gian: 14.9.2010

Chuyển ngữ: Hạnh Chơn

Biên tập: Bình Minh

 

Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin mời quý vị xem tiếp Đại thừa Vô Lượng Thọ Kinh Giải, trang 165, hàng thứ 5, từ dưới đếm lên. Bắt đầu xem từ câu “Đạo sư giả”. 2 từ “đạo sư” này là kinh văn. “Đạo sư là chỉ dẫn mọi người đi vào Phật đạo. Thập Trú Đoạn Kiết Kinh nói: Gọi là đạo sư, khiến chúng sinh hiểu được chính đạo của mình. Hoa Thủ Kinh nói: Có thể vì người mà nói đạo không có sinh tử, nên gọi là đạo sư”.

Cách xưng hô này ở trong kinh điển Đại thừa, là tôn xưng đối với đức Phật, không được xưng hô tùy tiện. Trong Phật pháp, cách xưng hô này là thường thức, cần phải biết. Thông thường, trong xã hội, danh từ hòa thượng ai cũng biết, nhưng bây giờ hàm nghĩa rất mơ hồ, thậm chí sinh ra hiểu lầm nghiêm trọng. 2 từ này là dịch âm tiếng Phạn, nghĩa của nó là thân giáo sư, nên mối liên quan này vô cùng mật thiết, cũng vô cùng quan trọng.

Trong một trường học, Phật pháp đích thực là trường học, người chủ trì việc giáo hóa là hiệu trưởng, họ nắm giữ chính sách dạy học, do họ mời thầy giáo. Tất cả thầy giáo dạy học đều không thể tách rời tôn chỉ dạy học, khiến việc dạy học đạt đến mục tiêu hoàn thiện nhất. Bởi vậy, việc giáo dục làm có thành công hay không, mấu chốt ở vị hiệu trưởng, không do thầy giáo. Thầy giáo chỉ chấp hành. Sách lược chung, tổng chỉ huy là người hiệu trưởng, nên hòa thượng chính là hiệu trưởng.

Một đạo tràng chỉ có một người được gọi là hòa thượng, thông thường gọi là phương trượng, trú trì, người này được gọi là hòa thượng. Ngoài người này ra, những người xuất gia khác không được gọi là hòa thượng, mà gọi là A xà lê. Người xưa, có khi ngôn ngữ đơn giản, gọi là Xà lê. Xà lê nghĩa là A xà lê, đều là tiếng Phạn. Xà lê tức là thầy giáo bình thường, như giáo thọ ở trường. Giáo thọ trong trường đại học gọi là Xà lê, hiệu trưởng mới gọi là hòa thượng, nên hòa thượng vô cùng tôn quý. Một đạo tràng lớn chỉ có một vị hòa thượng, không có nhiều. Bây giờ, chỉ cần nhìn thấy người xuất gia, người ta đều gọi là hòa thượng. Đối với Phật pháp, danh từ này là chưa thật sự hiểu rõ. Hiểu thật sự sẽ không có tình hình này. Bây giờ, cũng rất ít người nói đến vấn đề này. Chúng ta học đến đây, cần phải nói rõ một chút.

Phật giáo là đường lối của thầy, nó không phải tôn giáo. Trong tôn giáo không có xưng hô này - thân giáo thọ. Không có xưng hô này, chỉ có trường học mới có. Ở trong trường học đầy đủ điều kiện của một hòa thượng, dùng cách nói hiện nay để nói, một người hiệu trưởng của trường. Họ thật sự là thân giáo sư. Còn một người nữa cũng có thể gọi là hòa thượng, đó là người trực tiếp chỉ đạo ta, dạy ta. Quan hệ của người này, tuy họ không phải hiệu trưởng của trường, nhưng mối liên quan của người này với chúng ta đặc biệt mật thiết. Chúng ta học theo họ, hiện nay gọi là giáo thọ chỉ đạo. Trong trường rất nhiều giáo thọ. Không có chỉ đạo, chúng ta không học môn của họ, chúng ta chỉ gọi họ - trong Phật giáo gọi là Xà lê, gọi là A xà lê, tức thông thường gọi là thầy giáo. Trực tiếp dạy chúng ta, quan hệ này rất quan trọng, đây cũng có thể gọi là hòa thượng.

Phật pháp là đường lối của thầy. Quý vị xem chúng ta xưng Phật, là tôn xưng đối với Phật, Phật là hòa thượng. Là hòa thượng thật sự của chúng ta, hòa thượng duy nhất. Phật cũng gọi là đạo sư, nên đạo sư là tôn xưng đối với Phật. Một xưng hô khác gọi là đại sư. Đại sư không phải xưng hô tùy tiện. Đại sư là xưng hô đối với Phật. Quý vị xem trong truyền thống xưa, những người xuất gia, họ rất có thành tựu, nhưng không được xưng đại sư. Trong Thiền tông, họ có thành tựu, gọi là thiền sư; trong Giáo môn có thành tựu, gọi là pháp sư. Thông đạt tam tạng, nghĩa là có tư cách phiên dịch kinh điển, chúng ta gọi là tam tạng pháp sư. Đều dùng cách xưng hô này, chứ không gọi họ là đại sư.

Ngày xưa, đế vương phong hiệu cho họ, thông thường gọi là quốc sư. Đó đều là phong hiệu, thầy của hoàng đế. Quốc vương, đại thần tiếp thu chỉ dẫn của họ, tiếp thu giáo huấn của họ, xưng là quốc sư. Thông đạt kinh, luận, gọi là kinh sư, luận sư. Thông đạt giới luật, gọi là luật sư. Những xưng hô này đều có sở trường, tam tạng kinh, luật, luận thông đạt giống nhau, là xưng hô như vậy. Xưng pháp sư, xưng đại pháp sư, là tôn kính, kính xưng đối với họ. Những thường thức này, chúng ta đều phải biết. Cách xưng hô sai lầm đó đều là người ngoài.

Trong các tông phái khác nhau, người tu học có thành tựu, thông đạt một tông phái, cũng xưng là pháp sư. Đây là thói quen, chúng ta có thể nhìn thấy. Nhưng duy nhất Tổ sư của Tịnh Độ tông, quen gọi là đại sư, còn tổ sư các tông phái khác đều không xưng hô như vậy. Vì sao vậy? Vì đại sư là Phật. Đại sư ở đây, họ có thể đưa người vào Phật đạo, vào là khai ngộ. Họ có năng lực này. Giúp người tin hiểu chưa đủ, phải giúp người ngộ nhập, người này mới được gọi là đại sư.

Vì sao Tịnh Độ tông xưng là đại sư? Đây cũng có đạo lý của nó. Những người tu hành của Tịnh Độ tông, họ có thể giúp người học, tức học trò, niệm Phật vãng sinh Tịnh độ, sinh Tịnh độ là thành Phật, không có gì khác với tu học chứng quả đại triệt đại ngộ. Đặc biệt là trong kinh điển nói rất rõ ràng, sinh đến thế giới Cực Lạc đều làm Bồ tát A Duy Việt Trí, như vậy không đáng nể ư? A Duy Việt Trí là người minh tâm kiến tính, đại triệt đại ngộ. Họ vượt ra mười pháp giới, sinh đến cõi Thật Báo Trang Nghiêm của chư Phật Như Lai, nên Tổ sư Tịnh Độ tông được gọi là đại sư.

Quý vị xem, thông thường, chúng ta xưng Đại sư Ấn Quang, Đại sư Huệ Viễn. Đây là thói quen trong Phật giáo, chúng ta cần phải hiểu. Đại sư tuyệt đối không được xưng hô tùy tiện. Tuy chúng ta rất tôn kính họ, cung kính họ, nhưng không được quá đà. Người xưa gọi là lễ tiết. Tiết là có tiết độ, không được vượt quá. Gọi đại sư là vượt ra khỏi mức độ, xem họ giống như Phật, địa vị giống như Phật. Điều này, cần phải biết.

Kinh Thập Trụ Đoạn Kiết, nói rất hay: “Gọi là đạo sư, khiến chúng sinh hiểu rõ đi vào chính đạo”. Chúng sinh rất nhiều, rất rộng, chúng sinh trong mười pháp giới. Có năng lực giúp họ, hướng dẫn họ, dạy rõ chính đạo, giúp họ minh tâm kiến tính, kiến tính thành Phật, như vậy gọi là đạo sư. Trong kinh Hoa Thủ nói: “ thể vì người nói đạo không có sinh tử, gọi là đạo sư”. Không có sinh tử là Đại Bát Niết Bàn, đều là giúp chúng sinh siêu phàm thành thánh. Không chỉ là chuyển mê thành ngộ, còn phải chuyển phàm thành thánh, người như vậy mới có thể xưng là đạo sư. Kinh Phật Báo Ân, nói: “Đại đạo sư, dùng chính lộ để nói rõ con đường Niết Bàn”. Kinh là con đường, con đường này là thông đến Bát Niết Bàn. “Khiến đạt được vô vi thường lạc”, bên dưới có một chú giải: “Vô vi là chỉ pháp vô vi. Thường lạc là chỉ thường lạc ngã tịnh”, điều này vô cùng rõ ràng. Trong kinh Hoa Nghiêm là cảnh giới của 41 vị Pháp thân đại sĩ, có thể dạy người chứng được Pháp thân đại sĩ, người này gọi là đạo sư, gọi là đại đạo sư.

Trong Chân Giải lại nói: “Bậc đạo sư tu hành, tức Di Đà Thế Tôn, bình đẳng tiếp dẫn tất cả mọi người. Còn đại đạo sư, tức Di Đà Thế Tôn, lấy bản nguyện dẫn nhiếp Ngũ thừa”. Chân Giải hoàn toàn y theo Tịnh tông mà nói. Đây là trong chú giải kinh Vô Lượng Thọ, nói. “Bậc đạo sư tu hành, tức Di Đà Thế Tôn bình đẳng tiếp dẫn không sót một ai”.

Ở đây, chú trọng 2 từ “bình đẳng”. Tiếp nối bên dưới: “Bậc đại đạo sư, tức Di Đà Thế Tôn dùng bản nguyện dẫn nhiếp Ngũ thừa”. Quý vị xem ở trước nói bình đẳng tiếp dẫn tất cả, còn Ngũ thừa là nói Nhân thừa, Thiên thừa. 2 loài này thông thường gọi họ là Tiểu quả nhân thiên, hoặc là Nhân thiên thừa, đến tiểu quả đều không nói được. Vì sao vậy? Vì chưa ra khỏi luân hồi lục đạo. Thanh Văn, Duyên Giác là Tiểu thừa. Thông thường, gọi Thanh Văn là Tiểu thừa, Duyên Giác là Trung thừa, Bồ tát là Đại thừa, gọi là Ngũ thừa Phật pháp. Ý này, chính là nói đạo sư có năng lực, khiến tất cả chúng sinh đều được độ bình đẳng. Điều này, chỉ có Phật A Di Đà mới làm được, một số người thật sự không làm được. 48 nguyện của Phật A Di Đà tiếp dẫn tất cả chúng sinh.

Bên dưới, Hoàng Niệm Tổ nói với chúng ta: “Nên bây giờ Bổn sư diễn thuyết kinh này”, Bổn sư là đức Thế Tôn. Ngài là bậc thầy căn bản của chúng ta, nên mối liên hệ của chúng ta đối với đức Thế Tôn, chư vị nhất định phải hiểu rõ ràng mối quan hệ thầy trò. Phật là thầy của chúng ta. Chúng ta là học trò của Ngài, nên tự xưng là đệ tử. Ngày xưa, hết sức chú ý cách xưng hô, vì mắc xích căn bản trong lễ tiết không thể xưng hô sai. Chúng ta đối với bất cứ ai, khiêm tốn đều là xưng danh. Đây là cổ lễ.

Hiện nay, rất nhiều người không biết. Ví dụ, chúng ta thấy rất nhiều thứ trước mắt, hoặc là viết văn tự cho chúng ta, tự xưng là mạt học, tự xưng là hậu học, điều này không được. Phải như thế nào? Xưng danh. Tôi đối với những người lớn hơn một bậc đều tự xưng là Tịnh Không. Đối với cha mẹ cũng là tự xưng tên, xưng tên là cung kính nhất, khiêm tốn nhất. Mạt học, có thể xưng với người ngang hàng, nhưng xưng danh vẫn tốt hơn. Đây là cách xưng hô cung kính nhất. Tôn xưng thông thường với đại chúng là xưng thiện tri thức. Trong kinh nói: “Thiệnnamtử,thiệnnữ nhơn”. Người xưa, thường gọi là đại đức, gọi là nhân giả. Cách này đều rất hay, đều là cách xưng hô trong kinh Phật. Đại đức, nhân giả đều là tôn xưng đối với pháp sư A La Hán. Đây là lễ tiết thông thường.

Hiện nay, Bổn sư Thế Tôn diễn thuyết kinh này, “đúng là trú nơi chỗ tu hành của Phật A Di Đà”. Nơi tu hành của Phật A Di Đà không có gì khác, khắp mười phương thế giới thị hiện giảng kinh thuyết pháp. Những điều này, chúng ta đều rất quen thuộc. Cần dùng thân gì để độ, họ liền hiện thân đó. Phẩm loại chúng sinh không đồng, trình độ khác nhau rất lớn, Phật, Bồ tát giáo hóa chúng sinh khế lý khế cơ. Khế cơ tức là nói nội dung dạy học, thích hợp trình độ của học sinh. Trình độ học trò cạn, quý vị không thể nói quá cao thâm, họ không hiểu, nghe không hiểu. Trình độ học sinh cao, quý vị nói cạn họ không vừa ý. Cần phải thích hợp đúng mức, họ nghe xong mới thấy hoan hỷ, họ nghe mới có tín tâm. Điều này, thật sự cần phải có trí tuệ chân thật. Không có trí tuệ chân thật, không thể quán cơ được.

Họ vừa nhìn là biết được căn tính của quý vị, không những biết đời này của quý vị, họ còn biết nhiều đời kiếp quá khứ quý vị học những gì. Trong A Lại Da thức quý vị có chủng tử gì, họ biết hết. Trong lúc này, cần phải nói với quý vị những gì, để những hạt giống trong A Lại Da thức khởi hiện hành. Khởi hiện hành là giúp quý vị ngộ nhập. Đây là điều không dễ, là khế cơ. Khế lý lại dễ hơn. Lý là gì? Là những gì chư Phật Như Lai chứng được. Chúng ta học tập kinh giáo thời gian dài, gọi là thâm nhập kinh tạng. Đối với lý sẽ không mê thất, nhưng quán cơ là chân công phu. Điều này không dễ. Pháp thế gian, đó là kinh nghiệm dạy học, nhưng không sánh được người có tu có chứng. Sự quán cơ này, phải là công phu đắc lực, không sao sánh bằng họ. Vì thế, chúng sinh phải có nhân duyên gặp được Phật, Bồ tát. Gặp được Phật, gặp được Bồ tát, Pháp thân Bồ tát, hầu như không ai không khai ngộ.

Suốt đời, chúng ta không gặp được là nghiệp chướng mình quá nặng, tuyệt đối không phải nói không có cảm ứng với Phật, Bồ tát. Tâm chúng ta cầu Phật, ý niệm vừa khởi, Phật, Bồ tát liền nhận được tin tức của chúng ta, họ lập tức đến giúp. Vì sao chúng ta không thấy không nghe? Đây là nghiệp chướng. Trước đây, Đại sư Chương Gia nói với tôi về vấn đề này, nghiệp chướng tiêu trừ, cảm ứng liền hiện tiền. Chúng sinh có cảm, Phật nhất định có ứng. Chúng ta rõ ràng cầu Phật, Bồ tát gia trì, đây là hiển cảm, làm gì có chuyện không ứng? Nhân duyên ta thuần thục, tuy chưa có ý niệm cầu Phật, đó gọi là minh cảm, đức Phật biết cũng đến thị hiện cho quý vị, cũng đến dẫn dắt quý vị, quý vị cũng có thể hoát nhiên đại ngộ, không phải quý vị có tâm cầu. Ngẫu nhiên, hình như rất ngẫu nhiên, thật ra không phải ngẫu nhiên, quý vị là minh cảm, Phật, Bồ tát hiển cảm.

Cách nói này đều có trong kinh, trong điển tịch của lịch đại tổ sư đại đức. Trong trước thuật, truyện ký của họ, chúng ta có thể lãnh hội được chân tướng sự thật này. Là thật, không phải giả. Do đó, chúng ta biết sám trừ nghiệp chướng là phương pháp tu học quan trọng. Trong đời này, sở dĩ chúng ta học một cách khó khăn như vậy, thậm chí đời này phương hướng, mục tiêu đều sai, không đạt được quả báo mà chúng ta mong cầu hy vọng, toàn là nghiệp chướng làm chướng ngại. Vì vậy, nhất định phải học những người tu học chân chính, mỗi ngày sám trừ nghiệp chướng, bản thân chúng ta không biết.

Trong kinh ĐịaTạngnói rất hay: Chúng sinh trong cõi Diêm Phù Đề, là nói chúng sinh ở địa cầu chúng ta, khởi tâm động niệm không có gì không phải tội, không có gì không phải nghiệp. Lời Ngài nói chúng ta tin được chăng? Bình tĩnh tỉ mỉ để lãnh hội, mới thấy Ngài nói không sai chút nào. Chúng ta khởi tâm động niệm, hầu như đều rơi vào tham, sân, si. Đây gọi là tam độc. Khởi tâm động niệm tương ưng với tam độc, như vậy sao không phải là tội nghiệp? Kinh ĐịaTạngnói không quá đáng chút nào. Nếu ý niệm này rơi vào danh văn, lợi dưỡng, ngũ dục, lục trần, đó chính là thâm sân. Tôi đã đạt được, đây là tâm tham. Khi chưa đạt được, thì có oán hận, có đố kỵ, có tâm sân nhuế. Mê mà không giác là ngu si.

Trong Tịnh Độ, thế nào gọi là giác ngộ? Đối với tất cả vọng tưởng, tạp niệm đều buông bỏ hết. Khởi tâm động niệm đều tương ưng với Phật A Di Đà, chính là một câu Phật hiệu, người này thật sự đã giác ngộ. Vì sao vậy? Vì họ nhất tâm nhất ý, không có niệm thứ hai, chỉ cầu vãng sinh Tịnh độ, thân cận Di Đà. Người này, tuy không giống cảnh giới đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tính của Tông môn, Giáo môn, nhưng hiệu quả và kết quả của họ không có gì khác với những người minh tâm kiến tính. Vì sao vậy? Vì họ cầu vãng sinh, thật sự vãng sinh, vừa đến thế giới Cực Lạc không phải chính là Bồ tát A Duy Việt Trí ư? A Duy Việt Trí, nghĩa là đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tính. Đây gọi là thật sự giác ngộ.

Ngày nay, chúng ta dựa vào Tông môn, Giáo môn để giác ngộ, khó, quả thật không đơn giản. Tông môn là triệt ngộ, đại triệt đại ngộ. Giáo môn là đại khai viên giải, đạt được tam muội từ trong kinh giáo. Học Hoa Nghiêm được Hoa Nghiêm Tam Muội, học Pháp Hoa là được Pháp Hoa Tam Muội. Họ đi là con đường Giới, Định, Tuệ, rất khó, không phải ai cũng có thể đạt được. Người tu hành rất nhiều, nhưng rất ít người đạt đạo. Tông môn, Giáo môn đều không ngoại lệ. Duy có Tịnh tông thành tựu thù thắng, nên pháp môn này được Thế Tôn khen ngợi.

Thế Tôn vì chúng ta khai diễn bộ đại kinh này, mười phương chư Phật khen ngợi, làm chứng, giúp chúng ta tin hiểu, phát nguyện tu hành. Ân đức này không gì sánh được, trong pháp thế gian và xuất thế gian đều không tìm được. Pháp môn này trong kinh nói là đạo thù thắng; thù thắng không gì sánh bằng. Con đường thù thắng chính là niệm Phật vãng sinh. Vì sao vậy? Vì đây mới thật sự phổ bị tam căn, viên nhiếp Ngũ thừa. Nói thật, không chỉ Ngũ thừa, đến súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục đều là do bộ kinh này, pháp môn này, mà có thể được độ. Được độ ở đây không phải được độ bình thường, mà là một đời thành Phật.

Những năm lại đây, chúng ta cũng gặp được một số người thông linh, người ta thường gọi là đồng bóng. Những người này, cũng không phải hoàn toàn mê tín. Họ tham gia TamThời Hệ Niệm của chúng ta. Họ có năng lực thấy được điều mà ta không thấy. Chúng sinh của cõi Trời, như Tứ Vương Thiên, Đao Lợi Thiên của Dục Giới Thiên rất dễ thấy được. Chúng sinh quỷ đạo, chúng sinh đường địa ngục, có khi đến dựa thể, tôi tin đây không phải giả. Họ lộ tin tức cho chúng ta, những pháp sự này đích thực có hiệu quả. Chúng ta nên dùng tâm chân thật để làm.

Cổ nhân nói rất hay, đã nắm bắt được nguyên tắc chung: “Thành tức linh”. Cổ nhân tế kỵ, quý vị xem trước khi tế kỵ 3 ngày phải tắm rửa trai giới. Vì sao vậy? Chân thành cung kính, họ sẽ có cảm ứng, tế thần như thần tại. Chúng ta tổ chức những pháp hội, nếu người lãnh đạo pháp hội này chân thành cung kính, sẽ chiêu cảm được sự thù thắng cho đạo tràng. Những quỷ thần này thật sự có vãng sinh, nên lợi ích của pháp môn này không chỉ Ngũ thừa, mà còn có Súc sinh đạo, Thiên đạo, Ngạ quỷ đạo, Địa ngục đạo, họ đều được lợi ích, nhưng ít. Đa số, những chúng sinh trong Ngạ quỷ đạo này, đến Súc sinh đạo, đến Nhân đạo, cũng có một số đến Thiên đạo. Đây đều là lợi ích chân thật, nên pháp môn Tịnh Tông được gọi là đạo tối thắng.

Tịnh Ảnh Sớ nói: “Vô Thượng Bồ Đề là đạo tối thắng”. Vô Thượng Bồ Đề là con đường thành Phật. Pháp môn Tịnh Tông này là dạy chúng ta trực tiếp thành Phật, trong một đời nhất định chứng được Vô Thượng Bồ Đề, Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác, nên gọi là đạo tối thắng. Tất cả chúng sinh có duyên, đều có thể chứng được. Điều này, quá hy hữu! Điều kiện chỉ 3 từ: Tín, Nguyện, Hạnh. Vãng sinh tức là chứng.

Đức Phật đến tiếp dẫn ta vãng sinh, như vậy tức là chứng quả. Nhưng 3 từ Tín, Nguyện, Hành này đều không dễ. Xem ra hình như rất dễ, nhưng có mấy người thật tin? Có được mấy người thật sự phát nguyện? Chúng ta đã thấy được, người tin thật, nguyện thật, hành thật, tuyệt đại đa số 3 năm là thành tựu, đó là cổ nhân. Trong VãngSinhTruyện,chúng ta thấy, trong Tịnh Độ Hiền Thánh Lục, chúng ta thấy như vậy.

Người bây giờ, người tu hành hiện nay, chúng ta quan sát tỉ mỉ cũng có, khắp nơi đều có, chỉ là rất ít người tuyên dương, thậm chí nói đạo tràng nào cũng có. Người tinh tấn tu hành, y giáo phụng hành, họ không tuyên dương. Người thực hành, họ vô cùng khiêm tốn, đều cảm thấy bản thân mình, bất luận là về mặt đạo hạnh, tu hành hay tin hiểu đều không bằng người khác, rất khiêm tốn. Nhưng khi họ ra đi, biết trước giờ chết, phần nhiều đều không có bệnh khổ, không tật bệnh mà chết. Khi đi rõ ràng minh bạch, nói với những người quanh mình, nói với họ, đức Phật đã đến tiếp dẫn. Tôi đi đây. Khuyến khích mọi người tinh tấn nỗ lực, cố gắng tu hành, tương lai gặp lại ở thế giới Cực Lạc.

Ở HongKong, pháp sư Đàm Hư thường nói trường hợp trong đời, Ngài tận mắt chứng kiến là trước đây, sư Tu Vô ở chùa Cực Lạc tại Cáp Nhĩ Tân. Những câu chuyện này, Phật giáo gọi là công án, chính là một trường hợp. Trong truyện ký của pháp sư Đàm Hư, trong ẢnhTrầnHồi Ức Lục ghi chép rất nhiều. Trong đời pháp sư tận mắt chứng kiến, tự thân tham dự lúc sư Tu Vô vãng sinh. Lúc đó, ông là trụ trì chùa Cực Lạc. Chùa Cực Lạc là ông xây dựng. Khi xây chùa xong, ông mời thầy mình là Hòa thượng Đế Nhàn mở một giới đàn, mời Hòa thượng Đế Nhàn làm Hòa thượng đắc giới, pháp hội này hơn một tháng.

Sư Tu Vô xuất gia từ sớm, đến xin làm công quả trong giới đàn. Lúc đó là pháp sư Định Tây - sau này đều ở HongKong - hỏi thầy Tu Vô: Thầy có thể làm được công việc gì? Sư Vô Tu nói, con hy vọng có thể cho con một cơ hội, là chăm sóc các giới tử bị bệnh trong giới đàn. Vì người rất nhiều, những bệnh như thương hàn, cảm mạo cũng cần người chăm sóc, đương nhiên là việc tốt, nên đã lưu lại. Sư không biết chữ, chưa từng đi học. Khi chưa xuất gia, sư làm nghề thợ nề, làm tiểu công. Sau khi xuất gia, ở trong chùa đều làm những công việc nặng nhọc. Người khác không muốn làm, sư đều làm, nhẫn nhục chịu khó.

Nhưng sư có một ưu điểm là nhất tâm niệm Phật, chuyên niệm Phật A Di Đà, làm việc rất siêng năng. Sư đến chùa Cực Lạc thời gian chưa được bao lâu, hình như là mười mấy ngày. Sư liền đi tìm hòa thượng, tức pháp sư Đàm Hư, đến tìm vị trú trì để xin nghỉ. Pháp sư Đàm Hư cảm thấy kỳ lạ, giới đàn vẫn chưa kết thúc, thầy phát tâm đến làm công quả, sao lại thoái đạo tâm rồi, có việc gì quan trọng chăng? Sư liền nói, con không có việc gì khác, mà con phải đến thế giới Cực Lạc. Hòa thượng nghe vậy liền hỏi, ông biết trước giờ chết? Dạ đúng vậy. Khoảng bao lâu? Không quá 10 ngày. Ngài Đàm Hư rất coi trọng. Pháp sư Định Tây cũng cảm thấy rất thù thắng hiếm có. Sư yêu cầu chuẩn bị cho sư một gian phòng, chuẩn bị một ít củi, để dùng hỏa hóa khi vãng sinh. Mời vài người bạn đồng tu tiễn đưa sư, trợ niệm giúp sư. Hòa thượng đều đáp ứng, được chúng tôi sẽ chuẩn bị.

Đến ngày thứ hai, sư lại đến tìm hòa thượng. Bạch hòa thượng, ngày mai con sẽ đi. Mọi người liền nhanh chóng chuẩn bị những thứ sư nhờ. Thật vậy, sư đã vãng sinh thật, không phải giả, ngồi kiết già vậy mà ra đi. Lúc đó, Hòa thượng Đế Nhàn làm Đắc giới hòa thượng vẫn chưa đến, thì sư đã vãng sinh. Khi Ngài Đế Nhàn đến, thấy tình hình này vô cùng tán thán.

Người xuất gia đích thực rất nhiều pháp sư, hòa thượng nổi tiếng đều không bằng. Người trong chùa đều coi thường sư, nhưng sư là một người thật sự tu khổ hạnh. Việc khó nhất trong chùa, việc mà người khác không muốn làm, sư đều làm, suốt ngày từ sáng đến tối chỉ một câu Phật hiệu. 3 năm thành tựu, giống như trường hợp này rất nhiều, Phật tử tại gia lại càng nhiều, đa phần đều là những ông bà cụ không biết chữ, thành tựu của họ rất cao. Vì thế, chúng ta thấy được, nghe được, trong lòng phải ghi nhớ, nhất định không được khinh thường những người này.

Họ tu âm thầm, chúng ta không nhìn thấy. Sự âm thầm này là gì? Chính là một câu A Di Đà Phật, thật sự làm được như Bồ tát Đại Thế Chí dạy: “Đều nhiếp lục căn. Tịnh niệm tương tục”. 6 căn của họ không phan duyên bên ngoài. Lời này, nói như thế nào? Họ không có tự tư, tự lợi, họ không có danh văn, lợi dưỡng, họ không tham hưởng thụ ngũ dục, lục trần. Chỉ biết phục vụ đại chúng thường trú, hy vọng có thể làm một cách tận thiện tận mỹ, khiến mọi người đều hoan hỷ. Dùng cách này để cúng dường đại chúng là tu phúc, thật sự tu phúc, phúc tuệ song tu. Niệm một câu A Di Đà Phật không gián đoạn, là tu tuệ. Hàng ngày họ làm gì? Mỗi ngày đều phúc tuệ song tu. Thời gian vài ba năm, công phu của họ đã thành tựu. Quý vị thấy họ đi một cách rất tự tại, họ đi rất tiêu sái, thị hiện cho chúng ta thấy. Họ đi như vậy là làm Chứng chuyển, một trong tam chuyển pháp luân của Như Lai. Họ không biết giảng kinh, cũng không biết thuyết pháp, cũng không biết làm sao để độ chúng sinh. Chính bản thân họ làm, chứng minh cho chúng ta vấn đề này là thật, không phải giả.

Khi sư Tu Vô vãng sinh, bên cạnh có mười mấy người trợ niệm, họ nói với sư Tu Vô, các bậc đại đức xưa nay, công phu thuần thục tự tại vãng sinh, đều lưu lại mấy bài thơ, lưu lại bài kệ để chúng ta làm kỷ niệm, sư cũng không thể ngoại lệ. Sư Tu Vô nói, tôi không biết chữ, chưa từng đi học. Tôi cũng không biết làm thơ, cũng không biết làm kệ, chẳng qua tôi có mấy câu muốn nói với quý vị: “Nói được không làm được, không phải chân trí tuệ”. Sư chỉ nói một câu như vậy rồi ra đi. Pháp sư Đế Nhàn nghe vậy, những người ở đó nói với ông, quả rất khâm phục! Vì thế, pháp môn này được gọi là đạo tối thắng, là thật không phải giả. Pháp môn này, dạy chúng ta một đời chứng được Vô Thượng Bồ Đề.

Hội Sớ lại giải thích rằng: “Đối với trong tất cả thế gian và xuất thế gian, không có gì sánh được”. Sánh là nói trong đồng loại có thể sánh với nó, không có. Bất luận là Tông môn, Giáo môn, Hiển giáo, Mật giáo, pháp môn Niệm Phật quả thật là đệ nhất. Có thể nói nó không có bất kỳ điều kiện gì, quý vị thấy chỉ đơn giản như thế. Tuyệt đối không được hoài nghi, thâm tín không nghi, thật sự phát đại nguyện. Đời này, ta không cầu gì cả, chỉ cầu vãng sinh thế giới Cực Lạc. Quý vị thấy chỉ một phương hướng, một mục tiêu. Một phương hướng là Tây Phương, một mục tiêu là thế giới Cực Lạc, một nguyện vọng là thân cận Di Đà, vô cùng đơn thuần.

Hành là gì? 6 từ hồng danh, tịnh niệm tương tục. Niệm này gọi là tịnh niệm. Vì sao vậy? Vì không có hoài nghi, không có tạp niệm, gọi là tịnh niệm. Bán tín bán nghi, trong niệm Phật xen lẫn nhiều vọng niệm, như vậy không được. Vì sao có tạp niệm? Vì có nghi ngờ, vì chưa buông bỏ, tâm chưa chuyên. Nếu ta chỉ có một phương hướng, một mục tiêu, ngoài ra đều không cần, buông bỏ hết, như vậy làm sao có tạp niệm được? Đó là điều không thể, nhất tâm xưng niệm tức là tịnh niệm. Nếu dùng hai tâm, nhiều tâm xưng niệm, niệm Phật vẫn nghĩ đến những chuyện khác, nên niệm không thanh tịnh. Tâm tịnh tức cõi Phật tịnh. Điều đầu tiên là phải nói đến tâm thanh tịnh, không cho phép ta có tạp niệm.

Đời này, tôi đến thế gian gặp được pháp môn này, khi chưa gặp pháp môn này không biết, như vậy gọi là không có phúc. Gặp được pháp môn này, gặp được bộ kinh điển này, nói một cách rõ ràng minh bạch, nếu tôi không y giáo phụng hành, như vậy là bỏ lỡ qua!

Đại sư Thiện Đạo nói, pháp môn này là “Vạnngườitu vạn người đi”, không sót bất kỳ ai, lời này là thật. Đại sư Thiện Đạo ở Nhật Bản rất nhiều người nói Ngài là Phật A Di Đà tái lai. Ngày xưa, có truyền thuyết này. Tôi đến Nhật phỏng vấn, hỏi những bậc cao tăng của Tịnh Độ tông Nhật Bản. Hỏi họ có biết chuyện này chăng? Họ biết, và tin như vậy. Người Nhật đối với Đại sư Thiện Đạo vô cùng sùng kính, rất nhiều chùa thuộc Tịnh tông lấy tên chùa Thiện Đạo, nên khi thấy chùa Thiện Đạo, thì biết đó là đạo tràng Tịnh Độ. Vạn người tu vạn người đi, là được nói ra từ kim khẩu của Phật A Di Đà. Ngài Thiện Đạo là Phật Di Đà tái lai, không phải là được nói ra từ kim khẩu của Ngài sao? Chúng ta có thể không tin được sao? Phụng hành tức là tin thật. Quý vị nói tôi rất tin, nhưng không hành trì, như vậy Tín và Nguyện có vấn đề.

Điều này, trước đây Đại sư Chương Gia nói với tôi: Phật pháp khó, biết dễ hành. Nếu không thật sự tu, là cái biết của ta có vấn đề. Đại sư nói không phải do hành, mà ở chỗ cái biết. Đây là vấn đề thuộc về triết học, khó biết dễ hành. Đây là thật, không phải giả. Vì sao tín tâm chúng ta không kiên quyết, nguyện tâm cũng không kiên định? Chúng ta cũng rất muốn, có nghĩ đến những bậc cao tăng ngày xưa, họ tin sâu nguyện thiết như vậy, phải làm sao? Phải học nhiều kinh giáo, chúng ta tin mới có thể chân, nguyện mới có thể thiết.

Lúc đức Thế Tôn còn tại thế, 49 năm giảng kinh thuyết pháp. Vì sao vậy? Chúng ta dần dần lãnh hội được, là vì giúp chúng ta tin sâu, nguyện thiết. Đây là tin hiểu, còn phần hành chứng ở sau là việc của mình. Người thầy giúp là giúp chúng ta tin thật, thật sự minh bạch, lý giải, sau đó chúng ta cầu chứng từ trong việc tu hành. Pháp môn này lúc lâm mạng chung, đức Phật đến tiếp dẫn. Đây là chứng.

Nếu hiểu đã thấu suốt, thật sự minh bạch, chúng ta mới chịu buông bỏ. Chưa hiểu rõ ràng minh bạch, rất khó buông bỏ. Chúng ta buông được pháp thế gian, nhưng Phật pháp không buông được. Phật pháp chưa buông, thì không được, vì không thể mang theo.

Trong kinh BátNhãnói rất hay, đức Phật dùng ví dụ để nói: Phật pháp ví như qua sông. Qua sông cần có thuyền, đi bằng thuyền. Đức Phật dùng chiếc thuyền để làm ví dụ. Quý vị lên thuyền, tức là đã học tập Phật pháp, có nghĩa là ngồi lên thuyền để qua sông. Đến bờ, phải ra khỏi thuyền mới được, nếu không xuống thuyền không thể lên bờ. Nếu ta muốn đến bờ kia, phải buông bỏ Phật pháp, nó không phải chân.

Trong kinh KimCươngnói: “Pháp còn phải xả, huống gì phi pháp”. Pháp là Phật pháp. Dù quý vị học nhiều đến đâu, cũng phải buông bỏ, phải xả bỏ, huống gì là pháp thế gian! Pháp thế gian, xuất thế gian đều phải buông bỏ hết, như vậy mới có thể vãng sinh. Phật pháp có hay chăng? Ngũ kinh, nhất luận của Tịnh tông rất hay. Đây là gì? Đây là chiếc thuyền đại nguyện độ chúng sinh của Phật A Di Đà, chúng ta học tập là ví như lên thuyền. Từng giờ từng phút cần phải biết, khi ta buông bỏ là lập tức đến bờ bên kia. Đến nơi, phải buông bỏ hết, sau cùng chỉ còn một câu A Di Đà Phật. Bây giờ, đã thấu đạt, thật sự rõ ràng minh bạch, chúng ta bắt đầu thực hành từ bây giờ.

Ở trước, đã từng nói với quý vị, trong tâm chỉ có Phật A Di Đà, xem hết thảy người, sự vật là Phật A Di Đà. 6 căn tiếp xúc với cảnh giới 6 trần, trong ngoài đều là Phật A Di Đà. Có Phật A Di Đà, thì những thứ khác buông bỏ. Công phu luyện được trong cuộc sống hằng ngày, trải việc để luyện tâm. Rèn luyện khi làm việc, luyện khi đối nhân, tiếp vật. Ở đây, quan trọng nhất là buông bỏ cái ta, tuyệt đối không chấp trước thân này là ta. Cái ta buông bỏ là hiện tượng gì? Đoạn tận được ý niệm tự tư, tự lợi, không còn. Đoạn tận ý niệm này, danh văn, lợi dưỡng tự nhiên không còn, tham niệm đối với ngũ dục, lục trần, tham, sân, si cũng không còn.

Bởi thế, người niệm Phật vãng sinh, họ sinh đến thế giới Cực Lạc, được oai thần bản nguyện của Phật A Di Đà gia trì, hưởng đãi ngộ của Bồ tát A Duy Việt Trí. Ngài có đạo lý trong đó. Thông thường, chúng ta nói Phật, Bồ tát gia trì chúng ta là tương đối. Chúng ta có một phần công đức, Ngài liền gia trì một phần; có hai phần công đức, Ngài gia trì hai phần, nhất định tương đương với những gì ta tu được.

Nếu trong tâm ta không có tạp niệm, chỉ có một câu Phật hiệu này, tuy chưa khai ngộ nhưng đến thế giới Cực Lạc được Phật lực gia trì, liền đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tính, được sanh về cõi nào? Cõi Thật Báo Trang Nghiêm. Phàm phu sinh đến cõi Thật Báo Trang Nghiêm, đây gọi là pháp khó tin. Tu hành các pháp môn khác vô cùng khó khăn, phải đoạn Kiến Tư phiền não. Ở trong pháp môn này, chỉ cần giữ vững danh hiệu Phật A Di Đà, những thứ khác buông bỏ là đạt được, nên pháp môn này gọi là đạo tối thắng, không quá đáng! Tất cả pháp thế gian, xuất thế gian không có gì sánh được, là thật không phải giả.

Bên dưới, trong Chân Giải cũng nói như vậy. Chân Giải nói: “Đạo tối thắng là con đường niệm Phật vãng sinh, đối với tất cả pháp phương tiện, nó là vô thượng tối thắng”. Giải thích của chư vị cao tăng vô cùng quan trọng! Tiếp theo lại nói: “Đạo tối thắng là đức giải thoát”. Đây là tam đức mật tạng mà trong Phật pháp Đại thừa thường nói, tam đức trong tự tính. Thứ nhất là Pháp thân đức, thứ hai là Bát nhã đức, thứ ba là Giải thoát đức. Chư vị nên biết, những thứ này vốn có trong tự tính.

Người nào chứng được tam đức? Những người minh tâm kiến tính, trong kinh Hoa Nghiêm là Viên giáo Sơ Trụ trở lên. Cũng tức là nói khởi tâm động niệm, phân biệt, chấp trước đều đã đoạn tận, hàng thượng thượng căn, như đức Thế Tôn, Đại sư Huệ Năng vậy. Trong một đời thật sự có thể làm được đốn xả, đốn ngộ, đốn chứng không là ít người, nhưng thời gian dài ngắn không giống nhau. Đức Thế Tôn biểu hiện cho chúng ta thấy, chúng ta biết đó là thị hiện. Đốn ngộ, đốn chứng chỉ trong một niệm, buông bỏ tất cả những gì tu học được của 12 năm. Đây là gì? Đây là biểu diễn cho hàng phần tử tri thức như chúng ta hiện nay thấy. Phần tử tri thức hiếu học, quảng học đa văn, học được là gì? Những gì học được gọi là Sở tri chướng. Vì sao vậy?

Trong tự tính vốn không có những thứ này. Bát nhã vô tri, trong Bát nhã không có những thứ đó. Đây là gì? Là tri thức, trong tự tính không có tri thức, chỉ có trí tuệ. Tri thức chướng ngại trí tuệ. Vì thế, nếu không xả bỏ, ta không thể kiến tính, không thể được tam muội. Không thể không biết điều này. 2 loại chướng ngại, hầu như ai cũng có. Phiền não chướng và Sở tri chướng, gọi là 2 chướng. Buông bỏ chướng ngại, tự tính liền hiện tiền. Trừ được bóng tối, ánh sáng sẽ xuất hiện. Tối sáng là nhất thể, mê ngộ cũng là nhất thể, nhưng tự tính không có mê, ngộ. Khi mê nó không hiện hành, nó bị chướng ngại. Buông bỏ chướng ngại, nó hiện tiền ngay. Vốn là sáng, không có mê.

Các bậc cổ thánh tiên hiền nói vấn đề này rất gần với những gì Phật nói. Trong sách Đại Học nói: “Minh minh đức”. Minh đức là gì? Nếu dùng Phật pháp để giải thích, thì Minh đức là Bát nhã đức. Chữ “đức” ở sau thì sao? Trong chữ “đức” bao hàm Pháp thân đức và Giải thoát đức, có thể nói như thế, nên Townenbe nói: Phật pháp đã làm phong phú nền văn hóa truyền thống xưa. Nâng nó lên không khác gì Hoa Nghiêm. Vì sao trước Minh đức thêm vào chữ “Minh”? Chắc chắn, hiện nay không còn sáng suốt, đã mê muội, làm sao để khôi phục minh đức? Cần phải minh minh đức. Minh đức là vốn có, ở trước thêm chữ “minh”, là do hiện tại không được sáng suốt, không rõ về minh đức. Công phu tu học hiện nay chính là phải minh minh đức.

Trong thế pháp hay Phật pháp, trong minh minh đức, trong tất cả pháp phương tiện, thì niệm Phật là vô thượng tối thắng, tức là dùng câu Phật hiệu này. Vì khó khăn nhất của phàm phu là phải xả bỏ cả nhị biên Không và Có, quá khó, không phải trú Không, tức trú Có. Bây giờ, đức Phật dạy phương pháp cho chúng ta, là buông bỏ nhị biên Không và Có, chỉ trú vào Phật A Di Đà, phương pháp này quá vi diệu! Chỉ có A Di Đà Phật, ngoài ra không quan tâm gì cả, chỉ sống chết với một câu A Di Dà Phật. Cổ nhân nói: Nếu gặp được Di Đà, lo gì không khai ngộ. Chỉ cần vãng sinh thấy được Phật A Di Đà, sẽ đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tính, thành tựu này vô cùng lớn lao!

Người dùng phương pháp này thành tựu, so với tu Thiền, tu Mật, dạy học dễ hơn nhiều, thù thắng hơn nhiều, quả thật không sao sánh được, khiến người chưa đạt được nhất phẩm phiền não, trong một đời có thể viên chứng Vô Thượng Bồ Đề. Quý vị xem phương pháp này vi diệu biết bao! Vì thế, “Đạo tối thắng là Giải thoát đức”.

Trong kinh Niết Bàn nói: “Vôthượngthượng,chângiải thoát”. Thượng của vô thượng là chân thật giải thoát, nên “Vô thượng thượng”, tức là “tối thắng nghĩa”, không có gì tối thắng hơn. Do đó, 2 thuyết của Chân Giải hỗ tương tượng trưng cho nhau. Vì niệm Phật tức là đạo tối thắng vô thượng thượng, vãng sinh nhất định chứng Niết Bàn. Khi vãng sinh, lúc nào mới chứng? Những gì tôi nói với quý vị, nếu quý vị tin, thật sự có thể buông bỏ tất cả pháp thế gian xuất thế gian. Tôi tin rằng vãng sinh đến thế giới Cực Lạc, khi quý vị gặp được Phật A Di Đà là chứng được. Ta chứng được, thân chứng không cần oai thần bản nguyện của Phật A Di Đà gia trì, vẫn là Bồ tát A Duy Việt Trí. Đó là gì? Là khi ta chưa chứng, được Phật gia trì.

Tôi tin có rất nhiều, rất nhiều người đến thế giới Cực Lạc, gặp được Phật A Di Đà lập tức chứng được. Vì sao vậy? Vì họ đã đoạn tận sạch sẽ, pháp thế gian và xuất thế gian đều buông bỏ, sau cùng chỉ còn lại duy nhất một câu A Di Đà Phật. Đến thế giới Cực Lạc vừa thấy được Phật A Di Đà, toàn bộ vấn đề được giải quyết. Đây là thật, không phải giả.

Đời này, chúng ta quả thật quá may mắn, gặp được pháp môn thù thắng như vậy, đúng như cư sĩ Bành Tế Thanh nói: Mộtngàyhyhữukhógặptừlượngkiếpđếnnay. Chúng ta đã gặp được. KhaiKinhKệlà Võ Tắc Thiên viết. Bà viết rất hay: “Báchthiênvạnkiếpnantaongộ”, đời này chúng ta đã gặp. Điểm then chốt là chúng ta có từ bỏ được chăng, từ bỏ bằng cách nào? Về Sự có thì không sao, nhưng trong tâm tuyệt đối không có. Về Sự, cứ tùy duyên, có rất tốt, không có cũng tốt, đừng để nó trong lòng. Tin tưởng sâu sắc, nhất tâm trú vào danh hiệu Phật A Di Đà, nghĩa là nhất tâm trú vào đạo vô thượng, trú vào chỗ của Phật Di Đà. Tin rằng có chư Phật hộ niệm, Long thiên thiện thần quan tâm, còn lo gì nữa!

Pháp sư Lạc Quán, hôm trước tôi nói pháp sư Lạc Quán viết những câu chuyện về Phật sống ở Kim Sơn. Đồng học chúng ta đã tìm thấy cuốn sách này, chúng ta sẽ nhanh chóng ấn tống, nó là cuốn sách mỏng, để cúng dường đại chúng. Quý vị thấy truyền kỳ của Phật sống Kim Sơn, trong đó không có gì khác, chính là buông bỏ triệt để.

Hiện nay, con người tham nhất là tiền. Cuộc đời của Phật sống Kim Sơn đoạn tuyệt với tiền bạc. Tiền người khác cúng dường, ngày xưa còn có tiền đồng, tiền tệ, Ngài cầm được thì như thế nào? Ăn mất, cúng Ngài tiền giấy, Ngài cũng vo tròn lại nuốt mất, nhưng không hề bị bệnh. Ngài rất có bản lĩnh tiêu hóa, đúng là không thể nghĩ bàn. Không có gì khác, ngoài buông bỏ triệt để. Suốt đời, trên thân Ngài chỉ mang một bộ áo quần, ngoài ra không có thứ gì. Trong một cái quần ngắn, ngoài một quần dài, suốt đời luộm thuộm như thế. Chưa từng giặt quần áo, cũng chưa hề tắm, tiêu dao tự tại biết bao! Rất nhiều người tin theo Ngài, mọi người đều xem Ngài như Phật sống. Bất kỳ bệnh hoạn khó khăn gì, Ngài đều có cách trị liệu.

Pháp sư Lạc Quán từng sống với Ngài 4 tháng, nói với chúng tôi: Ngài thật sự có thần thông. Cuộc sống hằng ngày, Ngài không có quy luật, đích thực có chút giống với Tế Công thời nhà Tống. Kiểu người như vậy, ăn cơm cũng không nhất định. Pháp sư Lạc Quán ở với Ngài, có một lần thấy Ngài ăn hết 18 bát cơm và thêm 1 bát mì. Đối với sự cúng dường của đại chúng, Ngài chưa từng từ chối. Người ta mời Ngài ăn cơm, người này đơm một bát cho Ngài, người kia cũng đơm một bát cho Ngài, Ngài đều ăn hết. Lúc đó, pháp sư Lạc Quán cũng ngồi bên cạnh, liền nói với những vị Phật tử này, quý vị đừng hại Ngài nữa. Quý vị thấy như vậy, con người có thể chịu được sao? Ngài quay qua nói với pháp sư Lạc Quán: Không tăng không giảm. Pháp sư Lạc Quán nghe thế, cảm thấy rất kỳ lạ, không biết phải làm sao, không ngờ Ngài đã nói không tăng không giảm. Cũng tức là nói, ăn như không ăn, một vài tuần không cho Ngài ăn cũng không sao. Ngài là một người như vậy. Tâm địa thanh tịnh, bình đẳng, giác, trên đề kinh này Ngài đều đạt được hết.

Bình thường tu hành. Ngài cũng niệm một câu Phật hiệu. Ngài niệm câu Phật hiệu này, ở trước thêm vào 2 từ: “Ai niệm Nam mô A Di Đà Phật a”, ở sau thêm chữ a. Ai niệm A Di Đà Phật a”. Trong câu niệm Phật của Ngài mang đậm ý của thiền vị. Đa phần, Ngài đều niệm Phật vào buổi tối, tiếng rất lớn khiến mọi người đều không thể ngủ. Nói cách khác, âm thanh niệm Phật của Ngài, đại chúng xung quanh đều nghe được. Ngài ở đó truyền pháp, nhắc nhở mọi người niệm Phật.

Câu chuyện này đáng để chúng ta xem, vì đầu năm Dân Quốc thật sự có người này, thật sự có việc này. Đây không phải là hư cấu, là câu chuyện có thật, đều là làm Chứng chuyển cho chúng ta.

Mấy câu ở đây vô cùng quan trọng, nhất định phải biết. “Vì niệm Phật tức đạo tối thắng Vô thượng thượng, vãng sinh nhất định chứng Niết Bàn. Lại đúng lúc đang niệm Phật, tâm tác tâm thị, ngay lúc đó, tức lúc Vô thượng thượng giải thoát”. Đây là gì? Chúng ta bình thường, công phu niệm Phật sâu hay cạn không phải thời gian lâu, tu hành lâu, không phải vậy. Công phu đích thực là do nhất niệm này thuần hay không thuần. Cổ nhân nói tịnh niệm tương tục, một niệm tương ưng một niệm Phật, niệm niệm tương ưng niệm niệm Phật. Nghĩa là nhất niệm đó có tương ưng hay không?

Thế nào gọi là tương ưng? Tịnh niệm chính là tương ưng. Bồ tát Đại Thế Chí nói: Tịnh niệm tương tục. Tịnh niệm là tâm thanh tịnh, nhất niệm này tương ưng. Ngày nay, chúng ta niệm Phật, dù niệm nhiều đến đâu, tâm vẫn không thanh tịnh. Như vậy, chúng ta là uế, tương phản với tịnh, chúng ta là uế tâm niệm Phật, tâm nhiễm ô niệm Phật, nên hiệu quả thua xa tịnh niệm. Chúng ta vẫn chưa buông được, không nỡ buông bỏ thế gian này. Trong kinh nói rõ ràng rằng, trong tất cả pháp thế gian, xuất thế gian không thể sánh được. Chúng ta đối với tất cả pháp thế gian, xuất thế gian luôn có vướng bận, thường không buông được. Không có cách nào, thật sự không buông được, vì sao vậy? Vì ngày ngày ta phải sống, ta còn có ngày mai, còn có sang năm, ta nghĩ quá nhiều!

Phải dùng cách gì? Ở trước, tôi có nói với chư vị, Đại sư Ấn Quang mỗi ngày đều nghĩ đến “chết”. Từ đây, tôi lãnh ngộ được một điều, tôi mỗi ngày nghĩ đến hôm nay là ngày cuối cùng tôi ở thế gian, không có ngày mai. Sớm ngày mai thức dậy, sao lại có thêm một ngày? Đây là ngày cuối cùng, tuyệt đối không nghĩ đến chuyện ngày mai, chỉ có hôm nay, hôm nay tôi nên làm những gì? Niệm Phật cầu sinh Tịnh độ, những việc khác phải triệt để buông bỏ. Vì sao vậy? Đều là giả, tất cả pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bào, ảnh. Bất luận là thuận cảnh hay nghịch cảnh, thiện duyên hay ác duyên, đều buông bỏ hết, chúng ta trở về với tịnh niệm tương tục. Hiệu quả này rất lớn. Vì sao vậy? Vì mỗi niệm đều tương ưng với Phật A Di Đà.

Thật vậy, cổ nhân nói không sai: “Một niệm tương ưng một niệm Phật”, “Tâm tác tâm thị”. Tâm vốn là Phật, ngày nay ta niệm Phật A Di Đà tức là làm Phật. Ta vốn là Phật, bây giờ ta muốn làm Phật, không phải ngay lúc này đã thành tựu rồi sao? Vấn đề này, giống với Thiền tông, cùng một nguyên lý. Vị thầy Tông môn thường hỏi học trò, anh biết chăng? Tịnh tông cũng không ngoại lệ, quý vị biết niệm chăng? Biết niệm và không biết niệm khác nhau rất lớn.

Trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta, tiếp xúc với rất nhiều người, đưa ra rất nhiều vấn đề. Những vấn đề này là gì? Đều là lời vô dụng, đều là vọng niệm, vọng tưởng, là những thứ cần buông bỏ. Nếu tu Tịnh Độ, mà còn có nhiều vọng niệm đến thế, như vậy là chưa tu. Ta vì đạo tràng, vì chúng sinh, đó là giả. Vì sao vậy? Nếu là tịnh niệm tương tục, nhất định được chư Phật Như Lai gia trì, Phật A Di Đà hộ niệm, Long thiên thiện thần giúp đỡ xử lý những tạp vụ này, không cần ta bận tâm, nhất tâm chuyên niệm. Chúng ta cũng tin rằng, không quá 3 năm sẽ thành công, quý vị sẽ làm Phật. Đạo lý này không thể không hiểu. Mỗi câu mỗi chữ trong kinh nói là chân lý.

Câu “Tâmtáctâmthị”, là nòng cốt lý luận của Tịnh tông. Vì sao quý vị có thể vãng sinh thành Phật, đạo lý chính là ở chỗ này.

Bên dưới nói: “Ngày nay, đức Thế Tôn diễn thuyết diệu pháp của Phật Di Đà, nên trú nơi Phât Di Đà trú, làm điều Di Đà làm, nghĩ điều Di Đà nghĩ, nên gọi là trú vào đạo tối thắng chỗ của chư Phật trú”. Đây là điều chúng ta cần phải học. Người tu học Tịnh Độ, đối với Trú, Hành, Danh, 3 từ này là tự hành hóa tha, ở đây đức Phật làm gương cho chúng ta. Ngày nay, đức Thế Tôn cần phải diễn thuyết diệu pháp của Phật A Di Đà, vì chúng ta mà diễn thuyết. Diễn là biểu diễn, thuyết là nói rõ. Đem Tánh, Tướng, Lý, Sự, Nhân, Quả của thế giới Cực Lạc giới thiệu tường tận rõ ràng cho chúng ta, nên Ngài trú nơi chỗ của Phật A Di Đà. Chỗ ở của đức Phật Di Đà ở đâu? Nói một cách đơn giản, nghĩa là trú vào A Di Đà Phật. Bản thân Phật A Di Đà không trú nơi Phật A Di Đà, tín tâm của họ sẽ mất đi. Chúng ta hiểu Phật A Di Đà nghĩa là sao, là vô lượng trí tuệ, vô lượng giác ngộ. Về Lý mà nói, chư Phật Như Lai trú trong Thường Tịch Quang. Thường Tịch Quang là nơi ở của chư Phật Như Lai, Phật Di Đà đương nhiên cũng không ngoại lệ.

Thường Tịch Quang là gì? Là không khởi tâm, không động niệm, không phân biệt, không chấp trước. Thường Tịch Quang tồn tại khắp nơi, tồn tại mọi lúc, không nơi nào không có. Nói cách khác, mọi lúc mọi nơi đều là Thường Tịch Quang. Vì sao chúng ta không thể chứng được? Vì chúng ta có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Trong kinh Hoa Nghiêm nói: vọng tưởng, chấp trước mà không thể chứng được, chính là ý này.

Bây giờ, chúng ta đã có thể nói là khá quen thuộc, vì thời gian huân tu kinh giáo cũng rất lâu, đều biết không chấp trước đối với tất cả pháp thế gian xuất thế gian. Buông bỏ chấp trước, thật sự buông bỏ, chứng được quả A La Hán. Tiếp tục buông bỏ phân biệt, không còn phân biệt, đoạn tận Trần Sa phiền não, là thành Bồ tát. Sau cùng là không khởi tâm, không động niệm, đoạn tận căn bản vô minh. Căn bản vô minh là khởi tâm động niệm, tức thành tựu Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác, thành Phật. Cảnh giới này trong kinh Hoa Nghiêm, là Viên giáo Sơ Trụ trở lên, vào được cảnh giới này.

Trong kinh KimCươngnói: “Ưngsở trụ. Nhi sinh kỳ tâm”. Vô sở trụ, nghĩa là không trú vào chấp trước, không trú vào phân biệt, không trú vào khởi tâm động niệm. Nhi sinh kỳ tâm là gì? Cảm ứng đạo giao với tất cả chúng sinh trong mười pháp giới. Chúng sinh có cảm, chúng sinh giống như sóng điện vô tuyến hiện nay, họ là đài phát xạ. Sóng mà họ phát ra, chúng ta nhận được hết, khi nhận được ta sẽ hồi đáp lại. Mỗi người đều là một đài phát xạ, cũng là một đài tiếp nhận, chư Phật, Bồ tát cũng đều như vậy. Thậm chí, trong kinh điển Đại thừa, đức Phật dạy chúng ta: Chính báo là đầu của sợi lông, Y báo là một hạt bụi. Nó cũng là đài tiếp thu, cũng là đài phát xạ. Trong một sợi lông, một hạt bụi đều có Tính đức viên mãn. Nói cách khác, dùng thuật ngữ khoa học hiện nay nói, đều có tin tức viên mãn khắp biến pháp giới hư không giới. Phát xạ không ngừng, mỗi niệm mỗi niệm đều đang phát xạ. Một niệm này là 1.600 triệu trên một giây, một niệm. Một giây có bao nhiêu niệm? 1.600 triệu niệm, xưa nay chưa hề ngừng. Quý vị thử nghĩ xem, mỗi đầu sợi lông, một hạt vi trần đều là như vậy.

Trong Hoàn Nguyên Quán nói về 3 loại chu biến, ý niệm vừa khởi liền phát ra chu biến pháp giới. Tế bào của chúng ta, một hạt vi trần này cũng thu nhận, không phải không tiếp thu. Tin tức của tất cả chư Phật, Bồ tát khắp biến pháp giới hư không giới, chúng ta cũng đều thu nhận được. Nhận được, vì sao không khởi tác dụng? Vì đang mê, mê mà không giác. Vì sao mê? Đầu tiên là khởi lên cái ta, chấp trước có cái ta, nhưng trên thân này không tìm thấy cái ta. Thân là sắc pháp, không tìm thấy cái ta, trong tâm cũng không tìm thấy cái ta. Tâm là gì? Là Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Trong Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng không tìm được cái ta. Căn bản không có cái ta, vì sao lại kiên cố chấp trước có cái ta? Đây là phàm phu lục đạo, là nhân tố đầu tiên không tỉnh ngộ được. Họ không thức tỉnh rằng vốn không có cái ta, vì sao lại chấp trước đến thế?

Khi phá trừ được ngã chấp, trên đường đạo Bồ đề sẽ thuận buồm xuôi gió. Đặc biệt là phương pháp Niệm Phật này, đúng như cổ nhân nói: “Conđườngnhanhlạirấtnhanhtrongcácconđường”. Đó là gì? Là con đường gần nhất, không ngoằn ngoèo, trực tiếp nhanh chóng, là con đường dễ đi, không phải đường khó đi. Ngày nay, chúng ta đi một cách khó khăn như thế, không có gì khác, chỉ vì ngã chấp. Chấp trước cái ta quá nghiêm trọng, không biết rằng trong thân tâm đều không tìm thấy cái ta. Khi đã buông bỏ triệt để, chân ngã liền hiện tiền.

Quý vị thấy, trong tự tính có 4 tịnh đức. Thường là vĩnh hằng bất sinh bất diệt, lạc là lìa khổ, vĩnh viễn không có khổ, khổ vui đều không có. Chân ngã, ngã là gì? Ngã là giải thoát, ở trước gọi là Giải thoát đức. Ở sau có 1 chữ tịnh, thanh tịnh. Người minh tâm kiến tính hoàn toàn nhìn thấy. Khi Ngài Huệ Năng kiến tính, quý vị thấy câu đầu tiên Ngài nói đến thanh tịnh: “Đâu ngờ tự tính, vốn tự thanh tịnh”, tịnh đức. Câu thứ hai nói: “Đâu ngờ tự tính, vốn không sanh diệt”, thường đức, đó là thường. “Đâu ngờ tự tính, vốn tự đầy đủ”, đó là ngã, đó là cái ta thật không phải giả. 2 câu sau là lạc: “Vốn không dao động”, “Năng sinh vạn pháp”, an vui biết bao, được đại tự tại!

Đây là điều tất cả người tu học Đại thừa mong cầu, không dễ thành tựu, cửa ải ở chỗ phiền não khó đoạn, đặc biệt là cửa ải đầu tiên. Phá Thân kiến, phá Biên kiến, phá Kiến thủ kiến, Giới thủ kiến, Tà kiến. Đây là cửa ải đầu tiên. Phá cửa ải đầu tiên là vào được cửa, thành tựu nhanh hay chậm đều do thiện căn, phúc đức, nhân duyên của quý vị. Người dõng mãnh tinh tấn, nhân duyên thù thắng, khi gặp được pháp môn Tịnh Độ, thành tựu ngay trong đời này, đạt được cảnh giới này.

3 căn tính thượng, trung, hạ không gặp được pháp môn này, đều không thể thành tựu, cũng tức là nói không ra khỏi luân hồi lục đạo. Vượt khỏi luân hồi lục đạo, trong Phật pháp gọi là tiểu thành tựu, không phải đại thành tựu. Câu này ý nghĩa rất sâu xa: “Trú vào chỗ của Phật Di Đà trú, làm việc Phật Di Đà Làm, nghĩ điều Phật Di Đà nghĩ, nên gọi là trú trong đạo tối thắng của chư Phật trú”.

Bình luận bài viết

    Tin sinh hoạt phật sự

    Video bài giảng

    Pháp âm

    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 145)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Tú Trinh
    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 144)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Tú Trinh
    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 143)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Tú Trinh
    Pháp âm khác >>

    Thống kê truy cập

    • Online: 43
    • Số lượt truy cập : 12003027