TỊNH ĐỘ ĐẠI KINH GIẢI DIỄN NGHĨA - TẬP 152

Chủ giảng: LÃO PHÁP SƯ TỊNH KHÔNG
*****
Trưởng ban biên dịch:
TK. Thích Đồng Bổn
QUYỂN 16
(Tập 151 – 160)
TẬP 152
Địa điểm: Phật Đà Giáo Dục Hiệp Hội – HongKong
Thời gian: 29.9.2010
Chuyển ngữ: Liên Hải
Biên tập: Minh Tâm
Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, mời quý vị xem tiếp Đại Thừa Vô Lượng Thọ Kinh Giải, trang 175. Chúng ta bắt đầu xem từ hàng thứ 4.
“Đối với tất cả pháp mà được tối thắng tự tại 2 từ “tối thắng” này ở bản Đường dịch. Tâm lìa trói buộc của phiền não, thông đạt vô ngại, gọi đó là tự tại. Lại chẳng mưu tính mà vận hành, tất cả vô ngại gọi đó là tự tại”. Phía trước của đoạn này, chúng ta đã học qua. Nay, chúng ta lại bắt đầu xem từ đoạn này. Đây là một đoạn vô cùng quan trọng, là điều tất cả chúng sinh hướng đến. Quý vị nghĩ thử xem, ai không muốn được tự tại trong tất cả các pháp? Sự việc này, có thể làm được hay không? Không những là tự tại, mà còn là “tối thắng tự tại”, tự tại thù thắng không gì sánh bằng. Chúng ta nhất định phải biết, đây là nói Phật A Di Đà. Nói Phật A Di Đà, ý nghĩa quan trọng nhất là nói bản thân chúng ta. Trong pháp Đại thừa “Sinh Phật không hai”. Sinh là chúng sinh. Phật là chư Phật Như Lai. Vì sao chúng ta gọi Ngài là Phật? Vì Ngài đắc tối thắng tự tại, chúng ta liền xưng Ngài là Phật.
Ngày nay, chúng ta khắp nơi đều chướng ngại, đây đều là lục đạo phàm phu. Vì sao người ta không có chướng ngại, chúng ta lại có chướng ngại? Chướng ngại từ đâu mà có? Chướng ngại từ trong tập khí phiền não của chính mình. Đức Phật dạy chúng ta làm thế nào mới thành Phật? Buông phiền não tập khí xuống, chướng ngại chẳng phải sẽ không còn nữa sao? Tự tại liền hiện ra rồi. Vì sao vậy? Vì Tính đức trong tự tính vốn là tự tại, cho nên tự tại không phải từ bên ngoài mà đến, là chúng ta vốn có vậy.
Trong kinh, Phật đều nói bản thân vốn có. Lời của cổ thánh tiên hiền nói rất hàm súc, nhưng không nói tỉ mỉ như kinh Phật vậy. Trong LuậnNgữ, nói bản tính vốn thiện. Quý vị xem, ý nghĩa này được viết vào trong TamTự Kinh, dạy học cho nhi đồng. Các em nhỏ đến trường đi học, bộ sách đầu tiên chính là học TamTự Kinh. Trong TamTự Kinh có câu: “Nhân chi sơ, tánh bản thiện”. Thiện là gì? Tự tại chính là thiện. Không tự tại, vậy làm sao mà gọi là thiện được? Hi vọng đạt được điều gì? Hi vọng khôi phục bản tính, khôi phục bản thiện của chúng ta. Thiện này không phải thiện trong thiện ác. Thiện này mỗi mỗi đều viên mãn, đây gọi là thiện. Thiện chính là tốt quá rồi, không còn có mảy may khuyết điểm nào nữa.
Thiện chính là ý nghĩa này, không phải thiện của thiện ác. Ý nghĩa thiện của thiện ác rất nhỏ hẹp, ý nghĩa này sâu rộng vô tận. Phật đem những đạo lý này giảng cho chúng ta một cách rõ ràng, thấu đáo. Phật là thầy giáo của chúng ta. Phật, Bồ tát, A La Hán, trước đây chúng tôi đã nói qua rất nhiều lần rồi, là danh xưng học vị trong Phật giáo, mỗi người đều có thể lấy được. Phật là học vị cao nhất, giống như tiến sĩ vậy. Bồ tát giống như thạc sĩ. A La Hán giống như cử nhân. Những học vị này, người người đều có thể lấy được.
Trong kinh Hoa Nghiêm, nói rất hay “Tất cả chúng sinh vốn là Phật”. Quý vị xem, câu này nói hay biết bao. “Vốn là”, quý vị hiện tại lại muốn đi kiếm cho được nó, có lý gì lại không thành tựu? Then chốt, chính là buông bỏ. Quý vị chỉ cần có thể buông bỏ tất cả vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, trong Phật pháp liền xưng quý vị là Phật Đà. 3 thứ này đều buông bỏ rồi, trí tuệ, đức năng, tướng hảo ở trong tự tính đều khôi phục, bởi vì nó là tự tính vốn có, nó không phải từ bên ngoài đến. Thứ vốn có này mới gọi là thiện. Cổ nhân dùng một chữ này để đại biểu. Phật giảng thấu triệt hơn.
Trong chữ thiện này bao hàm điều gì? Bao hàm trí tuệ, đức tướng vô lượng vô biên, cho nên Tiến sĩ Townenbe nói rất hay: Cổ nhân tâm lượng lớn có thể bao dung văn hóa dị tộc, tức là nói Phật giáo Ấn Độ. Phật giáo truyền đến Trung Quốc, người Trung Quốc hoàn toàn tiếp thu, điều này tâm lượng lớn có thể bao dung.
Trên thế giới, tâm lượng lớn như vậy ít thấy, không nhiều. ở châu Âu không nhìn thấy, chỉ có Trung Quốc thực sự rất đặc thù, hoàn toàn chấp nhận. Sau đó, ông ấy nói: Phật giáo làm phong phú văn hóa bản địa. Chúng ta dùng Phật giáo giải thích kinh điển của Nho gia, giải thích kinh điển của Đạo gia, đem Nho và Đạo đều nâng cao lên.
Quý vị nói xem “Tánh bản thiện”. Chữ thiện này, lúc chưa có kinh Phật, thì chữ thiện đó phạm vi người giảng đều rất nhỏ. Rất nhiều người đều cho rằng nó là chữ thiện trong từ thiện ác, chưa có ai giảng viên dung như vậy.
Tự tại, thực sự mà nói đến A La Hán mới thực sự đạt được. A La Hán thành tựu như thế nào? Chấp trước buông bỏ rồi. Phật nói 3 loại: Vô Minh phiền não, Trần Sa phiền não, Kiến Tư phiền não, là 3 loại phiền não. Danh từ trong kinh Hoa Nghiêm gọi là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Danh từ không giống nhau, nhưng ý nghĩa tương đồng. Vọng tưởng chính là Vô Minh phiền não mà trong kinh giáo Đại thừa thường nói. Kiến Tư phiền não là chấp trước. Phân biệt là Trần Sa phiền não. A La Hán chỉ buông bỏ Kiến Tư, chính là chấp trước, họ còn có Trần Sa, còn có Vô Minh, nhưng tự tại đã xuất hiện rồi, đã đạt được tự tại rồi.
Hướng thượng mà đi, thì phạm vi của tự tại đó càng ngày càng lớn, càng ngày càng rộng. Ở nơi đây, trích dẫn của kinh Hoa Nghiêm, đó chính là trên địa vị của Phật, cũng chính là vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, tất cả đều buông bỏ. Thông thường, trong kinh Đại thừa nói, Vô Minh, Trần Sa, Kiến Tư đều đoạn tận rồi, chính là ý nghĩa này.
“Trong kinh Hoa Nghiêm nói 10 loại tự tại. Một là mạng tự tại, Bồ tát đạt được trường thọ tuệ mạng, trải qua vô lượng A tăng kỳ kiếp trú trì thế gian, không có chướng ngại”. Điều này, rất nhiều người mong có được. Đây là thật không phải giả.
Nói thông rồi, chúng ta đều biết được, chỉ là chúng ta chưa chứng đắc. Mạng tự tại này, 10 loại tự tại này đều là đức tính, tự tính vốn có. Phật có, hiện tại chúng ta có hay không? Có. Chúng ta có sinh tử. Sinh tử là thân thể sinh tử, linh hồn của quý vị không có sinh tử. Điều này, người thông thường nghe được nói, đây là tôn giáo, đây là mê tín. Không phải mê tín, là thật. Nói linh hồn, nhưng hồn đó không linh. Nếu như là linh, nó làm sao lại đầu thai trong lục đạo luân hồi, ngạ quỷ, súc sanh? Nó không linh mà là hồ đồ! Vì thế, hồn đó được gọi là mê hồn, đó là thật. Nó là mê mà không giác, không thể gọi nó là linh. Nó không ra khỏi lục đạo luân hồi, vì nó mê. Nó nếu như giác ngộ rồi, sau khi giác ngộ, vậy thì nó thực sự tự tại rồi. Giác ngộ, thì không còn gọi linh hồn, gọi là linh tính. Linh tính không sinh không diệt. Đó thật là đã đắc đại tự tại rồi.
Khổng lão phu tử gọi thứ này là du hồn. Quý vị xem, vị này cũng rất vĩ đại. Trong kinh Dịch – Hệ Từ Truyện, do Khổng lão phu tử viết. Những trước tác ông để lại không nhiều. Trong kinh Dịch có Hệ Từ và Thập Dực, còn có Hệ Từ trong lục thập tứ quái. Trong Hệ Từ Truyện, ông nói: “Linh hồn là biến, tinh khí là vật”. Cách nói này, chúng ta hoài nghi ông có phải là Phật, Bồ tát tái lai không? Vì sao nói giống như y trong kinh Phật nói vậy, chỉ là không nói thấu triệt như kinh Phật mà thôi.
Quý vị xem du hồn vi biến, trong lục đạo nói du hồn vô cùng chính xác, bởi vì người ở trong trạng thái này, nó không có thân thể, nhưng nó có mắt hay không? Có. Có lỗ tai hay không? Có. Có ở đâu bản thân nó cũng không hiểu được, nhưng là gì? Nó có thể nhìn, nó có thể nghe, nó có thể cảm giác, lục căn đều có. Nhưng nó không có thân thể. Không có thân thể, thì mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, nằm ở đâu? Đoạn kinh văn trước chúng ta đã đọc qua, đó chính là gì? Nó có ý niệm. Ý niệm nó chưa buông bỏ, trong Phật pháp nói, loại này gọi là A Lại Da, lượng hoạt động vô cùng lớn. Nhân gian, thiên thượng, nó đều có thể đi. Tùy theo nghiệp lực của bản thân mà đầu thai, nó muốn có một thân thể nó liền có thể có được. Đây là điều trong kinh Phật nói “Tấtcảpháp từ tâm tưởng sinh”.
Sách Khải Tát Quân Đoàn Đông Chinh Trung Quốc Chi Mê, Cao tiên sinh, viết quyển sách này. Ông hỏi Khải Tát tam vương tử, vì họ là thân linh hồn, hỏi ông ta có nhục thể hay không? Ông nói không có, chúng tôi không có nhục thể. Hỏi về tình hình của họ, ở đây nói rất tường tận. Người này chết vào 2.100 năm trước. Quân đoàn này bị đánh úp, hơn 100.000 người, hiện tại biến thành binh đoàn ma quỷ. Chúng ta rất khâm phục, họ chú trọng nghĩa khí, họ không giải tán, trong quỷ đạo này có binh đoàn. Cao tiên sinh là đảng viên cộng sản, là cán bộ đảng cộng sản. Ông là một khoa trưởng của tổng chiến bộ nơi này. Ông nghe được sự việc kỳ quái này liền đến phỏng vấn, phóng vấn rất nhiều lần, cảm thấy là thật không phải giả. Lý Kim Lan - người bị áp xác là một phụ nữ nông thôn, bà ấy không thể nào nói ra được những câu chuyện như vậy, không bịa ra được. Người nhập xác nói tiếng La Mã, nói tiếng Italy, họ đi tìm những thầy giáo của những trường ngoại ngữ đến đó để phỏng vấn.
Thầy giáo nói bà ấy nói là thật chứ không phải giả, đích thực là ngôn ngữ cổ La Mã, viết chữ ra là văn tự La Mã cổ. Nếu hương linh này không mượn xác, Lý Kim Lan không có được năng lực này, bà sẽ không nói tiếng La Mã, bà cũng không thể viết chữ La Mã. Nhưng lúc bị áp xác, bà ấy có thể viết, có thể nói chuyện của 2.100 năm trước, cho nên ông ấy đem những thứ này viết ra thành sách. Ông viết ra, nói với người thế gian, nói với mọi người đây là thật không phải giả, con người không chết. Sinh diệt là gì? Sinh diệt là thân. Thân là thứ thuộc về vật chất, nó có sinh có diệt. Linh tính không sinh không diệt, nhưng linh tính đạt được thân này, cũng có thể đạt được thân mạng trường thọ. Đạo lý này nói ra, thì rất sâu. A La Hán không đạt được. Bồ tát thông thường cũng không đạt được. Trong kinh Hoa Nghiêm, nói Pháp thân Bồ tát họ đạt được. Vì sao vậy? Quý vị phải hiểu được, vật chất này tại sao có sinh diệt? Sinh diệt là quý vị có ý niệm.
Lấy bản thân chúng ta để nói, có thể lãnh hội được niệm trước diệt rồi, niệm sau liền sanh, niệm này nối tiếp niệm kia, cho nên chúng ta có được thân này chính là có sinh diệt. Nếu như ý niệm của chúng ta không còn nữa, không còn ý niệm sinh diệt này nữa, thân mà chúng ta có được này, thân này sẽ bất sinh bất diệt, trong Phật pháp nói: Tầng lớp nào là cảnh giới này? Cõi Thật Báo Trang Nghiêm của chư Phật Như Lai là cảnh giới này.
Vì thế, cõi Thật Báo Trang Nghiêm chúng ta gọi nó là Nhất Chân pháp giới, nó là thật. Nhà Phật nói là chân vọng, định nghĩa của nó rất rõ ràng, vĩnh hằng bất diệt gọi là chân, phàm có sinh diệt đều là giả, cho nên hiện tượng là giả. “Phàm có hình tướng đều là hư vọng”, đây không phải là thật, nhưng linh tính là thật, nó không sinh không diệt.
Trong cõi Thật Báo, đây là nói hiện tượng trong vũ trụ từ đâu mà có? Phật nói với chúng ta là tâm quý vị hiện ra, thức biến hiện. Thức là A Lại Da, chúng ta nói là khởi tâm động niệm. Có khởi tâm động niệm liền có sinh diệt. Không có khởi tâm động niệm, thì không có sinh diệt. Do đó, hiện tượng do tâm tánh hiện ra, trong đó không có A Lại Da, tức không có sinh diệt. Thế giới Tây Phương Cực Lạc là như vậy.
Trong kinh Hoa Nghiêm, nói cõi Thật Báo của chư Phật trong thế giới Hoa Tạng. Cõi Thật Báo của chư Phật, chính là cõi Thật Báo của bản thân. Khái niệm này vô cùng quan trọng. Nếu như chúng ta chia bản thân và Phật thành hai bên là sai rồi, là một không phải hai. Khái niệm này bắt buộc phải có. Trong cõi Thật Báo chỉ có tâm hiện, không có thức biến, cho nên con người vĩnh viễn là trẻ trung, họ sẽ không bị già suy, không thay đổi. Cây cối, hoa cỏ vĩnh viễn tốt tươi, nó sẽ không bị héo tàn, trong mười pháp giới có tàn tạ.
Trong thập pháp giới có già, suy. Trong thập pháp giới có sinh, diệt. Vì sao vậy? Thức của nó làm chủ tể, nó có ý niệm. Đức Phật dạy “Tất cả pháp từ tâm tưởng sinh”. Tâm tưởng này là 2 tầng ý nghĩa. Thập pháp giới trở lên cũng là tâm tưởng sinh, nhưng nó không có thức, tức là họ không có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Thập pháp giới trở xuống, Tứ thánh pháp giới và lục đạo nó có sinh có diệt, tức là nó có ý niệm. Then chốt là ở đây. Quý vị hiểu rõ điều này rồi, trong kinh Phật nói điều này, quý vị hoàn toàn hiểu rõ được. Ý niệm này tác dụng rất rõ ràng.
Chúng ta có thể lãnh hội được, lúc con người tâm tình tự tại, lúc vui vẻ, không cảm thấy già, suy. Quý vị không nghĩ đến già, cho nên quý vị mỗi năm đều trẻ trung ra, đại khái là lúc nào? Trước 30 tuổi chưa nghĩ đến già. Sự thay đổi của quý vị không lớn, trung niên trở về sau liền nghĩ đến già rồi. Nghĩ đến già rồi, thì dáng vẻ càng ngày càng già. Đặc biệt là gì? Là lúc làm việc. Công việc quý vị rất nhiều. Tôi có rất nhiều đồng học, bạn bè, làm việc ở trong cơ quan nhà nước, mỗi ngày bận rộn với công vụ của họ, cũng rất vui vẻ, không đáng vui sao. Đến lúc về hưu, liền nghĩ ngay đến già, về hưu rồi. Sau khi về hưu vài năm không gặp mặt, gọi điện thoại, nghe tin tôi ở đâu đó, gặp mặt tôi một tí. Tôi vừa gặp mặt, giật cả mình, dường như họ bỗng nhiên già đến 10 tuổi vậy. Làm sao mới vài năm, mà suy già đến 10 tuổi? Vì sao vậy? Ông ấy ngày ngày đang nghĩ đến, nhớ đến việc già. Lúc già, họ lại nghĩ đến việc có bệnh. Ngày ngày, muốn đi khám bệnh, không xa rời bệnh viện. Tất cả pháp từ tâm tưởng sinh. Những người bạn già của tôi thường thường gặp tôi, ông ấy nói: Vì sao thầy hình như già suy rất chậm? Tôi nói, tôi không nghĩ đến việc già. Tôi vẫn đang làm việc. Tôi ngày ngày đang đọc kinh, ngày ngày đang dạy học. Tôi còn chưa về hưu. Nếu như về hưu rồi, e rằng cũng giống như các ông vậy, cũng rất nhanh thôi. Chính là đạo lý này, tất cả pháp từ tâm tưởng sinh.
Quý vị nghĩ thiện, thì không có thứ gì không thiện. Quý vị nghĩ bất thiện, thì không có thứ gì là thiện. Thân thể là như vậy, gia đình, công việc, quốc gia đến thế giới đều không tách rời nguyên lý này. Ngày nay, toàn thế giới xã hội động loạn, bất an; trên trái đất thiên tai khác thường, tần suất không ngừng tăng lên, tai nạn không ngừng rộng lớn. Nguyên nhân gì khiến ý niệm của chúng ta bất thiện? Khởi tâm động niệm đều là tự tư, tự lợi, đều là danh văn, lợi dưỡng, đều là thị phi nhân ngã. Ý niệm không tốt nhất, chính là tổn người lợi mình. Đây là ý niệm rất không tốt.
Khác với thời xưa, được giáo dục khác nhau. Giáo dục ngày xưa, mục đích giáo dục không phải dạy quý vị kiếm tiền, không phải dạy quý vị thăng quan phát tài, mà dạy quý vị làm thánh nhân, dạy quý vị làm hiền nhân. Quý vị xem xem cổ nhân vừa mở miệng là đọc sách chí tại thánh hiền. Chí là gì? Mục tiêu. Vì sao phải đọc sách? Làm thánh nhân, làm hiền nhân. Tôi tin văn hóa truyền thống Trung Quốc không thua so với Ấn Độ. Bà la môn giáo của Ấn Độ, họ nói có 13.000 năm lịch sử. Tôi tin tưởng, vì họ không coi trọng văn tự, họ không có những ghi chép lại, đời đời truyền nhau, cho nên lục đạo luân hồi cùng những truyền thuyết là của cổ Bà la môn giáo, không phải của Phật Thích Ca Mâu Ni. Phật Thích Ca Mâu Ni lúc đang cầu học, học pháp môn của họ, hơn nữa là Phật Thích Ca Mâu Ni cầu học những khóa trình quan trọng, khóa trình trọng điểm của Bà la môn giáo. Bà la môn giáo coi trọng thiền định. Vì thế, Tứ thiền, Bát định là của Bà la môn giáo. Họ tu thành công rồi, trong thiền định thời gian và không gian đều không thấy nữa. Khoa học nói là tầng không gian, thiền định có thể làm cho tầng không gian bị đột phá, quý vị liền có thể nhìn thấy 28 tầng trời, có thể nhìn thấy A Tỳ địa ngục ở dưới. Đây là quý vị đích thân nhìn thấy, không phải là tưởng tượng. Người tu thành Tứ thiền, Bát định rất nhiều, Phật giáo cũng đem những điều học tập này liệt thành sơ cấp. Lúc quý vị vừa nhập môn, quý vị bắt buộc phải học tập, sự phân bố này ở trong kinh điển Tiểu thừa.
Người Trung Quốc đối với thiền định cũng rất tôn kính, nhưng không coi trọng. Người Trung Quốc coi trọng lý luận, coi trọng học thuật, cho nên giáo lý Đại thừa ở Trung Quốc được đặc biệt ưa thích. Trong đây, nói về triết lý, nói về khoa học. Triết lý, khoa học ở trong kinh Phật, đích thực hiện tại chúng ta tin tưởng rồi, cũng chứng minh được rồi, siêu việt khoa học và triết học hiện đại. Những vấn đề hiện đại khoa học, triết học không thể giải quyết, trong kinh Phật đều có hết, hơn nữa nói rất thấu triệt. Bất luận là hồng quan vũ trụ, hay là vi quan lượng tử lực học, kinh Phật nói thấu triệt hơn, nói hay hơn họ. Thực sự có thể giúp đỡ chúng ta giải quyết vấn đề.
Thế giới của chúng ta có thể khôi phục được an định hòa bình, hạnh phúc mỹ mãn hay không? Đáp án là nhất định, có thể, chỉ cần chúng ta quay đầu, tuân thủ giáo huấn của tiền nhân. Giáo huấn của tiền nhân không phải là họ phát minh ra, không phải họ sáng lập ra, hoàn toàn là trong tự tính vốn có, cho nên Khổng lão phu tử nói rất hay, ông nói ông một đời “Thuật nhi bất tác. Tín nhi hiếu cổ”. 2 câu nói này còn không vĩ đại sao? Chứng tỏ Khổng Tử một đời không có sáng tạo, không có phát minh, thứ ông học được, tu được, thứ ông dạy, thứ ông truyền lại, đều là cổ thánh tiên hiền để lại, cho nên hậu nhân Trung Quốc xưng Khổng Tử là người tập đại thành. “Đại thành chí thánh tiên sư”. Tập đại thành bản thân không có sáng tạo phát minh, tức là ngày nay chúng ta nói ông là một người trung thực, hiếu học, thật làm. Ông đem truyền thuyết của cổ nhân viết thành văn tự để truyền xuống, cho nên trong LuậnNgữ rất nhiều từ “Tử viết” (Khổng Tử nói). Ý nghĩa ở trong đó tất cả đều là của cổ thánh tiên hiền, điều này chúng ta nên hiểu.
Tự tính là gì? Chúng ta sẵn có. Tự tính của chúng ta và tự tính của thánh nhân và tự tính của Phật, Bồ tát là một tánh. Phật Thích Ca Mâu Ni từ tự tính lưu xuất ra kinh Hoa Nghiêm, lưu xuất ra kinh VôLượngThọ. Tự tính của chúng ta cũng có Hoa Nghiêm, cũng có kinh VôLượngThọ, cùng với Phật Thích Ca Mâu Ni là không hai không khác. Vì thế, chỉ cần minh tâm kiến tính, không phải quý vị đều nhìn thấy hết rồi sao?
Ở Trung Quốc vào thời xưa, Huệ Năng Đại sư đã làm cho chúng ta một chứng minh. Ngài không biết chữ, chưa từng đi học, nhưng Ngài không có gì là không biết. Tất cả kinh điển quý vị đọc cho Ngài nghe, Ngài sẽ giảng cho quý vị nghe, giảng rõ ràng minh bạch không sai chút nào. Do vậy, Phật, Bồ tát, cổ thánh tiên hiền họ dạy người, không phải dạy quý vị nhớ, không phải dạy quý vị học thuộc, những thứ này là thứ cứng nhắc, không có ý nghĩa gì, bảo quý vị khai ngộ. Khai ngộ như thế nào? Tâm định trở lại, chính là khai ngộ. Dùng phương pháp gì làm cho tâm chúng ta định trở lại? Phương pháp đó rất nhiều.
Trong Phật pháp nói 84.000 pháp môn, phương pháp! Bất luận dùng phương pháp gì, chỉ cần làm cho tâm định trở lại, vọng niệm ít đi, trí tuệ liền xuất hiện. Tiểu định, tiểu trí tuệ hiện tiền. Đại định, đại trí tuệ hiện tiền. Điều này, quan trọng. Vì thế, trí tuệ là những thứ tốt ở trong tự tính, có thể giải quyết tất cả mọi vấn đề, không xảy ra tác dụng phụ, khác với tri thức. Tri thức có thể giải quyết vấn đề, chắc chắn có tác dụng phụ. Hơn nữa, chỉ có thể giải quyết cục bộ, không thể giải quyết được viên mãn. Giáo dục của cổ thánh tiên hiền là cầu trí tuệ.
Trong kinh Hoa Nghiêm, nói 10 loại tự tại, hoàn toàn là Tính đức. Vì thế, chúng ta hiểu được, chúng ta hiểu rõ, thực sự niệm Phật sinh đến thế giới Tây Phương Cực Lạc, thân thể của quý vị bất biến, thọ mạng cũng bất biến. Thế giới Cực Lạc xưng Phật A Di Đà là Vô Lượng Thọ Phật, đó không phải là tán thán Ngài, mà đó là thật. Nhưng thân tướng của Ngài phải chăng là tồn tại vĩnh viễn? Không phải. Đến lúc nào thân tướng không tồn tại nữa? Cõi Thật Báo của Phật A Di Đà này, trong kinh Hoa Nghiêm nói ai trú ở đó? 41 vị Pháp thân đại sĩ, cũng chính là Sơ Trụ Bồ tát, đến nơi đó rồi, vãng sinh đến bên đó rồi. Khi nào rời đi? Đến Diệu Giác vị liền rời đi. Từ Sơ Trụ đến Diệu Giác thời gian này bao lâu? Trong kinh nói với chúng ta là 3 đại A tăng kỳ kiếp, chúng ta liền hiểu được rằng thọ mạng của Phật A Di Đà là 3 đại A tăng kỳ kiếp. Sau 3 đại A tăng kỳ kiếp, họ trở về với tự tính, nhập vào Thường Tịch Quang. Đây là sâu hơn một tầng nữa nhập vào Thường Tịch Quang.
Trong Thường Tịch Quang không có hình tướng. Thường Tịch Quang không có hiện tượng tinh thần, cũng không có hiện tượng vật chất, đây là tối cao. Thường Tịch Quang có khởi tác dụng không? Khởi tác dụng. Chúng sinh có cảm, họ có ứng. Chúng sinh có cảm, lúc họ đến ứng liền hiện thân, họ hiện thân tự tại, muốn hiện thân gì liền hiện thân đó, giống như phẩm Phổ Môn nêu ví dụ 32 ứng thân. Cần dùng thân Phật để độ, Ngài liền hiện thân Phật; cần dùng thân Bồ tát để độ, liền dùng thân Bồ tát; cần dùng thân đồng nam đồng nữ để độ liền dùng thân đồng nam đồng nữ; thân gì cũng hiện được. Không những có thể hiện thân người, có thể hiện thân động vật, có thể hiện cỏ cây, hoa lá, có thể hiện sơn hà, đại địa. Thứ gì họ cũng có thể hiện, thực sự được đại tự tại.
Thứ hai là “Tâm tự tại”. Bồ tát trí tuệ phương tiện, điều phục tự tâm, có thể nhập vào đại tam muội vô lượng, du hí thần thông, mà vô chướng ngại. Đoạn này, nói với chúng ta tâm phải định. Tâm vốn là định, vốn đã không có dao động, đây gọi là chân tâm. Vọng tâm là động, chân tâm bất động. Lúc Huệ Năng Đại sư khai ngộ nói: “Đâu ngờ tự tính, vốn không dao động”. Đó chính là tự tính bổn định, vốn sẵn đã định, cho nên động là sai. Tâm tự tại rồi, thì thường ở trong định. Nói cách khác, thường sanh trí tuệ, trí tuệ chiếu vạn vật, lúc nó khởi tác dụng chúng sinh có cảm nó liền có ứng. Tuy rằng ứng, ứng thân cũng điều phục tự tâm, cũng thị hiện cho chúng ta vô lượng đại tam muội. Đại tam muội chính là đại định. Tam muội là tiếng Ấn Độ, trong thập pháp giới du hí thần thông, không có chướng ngại. Du hí thần thông này là gì? Giáo hóa chúng sinh, giúp đỡ chúng sinh phá mê khai ngộ.
Thứ ba là “Tưcụ tự tại”. Đây cũng là điều tất cả con người chúng ta hướng mong đến. Tư cụ là gì? Chúng ta sống trong thế gian này, tất cả những sinh hoạt vật chất, cuộc sống tinh thần mà chúng ta thọ dụng được đại tự tại, không có gì thiếu thốn, tất cả đều trong tự tính sẵn có.
“Nghiêm sức nhất thiết thế giới”. Nghiêm là nghiêm trang. Sức là trang sức. Nghiêm sức này là điều ngày nay chúng ta nói tốt đẹp. Phật Thích Ca Mâu Ni giới thiệu cho chúng ta thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà. Điều tốt đẹp của thế giới đó nói mãi không hết, chỉ lược nói vài điều.
Thứ nhất, thế giới đó thanh tịnh không có ô nhiễm. Vậy chúng ta nghĩ xem ngày nay, trái đất, toàn thể trái đất bị ô nhiễm, tinh thần của chúng ta bị ô nhiễm. Tinh thần của chúng ta cũng bị nhiễm ô rồi, cho nên mới có rất nhiều tật bệnh phát sinh. Đại địa của thế giới Cực Lạc không phải là bùn đất, mà là lưu ly. Lưu ly, người Trung Quốc gọi đó là ngọc bích, ngọc tốt nhất, màu xanh, cho nên thế giới Cực Lạc cũng là đại địa màu xanh. Nhưng nó là đất lưu ly, cỏ cây, hoa lá cũng vô cùng mềm mại, nó không phải là cây cỏ, nó là trân bảo thành tựu, vô lượng trân bảo. Vàng là thứ mà người thế gian chúng ta coi trọng nhất, vàng của thế giới Cực Lạc là thứ dùng để trải đường đi, giống như chúng ta hiện nay dùng nhựa đường để trải đường vậy. Thế giới Cực Lạc dùng vàng để trải đường đi.
Quý vị nói xem, tài nguyên của nó phong phú biết bao, cuộc sống nhân dân giàu có biết bao, không cần lo lắng chút nào. Nước uống đều là cam lộ, nước 8 công đức. Chúng ta hiện nay trong nước cũng có độc, uống vào thì mất mạng. Nước ở chỗ họ không những bổ dưỡng thân thể, còn có thể giúp đỡ quý vị sanh trưởng trí tuệ. Phật A Di Đà ở nơi đó dạy học. Thế giới đó lớn hơn trái đất chúng ta nhiều, trái đất không thể nào so sánh với nó được. Phật A Di Đà phân thân nơi nơi đều có, quý vị nghĩ đến Phật A Di Đà, Phật liền ở ngay trước mặt quý vị, cảm ứng nhanh như vậy. Thầy giáo người ta ở trước mặt. Không tự nhiên, giữ kẽ quá, thầy giáo liền không thấy nữa. Muốn nghe Phật pháp, thầy giáo biến thành con chim nhỏ đến thuyết pháp cho quý vị, vậy là quý vị rất tự tại. Gió thổi hoa lá, lá cây đó giống như chuông gió, âm thanh vô cùng mỹ diệu, cũng ở đó thuyết pháp hướng dẫn cho quý vị, tư cụ tự tại. Không giống như thế gian này của chúng ta phải truy cầu cực khổ như vậy. Cầu được rồi vẫn là trong mệnh có sẵn, trong mệnh không có thì cầu không được, cho nên cổ nhân nói: Quân tử vui được làm quân tử, tiểu nhân oan uổng làm tiểu nhân. Danh văn, lợi dưỡng, quý vị cầu được toàn là trong mệnh sẵn có, quý vị hà tất phải tìm cầu. Không cầu cũng có được.
Cổthánhtiênhiềndạychúngtanhường, khôngbảochúng ta cầu. Lễ nhường, không phải là cầu được, cầu không được. Thứ quý vị cầu được, quý vị dùng cũng hết, đến cuối cùng liền không có nữa. Phúc báo quý vị dùng hết rồi, ngay hôm nay quý vị được một chút phúc báo, từ đâu mà có? Trong đời quá khứ tu mà có, đời đời kiếp kiếp tu mà có, đời này không biết tu nữa, quý vị hưởng dụng là phúc trong đời quá khứ. Thủ đoạn si cầu này là sai lầm, lẽ ra nên bồi phúc. Bồi phúc, đức Phật nói rất hay, đều nói lời chân thật. Tài sản của trong vận mệnh của quý vị từ đâu mà có? Từ bố thí tài sản mà có. Thông minh trí tuệ từ đâu mà có? Từ bố thí pháp mà có. Mạnh khỏe trường thọ từ đâu mà có? Bố thí vô úy mà có. Đức Phật dạy chúng ta tu 3 loại bố thí này, chính là bồi phúc. Quý vị tu bố thí tài vật, quý vị nhất định được giàu có, càng thí càng nhiều. Tu bố thí pháp được thông minh trí tuệ. Tu bố thí vô úy được mạnh khỏe trường thọ.
Lúc tôi mới học Phật, Đại sư Chương Gia dạy tôi, tôi đã thật làm, làm đến ngày nay được 59 năm rồi. 59 năm này, có thể làm chứng minh cho mọi người. 3 thứ này, tôi đều làm được, tài sản dùng không thiếu nữa. Trong người không có đồng nào, nhưng muốn làm việc gì cần bao nhiêu tiền, tiền đó tự nhiên liền đến, không thể nghĩ bàn! Không có thì tôi không làm. Đến rồi, thì tôi làm. Đến rồi mà không làm, thì không được. Đó là Phật, Bồ tát cần tôi làm. Lúc không đến, tức là Phật, Bồ tát không bảo tôi làm, để cho tôi nhàn rỗi một chút. Tôi rất an vui, rất tự tại. Thông minh, trí tuệ, quý vị nghe tôi giảng kinh, thì biết rồi. Tôi giảng những kinh điển Đại thừa này mỗi năm đều khác, bởi cảnh giới không tương đồng mà. Không phải trước đây, tôi không nói, không phải thế, mà trí tuệ mỗi năm một tăng trưởng. Mạnh khỏe trường thọ, quý vị đều nhìn thấy rồi, bố thí vô úy.
Trong bố thí vô úy, điều đầu tiên là chọn cách ăn chay. Không còn kết oán thù với chúng sinh nữa, cho nên động vật nhỏ nhìn thấy quý vị sẽ không sợ sệt. Tôi sống ở Úc Châu, trú ở thôn quê, động vật nhỏ rất nhiều, sóc vừa vẫy vẫy tay nó liền đến, chúng sẽ không sợ sệt, sẽ không chạy. Chúng cũng biết nhìn người. Nếu như con người quý vị có sát khí, nó đã chạy từ lâu rồi. Học Phật nhiều năm như vậy, sát khí không còn nữa. Ý niệm sát hại chúng sinh không còn, cho nên với tất cả những động vật nhỏ đều có thể chung sống hòa thuận, cùng tồn tại phát triển, giúp đỡ lẫn nhau.
Tiếp theo là điều thứ tư, “Nghiệp tự tại”. Nghiệp là gì? Là tạo tác. Chúng ta thông thường nói là sự nghiệp. Lúc quý vị đang tạo tác, gọi là sự, quý vị đang làm sự việc gì. Sự việc làm xong rồi, đó gọi là nghiệp. Sự việc của quý vị là thiện, hoặc là ác, quý vị làm việc tốt đó là thiện nghiệp; quý vị làm việc xấu là ác nghiệp. Nghiệp chiêu cảm quả báo trong tương lai. Nghiệp là nhân, quả báo sau đó, báo là quả. Chính là nói thiện có thiện báo, ác có ác báo, không phải không báo, thời hạn chưa đến. Con người làm thiện nghiệp, hiện tại còn đang chịu tội, còn đang chịu khổ. Nguyên nhân là gì? Quả báo của ác nghiệp trong quá khứ chưa báo hết, sức mạnh nào lớn nó chịu báo trước. Đợi đến lúc nghiệp ác này báo xong rồi, thì nghiệp thiện liền khởi lên. Hiện tại tạo ác nghiệp, cũng hưởng thụ được rất nhiều. Đó là gì? Thiện trong quá khứ lớn, thiện căn trong quá khứ sâu dày, phúc họ hưởng xong rồi, ác báo liền hiện tiền. Vì thế, thiện ác nhất định là có quả báo. Quý vị nếu như không có nhân quả, đó là hoàn toàn sai lầm.
Cổ nhân hướng dẫn chúng ta, khởi tâm động niệm, nói năng tạo tác, đây đều gọi là nghiệp. Nhất định phải tuân thủ đạo đức. Tôi tin rằng là ngàn vạn năm tương truyền xuống, rất đơn giản chỉ có 12 từ, sẽ không truyền sai. Cổ nhân truyền xuống không thể phức tạp, không thể nhiều. Nhiều thì sao? Nhớ không được, truyền sai mất. Càng đơn giản thì càng chân thực. Quý vị xem đơn giản chỉ 12 từ: “hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ, nhân, ái, hòa, bình”. Điều này, tuyệt đối không truyền sai. Quy nạp lại chỉ có 12 từ này, triển khai ra cũng rất đơn giản, đều có thể nhớ được. Phụ tử hữu thân. Phu phu hữu biệt. Quân thần hữu nghĩa. Trưởng ấu hữu tự. Bằng hữu hữu tín, là Ngũ luân. Ngũ thường: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, 5 từ. Tứ duy: Lễ, nghĩa, liêm, sỉ. Bát đức: Trung, hiếu, nhân, ái, tín, nghĩa, hòa, bình.
Quý vị xem mấy vạn năm trước, liền truyền những thứ này cho người đời sau. Vậy làm sao truyền sai? Mấy câu này quy nạp lại chính là 12 từ, càng đơn giản hơn. Hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ, nhân, ái, hòa, bình, chỉ 12 từ. Đây là văn hóa truyền thống xưa. Chúng ta khởi tâm động niệm nhất định không làm trái. Bắt đầu thực hiện từ đâu? Từ hiếu thân, từ tôn sư. Ân đức của thầy giáo đối với chúng ta giống như cha mẹ vậy. Thân thể chúng ta có được từ cha mẹ, trí tuệ của chúng ta từ thầy giáo mà có. Phật hướng dẫn chúng ta “Hiếu dưỡng phụ mẫu. Phụng sự sư trưởng”, quý vị xem lời Phật giảng và văn hóa truyền thống là cùng một gốc, hiếu thân, tôn sư. Giáo dục xưa là bắt đầu từ hiếu thân, tôn sư. Dùng lời hiện tại để nói là giáo dục yêu thương. Gốc của giáo dục xưa là câu đầu tiên trong Ngũ luân: “Phụ tử hữu thân”. Sự thân ái của cha mẹ đối với con cái; đó là Tính đức, đó là trong tự tính phát sinh ra. Mục đích của dạy học là hi vọng Tính đức này trong đời này có thể duy trì bất biến. Đây là mục tiêu số một của giáo dục.
Mục tiêu thứ hai là hi vọng đem Tính đức này, sự thân ái này phát huy rộng lớn. Từ yêu thương cha mẹ mình, phát huy đến yêu thương anh chị em mình, yêu thương bạn bè thân thích của mình, yêu thương bà con làng xóm của mình, yêu xã hội, yêu quốc gia, đến cuối cùng “Phàm là người đều phải yêu thương”. Đây là mục đích giáo dục, là bảo quý vị thực sự làm thánh nhân, làm hiền nhân.
Người là thánh hiền, nói với quý vị rằng nhà cũng là thánh hiền, sự nghiệp của quý vị cũng là thánh hiền. Quốc gia chính trị là thánh hiền, chính trị thánh hiền. Bất luận chế độ nào, họ đều là thánh hiền, người thánh hiền! Chế độ là pháp, quốc gia không thể không có pháp. Pháp có thể độc lập tồn tại không? Không thể. Pháp yếu đắc kỳ nhân, nó nếu như đạt được thánh nhân, thì pháp này là pháp thánh hiền; nó nếu cần đạt được quân tử, pháp này là pháp quân tử; nó nếu như là tiểu nhân chấp chính, thì pháp đó chính là pháp tiểu nhân.
Vì vậy, cổ nhân có câu nói rất hay: “Nhân tồn chánh cử. Nhân vong chánh tức”. Chúng ta phải hiểu được đạo lý này. Đối với cổ nhân phải có tâm tôn trọng, không được xem thường. Xem thường là tạo nghiệp. Chúng ta cho rằng bản thân chúng ta rất tài giỏi, cổ nhân cũng không bằng chúng ta. Thực ra, chúng ta không bằng cổ nhân.
Ngày nay, tuy khoa học kỹ thuật phát triển, nhưng đến cuối cùng, kết quả như thế nào? Kết quả là trái đất hủy diệt. Cổ nhân không phải không hiểu khoa học. Các Ngài hiểu, nhưng vì sao không phát triển? Biết được những thứ này nếu phát triển, nếu như luân lý, đạo đức không theo kịp, hậu quả chính là trái đất hủy diệt, chính là thế giới tận thế, cho nên không muốn cách làm như vậy. Đây là gì? Đây là từ bi. Đây là yêu thương. Đạo lý này chúng ta nhất định phải hiểu. Vì thế, nghiệp phải tự tại. Chúng ta có thể tương ưng với Tính đức, thì không có thứ gì không tồn tại. Khởi tâm động niệm, nói năng tạo tác, người xưa dùng 12 từ. Trong Phật pháp, chính là Thập Thiện Nghiệp. Không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không nói hai lưỡi, không nói thêu dệt, không nói lời ác, không tham, không sân, không si, đó là Tính đức. Nhà Phật nói Thập Thiện Nghiệp Đạo.
Ngày nay, xã hội loạn rồi, thế giới thiên tai nhiều rồi, hóa giải như thế nào? Có thể tìm lại 3 cái gốc của Nho, Thích, Đạo, chăm chỉ nỗ lực học tập làm cho được, thiên tai liền không còn nữa. Quý vị xem, chúng ta thực sự có thể thực hành được Đệ Tử Quy, thực hành được CảmỨngThiên, thực hành được Thập Thiện Nghiệp, thì xã hội liền an định. Những thiên tai trên trái đất cũng tự nhiên liền hóa giải. Vì sao vậy? Cảnh tùy tâm chuyển. Cảnh là hoàn cảnh vật chất bên ngoài, tùy theo tâm con người mà chuyển biến. Tâm con người thiện, nó liền biến thành thiện. Tâm con người bất thiện, nó liền biến thành ác.
Trong kinh Lăng Nghiêm, nói nguyên nhân thực sự của thủy tai là gì? Là tâm tham. Tâm tham của con người chiêu cảm đến tai nạn về nước, là thủy tai. Sân nhuế chiêu cảm đến là hỏa tai. Nhiệt độ trái đất tăng lên, là sân nhuế. Đây mới là nguyên nhân thực sự. Phong tai là ngu si, ngạo mạn là động đất, đều có đối ứng cả. Chúng ta khởi nhân như thế nào, nó sẽ có thiên tai như thế ấy. Chúng ta xem xem, người hiện tại, tham, sân, si, mạn, nghi, có ai mà không có? Chẳng những có, mà còn rất nghiêm trọng, đem lại bệnh tật cho chính bản thân họ. Lục phủ, ngũ tạng đều sẽ không bình thường, dẫn đến môi trường cư trú biến động, chính là thiên tai.
Chúng ta chăm chỉ tu học, chúng ta rõ ràng, hiểu được rồi. Sự việc này, trong kinh Phật nói, được các nhà khoa học hiện đại chứng minh rồi. Chúng tôi nhìn thấy rất vui mừng. Khoa học đem đến cho chúng ta phúc âm. Chúng ta có cách gì cứu giúp trái đất hay không? Giới khoa học nói có. Cứu giúp như thế nào? Thay đổi tâm thái. Họ biết tất cả những thiên tai trên trái đất là do tâm thái không bình thường biến hiện ra, nói giống như Phật pháp vậy. Tham, sân, si, mạn, nghi là không bình thường.
Cần bao nhiêu người sửa đổi trở lại, thì trái đất chúng ta mới không đến nỗi hủy diệt? Giới khoa học họ tính ra một số liệu, căn bậc hai của một phần trăm dân số thế giới. Hiện tại, trên trái đất chỉ tính 6,5 tỷ người thôi, căn bậc hai của một phần trăm dân số, họ nói khoảng 8.000 người. Toàn thế giới thực sự có 8.000 người có thể quay đầu, thế giới này liền được cứu rồi. 6,5 tỷ người, chỉ 8.000 người hành thiện, thì có thể cứu được sao? Điều này, chúng ta có thể tin được không? Cổ nhân có câu nói: “Tà không thắng chánh”. 8.000 người này là chánh, hơn 6 tỷ người kia là tà. Tà không thắng chánh. Nghĩ xem, cổ nhân nói câu này rất có lý. Họ còn nói với chúng ta một con số cụ thể, một thành thị với một triệu nhân khẩu, chỉ cần có 100 người biết quay đầu, thì thành phố với một triệu dân này có thể sẽ ít tai ít nạn. Tai nạn không thể tránh, nhưng có thể giảm nhẹ.
8.000 người quay đầu, thực sự hành thiện, tích lũy công đức, người trên trái đất này thiên tai được giảm nhẹ, không thể nói là không có. Vì sao vậy? Người tạo nghiệp nhiều quá, nhưng 8.000 người trú ở nơi này, người thiện trú ở nơi này, trái đất này không đến nỗi hủy diệt, nhân loại không đến nỗi có ngày tận thế. Vì thế, giới khoa học hi vọng chúng ta, đặc biệt là hi vọng những tôn giáo đồ chúng ta đoạn ác tu thiện, để giảm nhẹ thiên tai.
Tháng sáu, chúng tôi viếng thăm Vatican, nhìn thấy Giáo hoàng Thiên Chúa giáo và những đại giáo chủ của họ. Họ rất nghiêm túc khuyên răn giáo đồ Thiên Chúa trên toàn thế giới, nghiêm túc vì hòa bình thế giới, vì tất cả những thiên tai mà mỗi ngày đều cầu nguyện. Có hiệu quả không? Có thể có, chắc chắn có hiệu quả.
Trong Phật giáo không gọi là cầu nguyện. Phật giáo gọi là hồi hướng, đem công đức chúng ta tu học được hồi hướng cho những chúng sinh khổ nạn này. Chúng ta phải nghiêm túc dẫn đầu để làm, bắt tay từ LụcHòa Kính, đem 3 cái gốc của Nho, Thích, Đạo làm cho tốt. Chăm chỉ nỗ lực tu LụcHòa Kính. Có cơ sở này rồi, Nho, Thích, Đạo, tùy ý tu pháp môn nào, bộ kinh luận nào, đều có thể làm đến địa vị thánh hiền. Học Nho, có thể thành thánh, thành hiền. Học Phật, có thể thành Phật, thành Bồ tát. Học Đạo, có thể thành thần, thành tiên. Thực sự có thể làm được, không phải là giả. Đây chính là nghiệp tự tại.
Thứ năm “Thọ sinh tự tại”. Bồ tát tùy theo tâm niệm của họ, có thể ở trong các thế giới thị hiện thọ sinh không chướng vô ngại vậy. Thọ sinh này, chúng ta thường nói là đầu thai. Đi đến đâu đầu thai đều tự tại, bản thân có thể tự chọn lựa. Đây là người nào? Người giác ngộ. Họ có thể chọn lựa. Nếu như người mê hoặc, tùy theo nghiệp lực gọi là tùy nghiệp lưu chuyển. Thực sự tâm địa thanh tịnh, họ không phải tùy nghiệp lưu chuyển. Họ đến nhân gian này đầu thai, họ biết nhìn. Họ nhìn gì? Không phải nhìn cha mẹ hiện tại, phải chăng trong xã hội này có địa vị, có của cải, họ không nhìn những thứ này. Họ nhìn cha mẹ hiện tại, tổ tông có tích đức hay không. Họ nhìn điều này. Lại nhìn hướng lên trên tổ tiên của quý vị tích đức được bao nhiêu đời rồi. Nếu như nói rất nhiều đời tích đức, 5 đời trở lên trong nhà này sẽ xuất hiện thánh nhân, không dễ dàng! Linh tính biết nhìn.
Lão nhạc phụ của phụ thân Khổng lão phu tử, đem con gái gả cho ông ấy. Thực sự mà nói, phụ thân của Khổng Tử lúc tại thế, cũng rất đáng thương, không có địa vị, là bình dân, cũng không có của cải, cuộc sống cũng rất túng thiếu, vậy ông nhạc phụ này vì sao lại đem con gái gả cho ông ấy? Tổ tông của nhà họ 5 đời đều tích đức, cho nên lão nhạc phụ của ông ấy nói với ông ấy, trong nhà họ nhất định sẽ có nhân tài, con gái gả cho ông ấy, sinh ra Khổng Tử. Tuy lúc tại thế không có thành tích gì, quý vị xem hậu thế tôn sùng ông là “Vạn thế sư biểu”, tôn phụng ông là đại thánh nhân số một của Trung Quốc. Đó là Khổng Tử. Phụ mẫu sanh ông ấy, người ta nhìn ra được, nhà này sau này sẽ có người tốt. Vì thế, tổ tông tích đức là quan trọng. Tổ tông không tích đức, phải bắt đầu từ bản thân.
Chúng ta nghĩ thử xem, cha mẹ chúng ta trong một đời có tích đức hay không? Không có tích đức. Tôi nói bản thân tôi, cha mẹ tôi không tích đức. Vì sao vậy? Sinh vào thời hoạn nạn. Vào thời kỳ Dân Quốc, phụ thân mẫu thân tôi hình như sinh vào thời Tuyên Thống mạt niên. Mười mấy tuổi, nhà Thanh đã mất nước, xã hội đã động loạn. Năm xưa, chúng tôi không hiểu được, đến thời kỳ kháng chiến, chúng tôi đã hoàn toàn hiểu rõ. Bản thân chúng tôi cũng đã lớn, lúc chiến tranh bùng phát, tôi đã 11 tuổi. Đây là trong một đời cha mẹ, chúng tôi ngày nay đọc sách thánh hiền biết được không có tích đức. Đời này, chúng tôi chịu khổ cũng đáng thôi. Tổ tông có tích đức hay không, nghe lời bạn học của phụ thân tôi, phụ thân tôi qua đời rất sớm, sự việc trong nhà đều không biết, còn có một người bạn cũ. Bạn học cũ ở Đài Loan. Thời đó, tôi mỗi năm đều đến thăm viếng ông ấy, thỉnh giáo với ông ấy, đặc biệt là hỏi những chuyện trong thời của ông nội tôi.
Ông ấy cũng biết ông nội của tôi, là vãn bối, nói với tôi: Ông nội tôi là một người tốt, cũng làm quan là một vị thanh quan. Lại hướng lên trên nữa, chúng tôi tin rằng có tích một chút đức. Vì sao vậy? Đời này, chúng tôi mới có thể gặp được Phật pháp, mới gặp được thiện tri thức chân chính. Nếu không gặp được, không những đời này khổ, mà đời sau càng khổ hơn. Gặp được những vị thầy giáo này hướng dẫn chúng tôi, chúng tôi hiểu được, giác ngộ, hiểu rõ ràng chân tướng sự thật, biết được nên làm người như thế nào, làm việc như thế nào, về sau quang minh sẽ vô lượng. Sống trong đời loạn lạc này, chúng tôi nên làm như thế nào để biểu pháp? Muốn đem lời giáo huấn của thánh hiền từ bản thân mình thực hành ra cho mọi người thấy. Thân hành ngôn giáo, mọi người nhìn rồi mới tin tưởng được, mới có thể chăm chỉ học tập.
Do đó, thọ sinh tự tại này là sự việc của Bồ tát. A La Hán trong kinh nói đều có mê, vì cách ấm. A La Hán sẽ chọn lựa, có năng lực để chọn lựa. Nhưng sau khi chọn lựa, họ vừa ra đời liền mê rồi, tất cả phải bắt đầu lại từ đầu, phải học lại từ đầu, chỉ có Bồ tát nhập thai, xuất thai họ sẽ không mê hoặc.
Thứ sáu là “Giải tự tại”. Bồ tát thắng giải thành tựu, có thể thị hiện các loại sắc thân, diễn thuyết diệu pháp, vô chướng vô ngại. Giải tự tại này biểu hiện trên việc dạy học. Đương nhiên, đầu tiên là dùng vào tu hành của bản thân.
Tu hành là thuật ngữ nhà Phật. Hành là hành vi. Hành vi chúng ta sai rồi, đem hành vi sai lầm tu sửa trở lại gọi là tu hành. Ý nghĩa này nên hiểu. Người hiện tại nói đến tu hành, chỉ biết lạy Phật, thắp hương, cúi đầu. Đó là tu hành sao? Không phải. Những hình thức này không liên quan gì đến tu hành, cho nên luân lạc - Quý vị xem, Phật pháp là lời giáo huấn của thánh hiền lại luân lạc thành tôn giáo, tôn giáo mê tín. Vì sao phải đốt hương? Vì sao phải cúi đầu? Họ không hiểu, không hiểu ý nghĩa, cho rằng người khác làm như vậy, tôi cũng làm như vậy. Sai thật rồi. Nhất định phải hiểu cho rõ ràng, cho thấu đáo, cuộc sống của chúng ta mới bình thường được, cho nên như lý như pháp, đây gọi là bình thường. Hợp tình, hợp lý, hợp pháp, người học Phật thấy tượng Phật, Bồ tát phải lễ bái. Lễ bái này ý nghĩa là gì? Không phải là cầu Phật, Bồ tát gia hộ. Tượng xi măng, gỗ khắc làm sao mà gia hộ quý vị? Đây là biểu thị chúng ta tôn sư trọng đạo. Phật, Bồ tát là thầy giáo của chúng ta.
Chúng ta gặp hình tượng của thầy giáo đều phải tôn trọng như vậy, hà huống là người thật! Người này là ai? Người này là thầy giáo của chúng ta. Phật, Bồ tát là thầy giáo của chúng ta. Đối với thầy giáo bình thường cung kính như vậy, đối với thầy giáo hiện tại quý vị có thể không cung kính sao? Có lý gì lại như vậy! Đối với thầy giáo cung kính như vậy, đối với cha mẹ có thể không hiếu thuận được sao? Khởi được tác dụng này. Hình thức này, có cần thiết không? Có cần thiết. Hình thức làm cho ai xem? Làm cho xã hội đại chúng xem. Bởi vì xã hội đại chúng hiện tại không biết hiếu thuận cha mẹ, không biết tôn sư trọng đạo. Chúng ta phải làm ra cho tốt để họ thấy, là ý nghĩa này, là thuộc về giáo hóa, là thuộc về phong tục tập quán thiện lương, là ý nghĩa này. Quý vị không thể làm sai. Phật dạy chúng ta là trong kinh điển.
Ngày xưa, chúng ta không nói nhiều, là thế hệ trước, 60 năm trước, tự viện, am đường còn có người giảng kinh, nhưng đã không còn nhiều. Thêm một giáp nữa, 100 năm trước, tự viện, am đường là trường học. Giảng kinh dạy học là sự nghiệp của họ. Phật giáo Trung Quốc biến thành tôn giáo, lịch sử tuyệt đối chưa vượt qua 300 năm. Trước đây thì sao? Trước đây là trường học. Giáo dục Phật giáo ngày xưa, hoàng đế đích thân nắm bắt, cho nên kiến trúc tự viện có thể xây dựng như cung điện của hoàng cung. Đây là hoàng đế đặc chuẩn. Hoàng đế cũng là đệ tử nhà Phật, tôn kính đối với thầy giáo. Vì thế, tự viện có thể xây cung điện, thông thường thì không được, ngay cả nha môn của chính phủ cũng không được xây cung điện. Chỉ có chùa chiền mới có thể. Đây là hoàng đế đề xướng giáo dục Phật Đà, ngày ngày đang dạy người. Nếu như chúng ta không học kinh giáo, người xuất gia không học kinh giáo, tín đồ học Phật cũng không học kinh giáo, vậy thì biến thành mê tín rồi.
Có người hỏi: Phật giáo đối với xã hội có cống hiến gì? Chúng tôi nói không ra lời. Nó nếu như không có cống hiến gì, làm sao có thể truyền được đến hơn 2.000 năm? Trong lịch sử Trung Quốc nói là truyền lại 3.000 năm, làm sao có thể truyền lâu đến như vậy? Chắc chắn có cống hiến, nhất định có điều hay. Chúng ta từ trong lịch sử không ngừng hướng lên để nhìn, chúng ta sẽ nhìn thấy được, hơn nữa hiện tại thế hệ này không học nữa! Đem Phật giáo ra mà kiếm tiền, lừa dối tất cả thiện nam tín nữ thiện lương. Lương tâm đâu rồi? Sao có thể làm như vậy?
Lúc chúng tôi còn trẻ, chưa từng nhìn thấy trong chùa có người giảng kinh, chỉ nghe hòa thượng tụng kinh, không nghe có người giảng kinh, cho nên đối với Phật giáo không có cảm tình. Năm tôi 26 tuổi, ở Đài Loan, yêu thích triết học, tìm được một vị thầy giáo, cũng là đồng hương Đồng Thành của tôi, tiên sinh Phương Đông Mỹ. Tôi học triết học với ông ấy. Ông giảng cho tôi một bộ sách TriếtHọc Khái Luận, phần cuối cùng là Phật Kinh Triết Học, mới đem mặt mũi thực sự của Phật giáo nói cho tôi biết. Tôi mới hoát nhiên đại ngộ. Thầy giới thiệu cho tôi: Phật Thích Ca Mâu Ni là nhà triết học vĩ đại nhất trên thế giới. Kinh Phật là đỉnh cao nhất của triết học trên thế giới. Học Phật là sự hưởng thụ lớn nhất của đời người. Đây đều là thầy giáo nói cho tôi. Quan niệm của tôi đã được thay đổi, thật không dễ dàng. Thầy còn nói với tôi: Nếu như ông muốn học triết học kinh Phật, thì học ở đâu? Học ở trong kinh điển. Điều này, trong chùa không có. Ông đến chùa tìm kinh sách.
Thời đại đó, trên thị trường không mua được kinh sách, chỉ có trong chùa chiền có. Vì thế, nếu chúng tôi muốn đọc kinh, đến chùa để tìm Đại Tạng Kinh. Sau khi tra được Đại Tạng Kinh mới cho mượn đem về. Tranh thủ lúc công việc rảnh rỗi để chép ra, đi chép kinh. Thời cận đại, kỹ thuật in ấn phát triển, photo chế bản, hiện tại dùng kỹ thuật số in ấn càng thuận tiện, cho nên giá thành hạ xuống rất nhiều. Không có ai học, hiện tại chùa chiền không có ai học. Ngày xưa, trong chùa toàn người xuất gia, mỗi mỗi đều là nhà đại học vấn, đều là tu dưỡng đạo đức, thật có học vấn. Quý vị có thể thỉnh giáo với họ.
Hiện tại không có nữa. Họ không học nữa, chỉ có ở trong kinh điển. Do đó, chúng ta phải hạ công phu ở trong kinh điển. Chúng tôi học đã một giáp, 60 năm rồi. Trong thời gian 60 năm này, chúng tôi thấy những tình hình trong Phật giáo, người học tập về kinh giáo càng ngày càng ít. Điều này, chúng tôi nhìn thấy rất buồn. Trình độ văn hóa trên thế giới so với thế kỷ trước thực sự gọi là “Một khi rơi cả ngàn trượng”.
Mấy năm trước, tôi từng 2 lần thăm viếng London, đi thăm học phủ cao nhất của họ. Đại học Oxford, Cambridge, London, tôi đi thăm viếng. Tôi cảm thấy rất thất vọng, đây là trường đại học nổi tiếng nhất trên thế giới, xếp hạng trường học thứ nhất, thứ hai, nhưng trình độ đi xuống rồi, không giống như truyền thuyết trước đây nữa.
Tu học Phật pháp thì sao? Thực sự có những khó khăn nhất định. Trên thực tế cũng không khó. Chỉ cần quý vị thật làm. Phải tuân thủ phương pháp cũ của cổ nhân. Những phương pháp mới, hiện tại phương pháp triết học Tây phương nếu dùng vào học thuật phương Đông, chắc chắn là thất bại. Quý vị không học được điều gì. Học được chỉ là một chút tri thức ngoài da. Hơn nữa, rất nhiều hiểu nhầm, rất nhiều sai lầm ở trong đó. Người xưa, dạy như thế nào? Từ Giới, Định, Tuệ. Đây là những thứ của Phật pháp truyền đến, được Nho gia, được Đạo gia chọn dùng.
Giới là gì? Giới là giữ quy củ. Những quy củ ngày xưa, được thế hệ này qua thệ hệ khác truyền xuống, nhất môn thâm nhập, trường thời huân tu, quý vị liền thành công. Trường thời này, thông thường là thời gian bao lâu? Cổ nhân định là 10 năm, gọi là “Mười năm đèn sách nhất cử thành danh”. Quý vị ngày ngày đều học, ngày ngày đều nghiên cứu, ngày ngày học tập. Đem những thứ quý vị học được, những thứ lãnh hội được, biến thành tư tưởng của quý vị, biến thành ngôn ngữ của quý vị, biến thành hành vi của quý vị, đây gọi là thật làm. Học rồi nhưng không thực tiễn vào cuộc sống, đó là quý vị chưa học. Đó gọi là thường thức, đó không gọi là học vấn. Học vấn là học đến lúc thực tiễn vào trong cuộc sống, tôi làm được rồi, an vui.
“Học mà luôn luyện tập, không cũng là vui ư!”, đó là hỷ duyệt. Cổ nhân nói là “Người gặp chuyện vui, tinh thần sảng khoái”. Người này từ sáng đến tối, sống trong an vui, sống trong hỉ lạc, quý vị nói xem tinh thần tốt biết bao, họ làm sao mà già suy được! Ngược lại nói “Ưu buồn làm người ta già”. Người âu lo nhiều, lão hóa rất nhanh. Sự việc lo lắng nhiều, dễ dàng già suy. Người an vui, họ làm sao mà già suy được. Có lý gì lại như vậy! Vì thế, người có học có ai không an vui? Người có học mà không an vui, vậy là học suông rồi. Quý vị không nếm được pháp vị mà nhà Phật nói, tức trong sách có ý vị.
Trong Phật pháp thường nói, thế vị sao đậm bằng pháp vị! Quý vị xem an vui, hạnh phúc, tâm tình vui vẻ. Thâm nhập kinh tạng niềm vui đó, không có cách gì có thể so sánh được. Quý vị chưa vào cảnh giới này, quý vị không biết. Sau khi vào rồi, muốn bỏ cũng không được? Thế gian điều gì vui nhất? Đọc kinh là vui nhất. Một ngày không đọc kinh, ngày đó buồn biết bao. Dạy học, chia sẻ với mọi người là niềm vui của mình. Đây là niềm vui không gì sánh được. Nếu như trong đây không có niềm vui thù thắng như vậy, ai đi làm những việc này. Do đó, quý vị đọc sách, nếu như nếm được những ý vị này của cổ nhân, quý vị mới thực sự thâm nhập vào, muốn bỏ cũng không được.
Lời này là thật. Thế gian này, sự quyến rũ như thế nào, sự mê hoặc như thế nào là lớn nhất? Kinh điển thánh hiền, kinh điển Phật giáo, sức mạnh này lớn quá. Quý vị đọc đến khô kiệt vô vị rồi là gì? Là quý vị không hiểu. Lúc quý vị thực sự hiểu, kỳ vị vô cùng. Mỗi câu mỗi chữ đều là vô lượng nghĩa, nói không cùng, hưởng thụ không hết. Vậy nên gọi là giải tự tại. Giải, nhất định từ trong chân thật thọ dụng mà có được.
Những thứ quý vị học được không thể thực tiễn, thì quý vị học được hiếu, không thể hiếu thuận cha mẹ, không thể đối với tất cả chúng sinh. Từ trong nội tâm không sinh khởi tâm cung kính, là quý vị chưa học được. Trong đó có lạc! Vì thế, năng hiện các thân. Các loại thân này là chúng ta nói phương tiện một chút, tức là trong bất cứ hoàn cảnh nào, bất cứ trường hợp nào, quý vị đều có thể thị hiện thong dong, vui vẻ. Trường hợp như thế nào, quý vị đều có thể sống được, được đại tự tại.
“Diễn thuyết diệu pháp”. Diễn là làm ra, biểu diễn ra. Thuyết là giải thích cho người khác. Người khác có thắc mắc nêu ra, quý vị giải thích cho họ, không có chướng ngại.
Thứ bảy là “Nguyện tự tại”. Nhà Phật nói là nguyện, cổ nhân nói là chí, cho nên chí nguyện thường thường đi liền với nhau. Nhà Nho dạy người lập chí, Phật dạy người phát nguyện, cùng một ý nghĩa. Phát nguyện chính là lập chí. Lập chí chính là phát nguyện. Người lập chí phải làm người tốt, có tâm tốt, nói lời tốt, làm việc tốt, làm người tốt, vậy an vui biết bao!
Người tốt không nhất định là phú quý, cũng tức là nói không nhất định có địa vị thật cao, không nhất định có của cải. Nhan Hồi là người tốt, Khổng Tử thường tán thán ông ấy. Nhan Hồi vô cùng nghèo khó, trên điều kiện cuộc sống vật chất, ông là người nghèo khổ nhất trong số những người đệ tử của Khổng Tử, nhưng ông an vui hơn bất cứ người nào. Sự an vui của ông từ đâu mà có? Kỳ thực chính là câu đầu tiên trong LuậnNgữ nói, sự an vui của ông ấy là “Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ”. Từ đó mà có vậy. Ông ta trước nay chưa từng cho rằng không có địa vị, không có của cải, thì có âu lo. Ông ấy không có, hoàn toàn không có, những thứ này không để ở trong tâm.
Trong tâm chỉ có đại đạo thánh hiền. Điều này, chúng ta nên hiểu, có địa vị hay không, có của cải hay không, đó là phúc báo. Quý vị nếu như hiểu rõ giáo huấn của thánh hiền, trong đời này quý vị chắc chắn không sống uổng phí. Quý vị sẽ tu vô lượng vô biên phúc báo. Làm quan, dùng chức quyền của quý vị giúp đỡ tất cả chúng sinh khổ nạn. Quý vị xem Liễu Phàm Tứ Huấn, tiên sinh Liễu Phàm sau khi tiếp thu Phật pháp, hiểu được tu phúc, hiểu được cải tạo vận mệnh, phát nguyện, ông học đến nguyện tự tại này, phát nguyện hành thiện.
Đầu tiên, phát nguyện làm 3.000 việc tốt. Việc tốt làm lợi ích người khác, 10 năm làm xong rồi, 10 năm làm viên mãn. Lúc đó đang đi học, làm tú tài. Lần thứ hai phát nguyện, lại phát nguyện làm 3.000 việc tốt, làm 4 năm thì xong. Vợ ông giúp đỡ ông làm, 4 năm thì làm viên mãn. Cuối cùng, ông ấy làm đến Tri huyện Bảo Trì. Chức vị Tri huyện Bảo Trì cũng rất cao rồi. Bởi vì, nó tương đương với thành phố trực thuộc trung ương, trực tiếp do hoàng đế quản.
Thành phố này ông ấy làm tri huyện. Ông phát tâm làm 10.000 việc tốt. Vợ ông ấy nói 10.000 việc tốt biết năm nào mới có thể làm xong? Bản thân ông ấy cũng không nghĩ đến, nghĩ đến thuế ruộng ở Bảo Trì quá cao, tức là trưng thu thuế của nông dân thu cao hơn một chút, ông rất từ bi thu những loại thuế này thấp xuống, tức là một sự việc này, thuế này hạ thấp xuống, cũng giảm được không ít. Biết mấy vạn nông dân toàn huyện đều được việc tốt. Quý vị xem, làm một sự việc mà 10.000 việc tốt liền viên mãn rồi. Ông có chức quyền, cho nên cửa công dễ tu hành. Một sự việc, tức là 10.000 việc tốt liền làm xong.
Hành thiện, Thiền sư Vân Cốc dạy ông ấy. Người có vận mệnh, nhưng vận mệnh là do bản thân tự tạo, cho nên bản thân có thể cải tạo vận mệnh của mình. Quý vị hiểu được đạo lý, quý vị hiểu được phương pháp sửa đổi, không có ai không thể thành công.
Ở đây nói “Bồ tát tùy nguyện dục”. Dục này là dục vọng. Người thế gian nói là dục vọng. Phật, Bồ tát có dục vọng hay không? Phật, Bồ tát không có. Phật, Bồ tát chỉ hi vọng giúp đỡ chúng sinh khổ nạn. Đây chính là nguyện dục của Bồ tát. Họ không vì bản thân.
“Ở trong các cõi, ứng thời xuất hiện”. Chúng sinh có cảm, Bồ tát liền có ứng, cảm ứng đạo giao. Xuất hiện ở thế gian này “thành Đẳng Chính Giác”. Đây là gì? Giống như Phật Thích Ca Mâu Ni, đến thế gian này thị hiện thành Phật; dùng thân phận của Phật xuất hiện ở thế gian này giáo hóa chúng sinh, không có chướng ngại. Ngài nêu một điều: Ngay việc thị hiện thành Phật đều không có chướng ngại, hà huống việc khác! Những việc khác tất cả đều bao gồm trong đó, giống như trong kinh Pháp Hoa – Phẩm Phổ Môn, nói 32 ứng thân vậy. Đây là đem các loại thị hiện quy nạp về 32 loại, bất cứ một loại nào đều có thể thị hiện, được đại tự tại.
Chúng ta ngày nay, trình độ tu học chưa đạt đến địa vị này, nhưng có đẳng lưu tương tự, có loại thị hiện đồng đẳng. Tương đồng như vậy, chỉ cần có một nguyện vọng như vậy, không cần lợi ích bản thân, đây là điều kiện thành thánh, thành hiền, thành Phật, thành Tổ, tiên quyết số một. Trong kinh giáo Đại thừa, nói với chúng ta chân tướng sự thật, toàn thể vũ trụ và bản thân mình là một Thể. Quan niệm này, cổ nhân cũng có.
Trong Đạo Đức Kinh của Lão Tử từng nói đến: “Thiên địa dữ ngã đồng căn. Vạn vật dữ ngã nhất thể”. Quý vị xem không phải nói giống như trong kinh Hoa Nghiêm sao? Chỉ là chúng ta đọc những thứ cổ nhân nói không có thấu triệt, không nói rõ ràng. Chúng ta chỉ cho rằng đó là một loại lý tưởng, là một loại lý tưởng vô cùng cao thượng. Đọc đến kinh Phật mới hiểu được nó không phải là lý tưởng, nó là sự thật. Biết được chân tướng sự thật này rồi, rõ ràng về đạo lý này rồi, chúng ta tự nhiên liền buông bỏ tự tư, tự lợi. Khởi tâm động niệm đều là vì tất cả chúng sinh khổ nạn. Vậy quý vị nghĩ xem tương lai sẽ đi về đâu? Đây là ý niệm gì? Đây là nguyện dục của Phật, Bồ tát. Quý vị và Phật, Bồ tát đồng tâm, đồng đức, đồng nguyện, đồng hạnh, quý vị tương lai đi về đâu? Vật họp theo loài, tự nhiên sẽ đến đó thôi.
Vì thế, đây là nguyện tự tại, không thể nghĩ tham, sân, si. Người hiện tại đều nghĩ đến điều này. Nếu như quý vị ngày ngày nghĩ đến là tham, không quản đối tượng, tham tài cũng vậy, tham sắc cũng vậy, tham danh cũng vậy. Những đối tượng này đều không nói đến, chỉ là tâm tham này, tâm tham tương ưng với nơi nào? Tương ưng với đường ngạ quỷ. Quý vị đi là đi đường nào? Ngạ quỷ. Tâm sân hận là đường địa ngục. Ngu si, đối với chân tướng sự thật đều không rõ ràng, giống mà không phải, trắng đen điên đảo, tà chánh không rõ, là cõi Súc sanh. Cõi Người là Ngũ giới, người xưa nói là Ngũ thường. Dùng nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, để tồn tâm, xử sự, tiếp người, đãi vật, quý vị sẽ không mất thân người. Thân người này sau khi mất đi, đời sau lại đến nhân gian nữa.
Quý vị có thể chấp trì nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, thì đời sau nhất định sẽ tốt hơn cả đời này, phúc báo càng lớn hơn. Thượng phẩm Thập thiện là cõi Trời. Điều này là Phật nói cho chúng ta biết. Quý vị hướng đến cõi nào, chính là do quý vị tạo nghiệp như đó. Quý vị ngay trong đời này, quý vị một đời hưởng thụ được cũng đều là nghiệp lực của bản thân quý vị xuất hiện thôi, không nên đi oán trời trách người. Số tốt, thì giúp đỡ người khác nhiều hơn. Số không tốt, không oán trời, không buồn người. Có thể thay đổi vận mệnh của bản thân, đoạn ác tu thiện, 3 năm liền có hiệu quả, 10 năm thì có thành tựu rất viên mãn.
Thứ tám là “Thần lực tự tại”. Bồ tát thần thông quảng đại, oai thần khó lường, ở trong thế giới thị hiện biến hóa, vô chướng vô ngại. Thần thông này là định công. Nói cách khác, tâm địa thanh tịnh, bình đẳng. Thực sự tâm địa thanh tịnh, bình đẳng, năng lực này liền được hiện tiền. Đây là năng lực sẵn có của bản thân. Thiên nhãn, người khác nhìn không thấy, quý vị có thể nhìn thấy, cũng chính là nói khôi phục thị lực của chúng ta.
Chúng ta hiện tại nhìn thấy được phạm vi này vô cùng hạn hẹp. Chúng ta nói là sóng quang. Trong độ sóng nhất định này, độ sóng dài hơn một chút so với sóng quang chúng ta có thể nhìn thấy? Sẽ nhìn không thấy. Độ sóng ngắn hơn một chút so với sóng quang, chúng ta có thể nhìn thấy? Cũng nhìn không thấy. Lúc khôi phục thị lực rồi, thì tần số các loại sóng quang khác nhau, quý vị đều nhìn thấy hết. Thế giới này liền thay đổi, đã khác nhau rồi. Điều này, trong Phật pháp gọi là Thiên nhãn. Thiên đó là gì? Không phải là thiên thượng, là thứ thiên nhiên, tức là thứ tự nhiên, thứ bản thân sẵn có, vốn là như vậy. Chúng ta ở nơi này có thể nhìn thấy thế giới Cực Lạc không? Có thể! Vì sao hiện tại không thể? Vì có chướng ngại. Chướng ngại gì? Trước đây, đã nói với quý vị rồi, vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Vô Minh phiền não, Trần Sa phiền não, Kiến Tư phiền não, những thứ này, làm chướng ngại. Những thứ này chúng ta có thể buông bỏ được một phần, thì năng lực chúng ta có thể khôi phục được một phần; buông bỏ hai phần, thì khôi phục được hai phần. Phải buông bỏ! Buông bỏ liền có thể khôi phục. Vì thế, công năng khác thường này không có gì li kỳ, người người đều có, có gì là khác thường chứ? Ai ai cũng có.
Công năng khác thường, ngày xưa tôi ở Mỹ gặp được 3 vị từ Trung Quốc Đại Lục đến Mỹ để phỏng vấn. Hình như lúc đó, Trung Quốc phái mười mấy người đến Mỹ để phỏng vấn. Tôi ở Los Angeles gặp được 3 vị, còn rất trẻ. Tôi liền hỏi họ, năng lực của quý vị từ đâu mà có? Sinh ra đã có rồi. Tôi hỏi anh ta, có thể bị mất đi không? Có. Làm sao mà bị mất đi? Tuổi tác dần dần lớn lên nó liền thoái hóa. Vì sao lại thoái hóa? Vọng niệm nhiều rồi. Điều này, nói rất có lý, giống như kinh Phật nói vậy. Vọng niệm ít, tâm địa thanh tịnh, năng lực liền khôi phục. Vọng niệm của chúng ta quá nhiều, năng lực liền không còn nữa, chính là đạo lý này vậy.
Do đó, thiền định có thể phát thần thông. Phát ở đâu? Phát tại 6 căn. Thiên nhãn, Thiên nhĩ, Tha tâm, Túc mạng. Túc mạng thông là biết đời quá khứ của mình, giống như A La Hán vậy. Đức Phật nêu ra một ví dụ: A La Hán có thể biết được quá khứ 500 đời. Quá 500 đời, họ không biết nữa. Họ có năng lực như vậy. Thế thì chúng ta biết được, giống như Sơ Quả còn chưa phát hiện, Nhị Quả đã có rồi. Nhị Quả là có Túc mạng thông, có thể biết được quá khứ. Chúng ta nghĩ họ không thể có năng lực như A La Hán biết 500 đời, có lẽ chỉ 30 đời, 50 đời thì không thành vấn đề, họ rất rõ ràng. Biết được người khác, người khác khởi tâm động niệm, họ biết được, đó gọi là Tha tâm thông.
Dân Quốc năm đầu, thời kỳ kháng chiến, Trung Quốc Đại Lục, pháp sư Diệu Thiện ở chùa Kim Sơn - Nam Kinh, Ngài biểu diễn cho chúng tôi xem Tha tâm thông. Trong tâm quý vị nghĩ sự việc gì, Ngài đều biết. Có lúc Ngài nói với quý vị, thật có năng lực như vậy. Pháp sư Diệu Thiện sống vào thời kỳ kháng chiến. Hình như bắt đầu kháng chiến chưa bao lâu, Ngài đã qua đời. Ngài thọ được 84 tuổi, tại Miến Điện Yangon. Người này cũng là kỳ nhân, rất nhiều kỳ tích không thể nghĩ bàn như vậy, rất giống Tế Công trong TruyệnTếCôngviết, rất giống.
Vì thế, có năng lực này, chúng ta biết trong kinh Phật nói với chúng ta đó đều là năng lực sẵn có của chúng ta. Thần lực tự tại, thị hiện biến hóa. Đặc biệt là Thần túc thông ở trong thần thông. Ở đây nói thị hiện biến hóa, có lẽ là Thần túc thông. Thần túc thông là A Na Hàm. Tam Quả A Na Hàm liền đạt được. Họ liền có được năng lực này, cho nên giống với những đại tự tại này, toàn bộ đều là năng lực sẵn có của chính chúng ta. Chúng ta nên tin tưởng, Phật không lừa dối chúng ta. Chúng ta phải nên khôi phục. Đây mới gọi là hán tử, hảo hán. Bản thân có, hiện tại bị tập khí phiền não làm chướng ngại, không khởi tác dụng nữa. Phải có tâm hổ thẹn, hi vọng chúng ta cũng có thể khôi phục nhanh chóng.![]()


























































































































































Bình luận bài viết