TỊNH ĐỘ ĐẠI KINH GIẢI DIỄN NGHĨA - TẬP 153

Chủ giảng: LÃO PHÁP SƯ TỊNH KHÔNG
*****
Trưởng ban biên dịch:
TK. Thích Đồng Bổn
QUYỂN 16
(Tập 151 – 160)
TẬP 153
Địa điểm: Phật Đà Giáo Dục Hiệp Hội – HongKong
Thời gian: 30.9.2010
Chuyển ngữ: Liên Hải
Biên tập: Minh Tâm
Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, mời quý vị xem tiếp Đại Thừa Vô Lượng Thọ Kinh Giải, trang 175, hàng thứ 3, từ dưới đếm lên. Bắt đầu xem từ câu cuối cùng.
Thứ chín là “Pháp tự tại”. Bồ tát đắc đại biện tài, ở trong chư pháp diễn thuyết rộng rãi pháp môn vô biên, vô chướng vô ngại. Đây là tự tại đối với pháp. Bồ tát thuyết pháp không có chướng ngại. Nguyên nhân là gì? Bồ tát kiến tính rồi, trí tuệ, đức năng trong tự tính đều hiện tiền. Trong kinh đã nói, “Sự Sự vô ngại. Lý Sự vô ngại”, cho nên đối với chư pháp, bất luận là pháp thế gian, ý nghĩa của chư pháp rất rộng, bao gồm cả Phật pháp và pháp thế gian. Cũng chính là nói, tất cả pháp thế gian và xuất thế gian, không có thứ gì là không thông, không có thứ gì không biết. Vì sao vậy? Tất cả pháp không lìa tự tính. Tất cả pháp đều là từ trong tự tính lưu xuất ra. Tự tính năng sinh, năng hiện. Thức năng biến. Bất luận nó biến hóa như thế nào, người kiến tính đều hiểu rõ được, đều thông đạt, đều không có chướng ngại.
Vì thế, học Phật, mục tiêu chung cuộc chính là phải minh tâm kiến tính. Đây là mục đích của việc học Phật chân chính. Kiến tính, tức là thành Phật. Phật là người giác ngộ, người hiểu rõ. Đối với tất cả pháp thế gian và xuất thế gian đều rõ ràng, đều giác ngộ rồi. Người này, được xưng là Phật. Đây là mục tiêu cuối cùng của việc tu học Phật pháp.
Phần trước, chúng ta học đến “Nghiệp tự tại”. Ở chỗ này, chúng ta bổ sung thêm vài câu. Người thế gian, bất luận là người trong nước hay là người nước ngoài, đều hi vọng biết quá khứ, vị lai của bản thân. Phương pháp này rất nhiều. Phổ biến nhất không gì bằng xem tướng, đoán số mạng. Người học Phật đích thực rất nhiều, cũng không tách rời những phương pháp này. Xem tướng, đoán số có linh hay không? Trong LiễuPhàm Tứ Huấn, nói với chúng ta: Linh, linh thật. Vì sao vậy? Con người chỉ cần có ý niệm, họ liền có số. Người tinh về lý số, liền có thể dựa vào “bát tự” của họ mà tính. “Bát tự” đó phải chính xác. Không thể có một chút gì sai lệch. Có một chút sai lệch, thì không chuẩn nữa. Đại bộ phận sai lệch đều sai lệch về giờ, năm, tháng, ngày thông thường sẽ không có sai lệch, sinh vào giờ nào. Trung Quốc tính 1 canh giờ là 2 tiếng đồng hồ. Ví dụ, giờ Tý, thì trước giờ Tý sau giờ Tý, sự sai biệt đó sẽ khác nhau. Sự sai biệt nhỏ như vậy, không dễ dàng nhớ cho rõ ràng, cho nên có người tính rất chuẩn, có người tính không chuẩn lắm. Tính chuẩn là thời khắc chuẩn xác.
Người học Phật có cần đoán mệnh hay không? Trong kinh Phật, nói cho chúng ta rất nhiều đạo lý: Tướng do tâm sanh. Cảnh tùy tâm chuyển. Tất cả pháp từ tâm tưởng sinh. Đây đều là những điều trong kinh thường nói. Chúng ta nghe đến nỗi quen tai. Nếu như thực sự hiểu rõ đạo lý này, chúng ta còn cần đoán mệnh hay không? Không cần nữa. Phật, Bồ tát hướng dẫn chúng ta, đây là trong kinh Tiểu thừa thường nói. Trong A Nan Vấn Sự Phật Cát Hung Kinh, đã nói điều này rất rõ ràng. Chúng ta dựa vào điều gì để hiểu rõ cát, hung, họa, phúc? Dựa vào điều gì có thể tránh hung rước cát? Đây là thường tình của nhân sinh.
Điều này, Phật không phản đối. Phật nói với chúng ta, chỉ cần tâm thái của của quý vị tốt là mọi sự đều tốt. Vì sao vậy? Nó tùy tâm chuyển. Thân tùy tâm chuyển, quý vị xem cảnh cũng tùy tâm chuyển, vậy chỉ cần tâm tốt, không có thứ gì không tốt. Thứ không tốt cũng có thể chuyển biến thành tốt, hóa hung thành kiết. Hóa tai nạn thành kiết tường. Khả năng này, mỗi người đều có, không phân biệt nam nữ già trẻ, tất cả đều có. Chúng ta do đã mê rồi, không biết dùng như thế nào, Phật dạy cho chúng ta, cổ đức thường nói: Sửa tâm. Sửa là sửa ý niệm. Hiện tại, người ta nói là tâm thái. Cổ nhân chỉ dùng một chữ tâm để nói, phải sửa tâm. Đem tâm bất thiện sửa thành tâm chân chính. Hiện tại, chúng ta nói chỉ cần quý vị khởi tâm động niệm đều là thiện niệm, khởi tâm động niệm nói năng hành động, nhất định không có tự tư, tự lợi, tai nạn của quý vị liền không còn nữa, họa hoạn liền xa lìa quý vị. Niệm niệm không có bản thân. Niệm niệm cuộc đời chúng ta trên thế gian này, mục đích ở đâu, đến đây lần này là vì điều gì?
Ở trong kinh Phật dạy chúng ta: Nghiệp lực chủ tể, quý vị không thể không đến. Trong đời quá khứ tạo ra có nghiệp, gọi là “Nhân sinh trả nghiệp”. Điều này, trong kinh Phật nói như vậy, không sai chút nào. Đã đến nhân gian rồi, chúng ta nên làm những việc gì? Chúng ta nên sửa đổi nghiệp lực của chúng ta. Chúng ta viễn ly những nghiệp bất thiện, chuyên tu thiện nghiệp. Không những tu thiện nghiệp, mà còn tu tịnh nghiệp. Tu thiện nghiệp phúc báo nhân thiên. Chúng ta hiện nay đã hiểu được, phúc báo nhân thiên không ra khỏi lục đạo luân hồi, không thể vượt qua lục đạo luân hồi, sau này sự việc phiền phức vẫn rất nhiều. Không nên làm những sự việc này nữa. Sự việc này không được làm, cho nên phải tu tịnh nghiệp.
Tịnh nghiệp là gì? Đoạn ác tu thiện, trong đó không có tự tư, tự lợi, không có danh văn, lợi dưỡng, không có ngũ dục, lục trần, không có tham, sân, si, mạn. Thiện nghiệp này, chính là tịnh nghiệp. Tịnh nghiệp có thể giúp đỡ chúng ta, siêu việt tam giới, siêu việt lục đạo. Người tu tịnh nghiệp niệm Phật, nhất định được sinh Tịnh độ, đây là điều chúng ta nên nắm vững, đặc biệt là tuổi trung niên trở lên. Đời người đã qua một nửa rồi, có lẽ phải giác ngộ, nhất định không làm những việc ngốc nghếch nữa. Kinh KimCươngdạy chúng ta học tập: Vôngãtướng,vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Chúng ta phải có thể làm được, cũng chính là nói, không nên để những sự việc này trong lòng nữa. Trước đây, luôn luôn quan tâm đến bản thân, bây giờ học cách quan tâm đến người khác, không nghĩ đến bản thân. Vì sao vậy? Người khác là bản thân mình, mình và người không hai. Phân biệt mình và người, đây là lục đạo phàm phu. Tự tha không hai, đó chính là siêu việt lục đạo rồi.
Quý vị nghĩ thử xem, lợi người thực sự là lợi ích bản thân, chỉ quan tâm bản thân thực sự là hại bản thân. Vì sao vậy? Vì tăng trưởng ngã chấp, mà ngã chấp là giả, không phải là thật. Phật pháp dạy quý vị phá ngã chấp, quý vị ngày ngày đang tăng thêm ngã chấp, tăng trưởng ngã chấp, vậy không nguy hại sao? Làm sai rồi! Vì thế, phải buông ngã chấp xuống, toàn tâm toàn lực vì người khác phục vụ. Ngày nay, chúng ta nói vì chúng sinh khổ nạn mà phục vụ, vì chính pháp cửu trú để học tập. Chăm chỉ, nỗ lực học tập để chính pháp được cửu trú, tất cả công đức hồi hướng cho chúng sinh, toàn tâm toàn lực giúp đỡ chúng sinh, vậy là đúng rồi. Ngã chấp như vậy là không cần phá, mà tự nhiên nó bị nhạt dần. Nhạt dần lâu ngày, bất giác liền không còn nữa.
Trong Phật pháp dạy chúng ta tri mệnh. Mệnh là gì? Mệnh chính là nghiệp, chính là tạo tác. Quý vị xem xem, chúng ta mỗi ngày nghĩ những gì? Nói những điều gì, làm những việc gì, đây chính là nghiệp, đây chính là tâm thái, hành thái, tâm hành. Nếu như tâm hành tương ưng với Thập Thiện Nghiệp Đạo, tương ưng với 4 đức trong Hoàn Nguyên Quán nói, là tốt lắm! Tai nạn gì cũng không còn nữa, không cần đến việc đi xem bói, không cần đến việc đi xem tướng. Tiền đồ của bản thân hoàn toàn xán lạn. Đích thực tâm hành như vậy, tất nhiên là gặp hung hóa cát, gặp nạn thành kiết tường. Đây mới gọi là thực sự hiểu được vận mệnh, cải tạo vận mệnh. Đây là bổ sung đoạn trước một chút. Mọi người đều rất quan tâm.
Cuối cùng chúng ta xem “Thứ mười là trí tự tại. Bồ tát trí tuệ đầy đủ, trong nhất niệm năng hiện Như Lai mười lực vô úy thành Đẳng Chính Giác, vô chướng vô ngại”. Đây là nói về trí tuệ. Trí tuệ của Bồ tát từ đâu mà mà có? Từ tu Giới, Định mà có, cho nên học Phật không thể không trì giới. Trì giới phải biết bắt đầu từ đâu, dần dần nuôi dưỡng nó thành thói quen, trì giới liền có niềm vui, sẽ không cảm thấy khó khăn. Nhất định phải bắt tay từ Đệ Tử Quy, chúng ta thường nói 3 cái rễ Nho, Thích, Đạo, nếu như không dùng Nho và Đạo, vậy thì quý vị phải dùng kinh Tiểu thừa. Kinh Tiểu thừa rất nhiều, rất phiền, không như Nho và Đạo đơn giản như vậy. Quý vị xem Đệ Tử Quy của nhà Nho, tổng cộng chỉ có 1.080 từ, Đạo gia nói CảmỨngThiên, tổng cộng nói về 195 sự việc. Không nhiều, dùng điều này làm cơ sở tu Thập Thiện Nghiệp Đạo, thì không khó nữa. Vậy Nho, Thích, Đạo, 3 cái rễ chúng ta đều có rồi, sau đó vào cửa Phật, thọ trì Tam quy, Ngũ giới, Sa Di Luật Nghi, vô cùng dễ dàng, không khó khăn chút nào. Hiện tại, chúng ta tu Tam quy, Ngũ giới, vì sao lại khó khăn như vậy? Phía trước nó có cơ sở, quý vị chưa chăm chỉ học tập.
Thế Tôn trong Phật Tạng Kinh, có câu khai thị rất quan trọng, nói: Phật tử, không học Tiểu thừa trước, sau đó học Đại thừa, thì không phải là Phật tử. Đây là điều Phật Thích Ca Mâu Ni nói. Chúng ta không phải là hàng thượng thượng căn. Không phải là hàng thượng thượng căn, thì phải giữ quy củ. Học tập từ cạn đến sâu, từ dễ đến khó, tuần tự tiệm tiến. Đây là lời Phật khuyên nhủ chúng ta, cho nên phải bắt đầu học từ Tiểu thừa trước.
Tiểu thừa của Trung Quốc rất hoàn chỉnh, so sánh với Đại Tạng Kinh của văn Pali Nam truyền, gần như tiếp cận viên mãn. Kinh Tiểu thừa cũng có gần 3.000 bộ. Điển tịch tiếng Pali cũng nhiều hơn khoảng 50 bộ như vậy. Vậy là 3.000 bộ, họ chỉ hơn chúng ta có 50 bộ. Quý vị xem xem, Trung Quốc phiên dịch rất hoàn chỉnh. Phật giáo truyền đến Trung Quốc, ngày xưa đều học tập Tiểu thừa. Từ Tiểu thừa mà học Đại thừa, đều là cách học như vậy. Vì thế, Tiểu thừa vào thời đại Tùy, Đường có 2 tông phái: Thành Thật tông và Câu Xá tông, là y theo 2 bộ luận mà đặt tên là Thành Thật Luận và CâuXáLuận, từ 2 bộ luận này mà đặt tên. 2 tông phái này, cuối đời nhà Đường đã bị suy, đến đời nhà Tống thì không còn nữa. Vì thế, hiện tại rất nhiều người không biết có 2 tông phái này. Vì sao lại bị suy? Ngày xưa, chư vị tổ sư của chúng ta không học nữa, thay đổi rồi, dùng Nho và Đạo để thay thế. Có được hay không? Có thành tích biểu hiện.
Quý vị xem, 1.700 năm nay dùng Nho và Đạo để thay thế. Trong thời gian dài như vậy, thành tựu biết bao thánh hiền tu hành chứng quả, chứng tỏ chính xác. Do vậy, chúng ta nếu như không dùng Nho, Đạo, thì phải học Tiểu thừa. Nếu như chê Tiểu thừa phiền phức quá, vậy thì quý vị nhất định phải dùng Nho, Đạo. Đó là bắt buộc phải bắt tay từ Đệ TửQuy.ĐệTửQuylà giáo dục luân lý, đạo đức, căn bản của căn bản. CảmỨngThiênlà giáo dục nhân quả, vô cùng quan trọng.
Ấn Quang Đại sư một đời toàn tâm toàn lực đề xướng, khuyên chúng ta phải chăm chỉ học tập. Có được cơ sở này để vào cửa Phật, thì dễ dàng rồi. Không có được cơ sở này, thì tu Thập Thiện Nghiệp Đạo rất khó, ngày ngày học cũng vô dụng. Phải thực sự y theo giáo huấn của kinh điển làm cho tâm thái chúng ta sửa đổi trở lại, vậy mới hữu hiệu. Vì thế, trí tuệ của Bồ tát là từ Giới, Định, Tuệ mà có. Tuệ này là từ định mà có, chính là trí tuệ trong tự tính sẵn có, không phải là từ bên ngoài vào.
Từ bên ngoài mà học được là tri thức không phải là trí tuệ. Quảng học đa văn là tri thức. Từ trong Giới, Định, tu được là trí tuệ, không giống nhau. Trí tuệ là thứ trong tự tính vốn có, không phải từ bên ngoài vào. Do đó, được trí tuệ, họ mới có thể trong một niệm. Một niệm này là Bồ tát Di Lặc nói một khảy móng tay 32 ức trăm ngàn niệm. Một niệm ở trong đó có thể hiện Thập lực vô úy của Như Lai. Thập lực vô úy là đức. Thành Đẳng Chính Giác là tướng. Đức, tướng đầy đủ. Chúng sinh trong khu vực này duyên thành thục rồi, cần dùng thân Phật để độ, Bồ tát liền hiện Phật thân, 32 tướng, 80 vẻ đẹp để giáo hóa, không có chướng ngại.
Thập lực vô úy sau này sẽ giảng đến. Hôm nay, chúng ta giảng phẩm này viên mãn rồi. Ngày mai là Quốc Khánh, hi vọng chúng ta có thể giảng đoạn mở đầu phần Chính tông, cho nên Thập lực vô úy, thì chúng ta không giải thích nữa. Những đồng học cũ nhắc lại có lẽ đều rất quen thuộc, bởi trong kinh Hoa Nghiêm thường nói.
Nay, nói “Tối thắng tự tại”, như kinh Pháp Hoa: Ta là pháp vương, tự tại với các pháp, viên mãn rốt ráo. 10 tự tại trong kinh Hoa Nghiêm, nên nói tối thắng. Trong kinh Pháp Hoa, nói đây là lời Phật Thích Ca Mâu Ni: “Ta là pháp vương, tự tại với các pháp”. Tất cả pháp thế gian và xuất thế gian, đều thông đạt rõ ràng. Đây gọi là tự tại. Nếu như có một vấn đề hỏi đến quý vị mà quý vị không biết, vậy là quý vị không tự tại rồi. Quý vị bị người ta hỏi cho bí rồi. Phật Thích Ca Mâu Ni giảng kinh thuyết pháp 49 năm, đích thực không có một lần nào bị người ta hỏi cho bí. Vấn đề hi hữu, cổ quái gì được nêu ra, Ngài đều giải đáp được.
Hơn nữa, giải đáp rất tường tận. Điều này, làm cho người ta không thể không phục Ngài. Đây gọi là gì? Trí tuệ chân thật - Nhất thiết trí. Vì vậy, có thể viên mãn rốt ráo 10 loại tự tại như trong kinh Hoa Nghiêm nói, đó gọi là tối thắng, nên tối thắng tự tại, chỉ có Pháp thân Bồ tát minh tâm kiến tính mới có được. Người chưa kiến tính cũng rất có thể tự tại, nhưng không thể thêm chữ “tối thắng”, đích thực có lẽ có một số vấn đề, họ không thể giải đáp. Người kiến tính, thì vấn đề đều được giải quyết hết. Những lời này, chúng ta nhất định phải biết. Sau khi học rồi, phải nên quay về tự tính. Chúng sinh và Phật không hai. Chúng sinh và Phật là nhất Thể. Phật có, chúng ta đều có, không ngoại lệ. Ngày nay, chúng ta mê thất rồi, làm thế nào để khôi phục? Đó chính là phải học tập theo Phật. Ngài là người đã trải qua, trước đây Ngài cũng như chúng ta, cũng là mê hoặc điên đảo. Ngài làm sao mà giác ngộ? Trì giới, tu định, khai huệ. Ngài đã đi trên con đường này. Ngày nay, chúng ta nếu muốn thành tựu, vẫn phải đi trên con đường cũ này, không thể làm mới. Quý vị không đi con đường cũ, quý vị muốn đi một con đường mới, có thể càng đi càng xa, quý vị đã lạc đường rồi, phải đi con đường cũ. Chính xác, an toàn, vững vàng, an ổn.
Đoạn cuối cùng này, “Dưới đây Thế Tôn tán thán và ra lệnh cho A Nan lắng nghe, để tâm nghe pháp, giỏi về tư duy nghĩa lý đã nghe được”. Câu cuối cùng “Ta nay vì ông mà giải thích từng điều”. Kinh văn ở sau đó là “A Nan lắng nghe, khéo tư duy về điều đó, ta nay vì ông giải thích từng điều”. Giải thích là ở trong phần Chính tông này. Phẩm thứ tư dưới đây, tiếp sau đây là “Pháp Tạng nhân địa”, Phật giới thiệu cho chúng ta về Phật A Di Đà. “Phẩm Tựa của kinh này đến chỗ này là nói xong”.
Dưới đây, Hoàng Niệm Lão tổng kết ý nghĩa của phần trước, làm cho chúng ta một tổng kết: “Biệt Tự, lại gọi là “Phát Khởi Tự”, bởi vì Phát Khởi chính văn toàn kinh”. Đây chính là nói “Hiện nhân A Nan mở lời hỏi, Thế Tôn chấp thuận nói, diễn bày cứu cánh phương tiện này, là pháp môn Tịnh Độ thù thắng viên đốn tối cực. Nhưng dùng đây để siêu tình ly kiến, pháp khó tin không thể nghĩ bàn. Chúng sinh tình chấp sâu nặng, tin không đến nơi, cho nên phát khởi trong lời Tựa, thâm nhập chứng tín, tổng cộng 5 lần.”
Đại ý đoạn này, chúng ta nói đơn giản một chút: Phật pháp nhân duyên sinh. Ở đây, nói ra tất cả pháp thế gian, xuất thế gian không tách rời nhân duyên. Không có nhân duyên vô duyên vô cớ mà sinh khởi. Điều này, giảng không thông, không có sự việc này. Phật pháp cũng là nhân duyên. Nhân này do A Nan thỉnh vấn. Trước đây, chúng ta đã đọc qua rồi, Thế Tôn chấp thuận vì mọi người mà nói rõ. Diễn xuất phương tiện rốt ráo, pháp môn Tịnh Độ tối thắng viên đốn nhất. Câu nói này thật không thể nghĩ bàn. Trong giáo lý Đại thừa, đây là pháp môn số một.
Trong pháp môn này nói, “là pháp siêu tình ly kiến, không thể nghĩ bàn và khó tin”. Phàm phu nhất phẩm phiền não cũng chưa đoạn được, lúc lâm chung 10 niệm cũng có thể vãng sinh, sinh đến thế giới Cực Lạc liền làm A Duy Việt Trí Bồ tát. Ai tin được? Là pháp khó tin! Tuyệt đối không phải tình kiến của lục đạo phàm phu có thể lý giải được, nên gọi là siêu tình ly kiến. Đây chính là nói tuyệt đối không phải lục đạo phàm phu có thể lý giải được, cho nên liền trở thành pháp khó tin. Đặc biệt, hiện tại chúng sinh tình chấp sâu nặng, tin tưởng hay không? Thực sự không tin tưởng. Quý vị chớ thấy người tu Tịnh Độ nhiều, gần như ngày ngày đang niệm Phật A Di Đà, có hiệu quả hay không? Không hiệu quả. Vì sao không hiệu quả? Vì họ không tin. Họ còn tin tưởng ngũ dục, lục trần của thế gian này. Năm xưa ở Đài Trung, thầy Lý giảng kinh, nêu ra một ví dụ, thầy giáo đang giảng kinh, chúng tôi thông thường đều đang nghe kinh, có một người đến báo tin “trong nhà ông xảy ra hỏa hoạn”, quý vị phải chăng nhanh chóng chạy về nhà? Vậy là không tin rồi. Nghe tin nhà có hỏa hoạn rồi, vẫn như như bất động, tôi nghe kinh quan trọng hơn, vậy là thật tin. Nhưng đạt được thật tin rất khó! Vừa kiểm tra, thì kiểm tra ra được.
Ngày nay, ở nơi này, pháp sư ở đó giảng kinh, đêm nay quý vị có một cuộc làm ăn có thể kiếm được một triệu, quý vị vẫn đến nghe kinh, buông bỏ một triệu đó, hay là đi kiếm một triệu đó? Hôm nay, vắng mặt nghe kinh một bữa cũng không sao, chắc chắn là đi kiếm một triệu. Họ liền không đến nữa. Đây không phải đều là giả sao? Đây gọi là pháp khó tin. Có được mấy người thực sự nghiêm túc coi lời Phật nói là thật. Đức Phật nói bố thí đại thiên thế giới 7 báu lớn không bằng công đức 4 câu kệ trong kinh nói, ai tin được? Đừng nói là một triệu, e rằng kiếm 100.000 đồng, họ đã không nghe nữa bỏ đi rồi, bởi 100.000 đồng quan trọng với không ít người. Đây là những điều mà chúng ta từ đây tỉ mỉ quan sát, người thực sự tin tưởng không nhiều.
Người không tin tưởng, họ cũng thường đến nơi đây nghe kinh. Đó là vì điều gì? Thầy Lý nói một câu rất có ý vị. Thầy nói là gì? Đến tiêu khiển, tiêu khiển vậy. Hóa ra những người này đến Phật đường học Phật là để tiêu khiển. Họ không có việc gì làm, đến nơi này để chơi thôi, là tâm thái như vậy đó. Ngồi ở nhà cảm thấy buồn tẻ, đến Phật đường dạo dạo xem náo nhiệt, không phải là thật học. Thật học, thì còn được. Thật học, không phải người người đều thành Phật rồi sao? Nghe lời thầy nói năm xưa, chúng tôi nhiều năm tỉ mỉ quan sát, không sai chút nào. Vì thế, chúng ta thấy lạ mà không lạ. Biết được pháp môn này không dễ dàng, cho nên trong phát khởi tự, thâm nhập chứng tín tổng cộng có 5 lần. Điều này, đoạn trước chúng ta đã đọc qua. Ở đây chỉ làm một tổng kết.
“Thứ nhất, Thế Tôn phóng quang hiện điềm chứng tín”. Lần này là Thế Tôn toàn thân phóng quang, vô cùng hi hữu, hơn nữa trong quang còn hiện ra chư Phật quốc độ.
“Thứ hai, A Nan hoan hỉ thỉnh vấn”. A Nan thấy hào quang này vô cùng hoan hỷ, liền đề xuất nghi vấn của Ngài. Câu hỏi của A Nan có 2 ý nghĩa: “Một là thấy Phật phóng quang hi hữu, ắt là có pháp kỳ diệu trụ ở trong đó, hạnh của đạo sư, đạo của tối thắng. Nhưng pháp này, hạnh này, đạo này, ắt là Phật Phật tương niệm, mà không phải ai khác”. Công đức Phật chứng đắc là viên mãn, vậy còn có gì là hiếm có? Hiếm có nhất định là niệm Phật. Niệm Phật được Phật gia trì. Niệm mười phương Phật, mười phương Phật đều đến gia trì Phật Thích Ca Mâu Ni. Đây là thù thắng không gì sánh bằng. A Nan nghĩ đến điểm này, cho nên Ngài liền hỏi.
“Hai là, A Nan vì sao có thể hỏi được diệu nghĩa này”. A Nan làm sao mà hỏi ra được câu hỏi đó? Chính là biểu thị A Nan vốn là Đức Tôn Phổ Hiền, là đại Bồ tát từ quả hướng nhân. A Nan là người gì? Đức Tôn Phổ Hiền. Ngài thành Phật rồi, quả là thành Phật. A Nan từ lâu đã thành Phật rồi, hiện tại Phật Thích Ca Mâu Ni đến nơi này thị hiện hoằng pháp lợi sanh, Ngài đến giúp đỡ Phật Thích Ca Mâu Ni vậy, nên nói “Nhất Phật xuất thế, thiên Phật ủng hộ”. Chữ “thiên” này cũng không phải chỉ cho một ngàn, ý nói rất nhiều. Vô lượng vô biên chư Phật Như Lai có duyên với chúng sinh trên thế gian này đều đến. Phật Thích Ca Mâu Ni đóng vai chính, họ đóng vai phụ, đến biến hóa làm đệ tử Phật, làm học trò tại gia của Phật, làm hộ pháp của Phật, thì vở kịch này mới diễn được viên mãn, mới có thể khiến những khán giả kia giác ngộ hiểu rõ được. Vì thế, A Nan là thị hiện từ quả hướng đến nhân.
“Trong hội thuần nhất vô tạp, diễn thuyết viên âm, nay chính đúng thời, hội chúng thù thắng, chính là diệu pháp hi hữu”. Trong hội này, chúng xuất gia 1.255 vị, đều là những vị giống như A Nan vậy, đều là đại Bồ tát từ quả hướng đến nhân, thị hiện thân phận tỳ kheo. Bồ tát chúng, thì không cần nói rồi, còn có chúng cư sĩ? Trong cư sĩ có cư sĩ nam và cư sĩ nữ, cũng đều là Bồ tát hóa thân đến. Đại hội này thù thắng biết bao. Niệm Lão nói câu này rất hay: Thuần nhất vô tạp, hội này thù thắng biết bao! Các Ngài đều ở nơi đó biểu diễn cùng nhau, diễn thuyết viên âm, pháp môn viên mãn. Hiện tại, chính là lúc duyên chúng sinh thành thục rồi. Sau khi nhìn thấy, sau khi nghe thấy, có thể sinh tâm hoan hỉ, có thể tin, có thể hiểu, có thể hành, có thể chứng. Niệm Phật vãng sinh chính là chứng quả, cho nên biểu diễn pháp hi hữu. Đây là nói A Nan hoan hỉ, nêu ra vấn đề này.
“Lần thứ ba, trùng chứng tín”. “Trùng” là lặp lại rồi chứng tín, tức là “Thế Tôn tán thán, công đức của việc hỏi này khó nghĩ bàn”. Đây là trùng lặp, là lần thứ ba chứng tín trùng lặp. Phật nói đương lai tất cả hàm linh đều nhờ câu hỏi này mà được độ thoát. Đây là công đức không thể nghĩ bàn. A Nan nếu như không hỏi, Phật sẽ không nói. Trên thực tế, không có ai hỏi Phật cũng nói, thí dụ như kinh A Di Đà là không có ai hỏi, không hỏi mà tự nói. Kinh A Di Đà từ đầu đến cuối đều là bản thân Phật tự nói, không có ai hỏi. Kinh Vô Lượng Thọ có thể làm như vậy không? Đương nhiên có thể. Vì sao phải bảo A Nan đến hỏi? Trong đây hàm nghĩa rất sâu, rất sâu. Sự thị hiện này của A Nan, nói với chúng ta công đức thỉnh pháp không thể nghĩ bàn. Làm cho người thấy được rồi biết được cách hỏi pháp, lễ thỉnh pháp sư, đại đức vì chúng ta giảng kinh thuyết pháp. Thông thường, người ta không biết thỉnh. Người thỉnh phải là người thông thạo, họ không hiểu làm sao mà họ thỉnh pháp? Họ là người thông thạo, họ hiểu được, người thường không hiểu. Ngài đến dạy chúng ta phương thức này. Quý vị thấy công đức thỉnh pháp này, Phật tán thán: Tương lai, tất cả hàm linh đều nhờ câu hỏi này mà được độ thoát. Câu nói này rất hi hữu. Nếu như nói, tương lai tất cả hàm linh đều nhờ câu hỏi này mà được khai ngộ, vậy thì khác xa nhau rồi. Khai ngộ là quý vị hiểu rõ, quý vị vẫn phải tu, vẫn phải chứng, độ thoát. Độ thoát chính là chứng quả. Vấn đề từ trên căn bản mà giải quyết, vậy không tốt quá sao! Vì thế, ý nghĩa này rất sâu xa, khuyến khích mọi người thỉnh chuyển pháp luân, thỉnh Phật trú thế, hàm chứa thâm nghĩa này ở trong đó.
Chúng ta xem tiếp đoạn dưới: “Một lời nói rõ, nguyên nhân thực sự để pháp môn Tịnh Độ hưng khởi, nên phẩm này gọi là Đại Giáo Duyên Khởi”. Tên phẩm của phẩm này gọi là Đại Giáo Duyên Khởi. Một lời nói rõ này, sự hưng khởi của pháp môn Tịnh Độ nguyên nhân do đâu mà A Nan hỏi câu hỏi này. Vì pháp môn Tịnh Độ là bắt đầu từ kinh VôLượngThọ. Phật Thích Ca Mâu Ni giảng kinh VôLượngThọtrước, kinh A Di Đà giảng sau. Sau kinh này, thì không ai hỏi mà tự nói.
“Lần thứ tư, Phật bảo A Nan sở dĩ Như Lai xuất hiện nơi thế giới này, chỉ vì muốn cứu giúp quần sinh, đem đến lợi ích chân thật”. Đây là lần thứ tư thâm nhập chứng tín, nói ra Phật vì sao phải xuất hiện tại thế gian. Ngài đến để làm gì. Trong giáo lý Đại thừa, chúng ta học qua đã hiểu được. Phật đích thực là cảm ứng theo chúng sinh. Chúng sinh có cảm, Phật liền có ứng. Cảm ứng đạo giao không thể nghĩ bàn. Cảm của chúng sinh rất phức tạp, có hiển cảm, có minh cảm, mà ứng của Như Lai, Pháp thân Bồ tát vô cùng đơn thuần. Chính đoạn này đã nói, đó là gì? Giúp đỡ tất cả chúng sinh lìa khổ được vui. Lìa khổ được vui đạt đến trình độ nào? Nhất định phải giúp đỡ chúng sinh thành Phật. Họ triệt để lìa khổ rồi, giúp đỡ họ thành Bồ tát còn chưa đủ, nhất định dạy họ viên mãn thành Phật, chứng đắc quả vị Diệu Giác. Đây mới gọi là từ bi viên mãn, thực sự độ thoát.
Ngày nay, chúng ta học Phật, tâm chúng ta phải tương đồng như tâm Phật, nguyện phải đồng với nguyện của Phật, giải hạnh cũng như vậy. Chúng ta không thể quên TứHoằng Thệ Nguyện. Tứ Hoằng Thệ Nguyện, điều thứ nhất là đại nguyện: “Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ”. Chính là đoạn này nói muốn cứu giúp quần sinh, khiến họ được lợi ích chân thật. Hiện tại, vấn đề lại xảy ra rồi. Bản thân chúng ta chưa đạt được lợi ích chân thật, làm sao có thể giúp đỡ người khác có được lợi ích chân thật? Vì thế, chúng ta phải thành tựu bản thân trước. Muốn thành tựu bản thân trước, quý vị phải y theo câu hoằng thệ nguyện thứ hai: “Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn”. Phiền não đoạn tận rồi, mới “Pháp môn vô lượng thệ nguyện học”. Phiền não chưa đoạn tận, tất cả những phương pháp tu học đều là để đoạn phiền não. Điều này, nhất định phải biết.
Chúng ta trong một giai đoạn tu học nào đó, có một mục tiêu nào đó, rất rõ ràng quý vị mới có thể đạt được, không thể lẫn lộn với nhau. Lẫn lộn với nhau, phiền não chưa đoạn được, pháp môn cũng chưa học được, quý vị sai rồi. Phật, Bồ tát hướng dẫn chúng ta, cổ thánh tiên hiền hướng dẫn chúng ta, “nhất môn thâm nhập, trường thời huân tu” là vì điều gì? Vì đoạn phiền não, bởi vì quý vị nhất môn là tâm quý vị định rồi. Quý vị học nhiều quá, tâm quý vị liền loạn. Quý vị nên hiểu đạo lý này! Một môn mới có thể đoạn phiền não. Nhiều pháp môn, thì phiền não không đoạn được. Vậy nên chúng ta biết nhất môn là Giới, Định, Tuệ; đa môn là Giới, Định, Tuệ không còn nữa. Không còn nữa, thì trở thành tri thức thế gian, học rộng nghe nhiều. Người nào đó đọc sách nhiều, tri thức phong phú, là người thông thạo, mọi thứ đều thông, người thông suốt. Đây là khen ngợi người khác. Họ phải chăng là thực sự thông rồi? Những thứ họ chưa học qua họ đều không biết. Học qua rồi mới hiểu được, chưa học qua họ không biết. Nếu như thực sự thông rồi, giống như Phật mới thực sự thông suốt, điều chưa học cũng biết được, không cần học. Vì sao không cần học? Họ kiến tính rồi, cho nên tất cả pháp không rời tự tính. Chỉ cần kiến tính, không có gì là không biết.
Còn một thứ chưa biết, là quý vị chưa kiến tính. Vì thế, Phật pháp tu học 84.000 pháp môn, bao gồm chúng ta niệm Phật cầu sinh Tịnh độ. Mục tiêu cuối cùng là gì? Minh tâm kiến tính.
Năm xưa, đối với Tịnh Độ vãng sinh thế giới Tây Phương Cực Lạc, tôi cho rằng vậy là được rồi. Tôi chỉ giảng đến chỗ này. Thầy giáo nói với tôi, không được, ông còn nói thiếu một câu. Tôi nói thiếu câu nào? Minh tâm kiến tính. Vậy mới hiểu được đến thế giới Cực Lạc minh tâm kiến tính, như vậy mới viên mãn! Ở đây, chưa kiến tính được, đến thế giới Cực Lạc kiến tính thành Phật, thực sự viên mãn.
Phật Thích Ca Mâu Ni trú thế 80 năm, giảng kinh dạy học 49 năm, lợi chân thật là gì? Lợi chân thật chính là bộ kinh Vô LượngThọ này, cho nên Đại sư Thiện Đạo nói rất hay, Như Lai sở dĩ xuất hiện ở đời chỉ vì nói về biển bản nguyện Di Đà. Chính là vì sự việc này. Duy chỉ vì truyền bá pháp môn này, những việc khác thì sao? Những pháp môn khác đều có những người yêu thích nó, Phật hằng thuận chúng sinh. Quý vị thích điều gì, thì Ngài nói cho quý vị điều đó.
Nhưng thực sự nói với quý vị, quý vị thực sự muốn ngay trong đời này chứng đắc rốt ráo viên mãn, vậy là một môn này vững vàng, đơn giản, dễ dàng, nhanh chóng. Sẽ không tìm ra pháp môn nào thù thắng như vậy bảo đảm cho quý vị thành tựu. Quý vị học pháp môn khác, không thể bảo đảm cho quý vị, chúng ta vãng sinh Tây Phương Cực Lạc, đến thế giới Cực Lạc thành Phật. Nói cách khác, kinh VôLượngThọ là giấy bảo đảm. Phật cho chúng ta giấy bảo đảm. Thật sự muốn y theo những điều nói trong kinh điển, thì không có ai không vãng sinh. Thực sự là vạn người tu, vạn người vãng sinh. Như vậy, không tốt quá rồi sao! Đạo lý này không thể không biết. Không biết là chúng ta cô phụ Phật Thích Ca Mâu Ni, cô phụ Phật A Di Đà. Quý vị chưa tiếp xúc được, đó là chưa có duyên. Tiếp xúc được rồi, quý vị không thể chăm chỉ tu hành, đó là sai trái của bản thân, có lỗi với bản thân. Vô lượng kiếp đến nay chưa từng gặp qua, ngày nay gặp được rồi, ngày nay liền được thành tựu.
Ngày nay, không thể thành tựu, vậy là phải vô lượng kiếp chịu tội, trong lục đạo luân hồi lăn lộn mãi. Chịu tội xong rồi trở lại nhân gian, xem xem có nhân duyên để gặp pháp môn này hay không. Cổ nhân nói “Một lúc lỡ chân, thành thiên cổ hận”. Lời này ý nghĩa rất sâu. Cảnh cáo chúng ta cơ hội phải nắm bắt lấy, một khi mất đi, thực sự là nỗi đau thiên cổ.
Lợi ích chân thật là làm sao có được? Quý vị xem xem, “tức chỉ nhờ Di Đà nguyện hải, lục tự hồng danh”. Quý vị xem chỉ là một câu như vậy “Nam mô A Di Đà Phật”. Đây là chân ngôn, chính là 6 từ này. Quý vị thật niệm, thật sự đặt ở trong tâm, nó liền khởi tác dụng. Niệm chưa để ở trong tâm, thì không khởi tác dụng. Tâm chính là Phật A Di Đà. Một niệm Di Đà, một niệm tâm. Niệm niệm Di Đà, niệm niệm tâm. Vậy là thành công rồi, liền hoàn toàn tương ưng. Trong tâm việc gì cũng không có, thực sự hoàn toàn buông bỏ rồi, trong tâm chỉ là Phật A Di Đà. Phật A Di Đà chính là tâm ta, thuần nhất không tạp, công phu niệm Phật của quý vị đạt được rồi.
Chính vì câu hỏi của A Nan, mà khải thị diệu pháp như vậy, hiếm có khó gặp như hoa ưu đàm. Tương lai tất cả chúng sinh nhờ câu hỏi của A Nan mà được độ thoát. Câu hỏi này của A Nan, Phật vừa nói như vậy, chúng ta mới đạt được. Như vậy, không tuyệt vời sao? Do đó, Phật khen ngợi A Nan để chứng tín, tán thán A Nan, chứng tỏ công đức của câu hỏi này không thể nghĩ bàn.
Chúng ta phải học, lúc chúng sinh gặp thiên tai, thực sự có những người cao siêu này, chúng ta thỉnh giáo với họ, làm thế nào để hóa giải thiên tai. Cũng giống như lão pháp sư Lạc Quán kể về câu chuyện Phật sống ở Kim Sơn. Có một vị lão cư sĩ không biết vận mệnh của bản thân, đi khắp nơi bói toán, đi xem tướng, Phật sống Kim Sơn nhìn thấy dáng vẻ như vậy, không ai hỏi mà Ngài tự nói. Ngài nói họ biết xem tướng, tôi cũng biết xem tướng. Họ có thể đoán số mạng, tôi cũng biết đoán số mạng. Đây là không hỏi mà tự nói, nhưng pháp sư Lạc Quán đứng bên cạnh cũng thêm một câu, Phật sống Ngài thực sự biết xem tướng sao? Ngài thực sự đoán số sao? Tăng thêm lòng tin cho người khác. Phật sống nói thật vậy không giả chút nào. Sau đó, nói với mọi người: Thiên hạ này, người bói số xem tướng số một, là ai quý vị có biết không? Mọi người đều không biết. Là Phật Thích Ca Mâu Ni. Không những biết xem số mệnh của một mình quý vị, còn biết xem số mệnh cả nhà quý vị, số mệnh của một nước, số mệnh của toàn thế giới. Ngài không có gì không biết. Vì thế, vấn đề nêu ra rồi, không những giải những mê hoặc của bản thân chúng ta, mê hoặc của mọi người tất cả đều phải giải hết. Câu hỏi này, công đức đã vô lượng rồi. Đáp vấn đề giống như vậy, khiến cho tương lai tất cả chúng sinh đều có thể độ thoát, đều có thể thành Phật. Đây thật là không thể nghĩ bàn, không ai có thể nghĩ ra được, cũng không có ai nêu ra được, không phải là người đã trải qua, sự việc này làm không ra được.
“Lần thứ năm, Thế Tôn biết rõ việc này thật vì pháp tất cả thế gian khó tin, nên khuyên răn chúng sinh rằng: Như Lai giác tri khó lường, thần thông vô ngại, định tuệ đầy đủ, tự tại với pháp. Lời Thế Tôn nói chân thật bất hư, mọi người chớ có khinh, nghi, chỉ nên tín ngưỡng”. Phải biết tin là bảo vật số một của Phật pháp, quý vị đã đạt được hay chưa? Chân tín không nghi, điều quý báu này đã đạt được rồi. Có mảy may hoài nghi, công đức của quý vị hoàn toàn bị phá mất. Vì thế, mấy câu này của Phật là tăng cường nói với chúng ta: Như Lai giác tri khó lường. Như Lai là Tính đức. Trí tuệ ở trong Tính đức. Tự tính vốn đủ trí tuệ, đức tướng. Điều này, Phật nói ở trong kinh Hoa Nghiêm: Viên mãn cụ túc. Thần thông vô ngại, dưới đây là khởi tác dụng, thần kỳ thông suốt không có chướng ngại, định tuệ thông suốt.
Trong kinh Đại thừa, thường nói 10 loại tự tại, trên thực tế là vô lượng tự tại. Vì phương tiện thuyết pháp, nên quy nạp thành 10 điều. 10 đại biểu cho vô lượng. “Lời Thế Tôn nói. Chân thật không giả. Chớ có khinh, nghi”. 3 câu này là lời của Hoàng Niệm Lão nói, nhất định không nên nghi hoặc. Nghi hoặc là bản thân chúng ta sai rồi. Chỉ nên tín ngưỡng, tức là tôn kính, kính trọng, thâm tín không nghi.
“Vậy nên khuyên dạy chúng ta”, Phật ở đó nói với chúng ta. “Phật là quả giác, ta là phàm phu”, chúng ta phải thừa nhận. Ngài là vị đã chứng đắc quả giác rốt ráo, Ngài ở quả vị Diệu Giác, chúng ta là phàm phu, vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. 3 loại phiền não này đều đầy đủ, đây gọi là phàm phu. Làm sao có thể dùng tâm phân biệt ngu muội của phàm phu, vọng đoán thánh trí của Như Lai, chỉ nên tín thọ, ắt đầy đủ nguyện lực.
Chúng ta chỉ cần thực sự tin tưởng, thực sự tiếp thu, y giáo phụng hành, nhất định sẽ đầy đủ nguyện vọng của bản thân chúng ta. Nguyện vọng của chúng ta là hi vọng sinh đến thế giới Cực Lạc, thân cận Phật A Di Đà. Ở thế giới Cực Lạc nhanh chóng tu thành minh tâm kiến tính. Minh tâm kiến tính, chính là Pháp thân Bồ tát. Minh tâm kiến tính, chính là trú cõi Thật Báo Trang Nghiêm ở thế giới Tây Phương Cực Lạc. Chưa kiến tính cũng ở cõi Thật Báo Trang Nghiêm, đó là Di Đà từ bi, bản nguyện oai thần gia trì quý vị. Tây Phương Cực Lạc trên thực tế nó có tứ độ, tam bối, cửu phẩm, nhưng nó bình đẳng, thế giới bình đẳng, tứ độ hòa vào nhau, nên Phật lực gia trì chúng ta cũng như Pháp thân Bồ tát, trí tuệ, thần thông, đạo lực không thua một tí nào.
Do đó, sinh đến cõi Phàm Thánh Đồng Cư hạ hạ phẩm vãng sinh, có năng lực giống như Pháp thân Bồ tát vậy. Chúng sinh có cảm, ta liền có ứng, cần dùng Phật thân để độ, ta liền có thể thị hiện Phật thân, được không? Được. Vì sao vậy? Nếu như không được, họ liền không phải là A Duy Việt Trí Bồ tát. A Duy Việt Trí Bồ tát liền có thể. Vậy đã là vãng sinh, chính là A Duy Việt Trí Bồ tát rồi, họ đương nhiên có thể. Điều này, không thể nghĩ bàn. Điều này, khó tin. Ví dụ, nói nhất phẩm phiền não chưa đoạn, lúc lâm chung họ rất may mắn đầu óc rõ ràng không có mê hoặc, gặp được một người hiểu được Tịnh Độ, khuyên họ niệm Phật A Di Đà cầu sinh thế giới Cực Lạc. Họ vừa nghe lập tức tiếp thu, lập tức liền thật niệm, niệm theo họ, vừa niệm được 10 niệm đã dứt hơi rồi, họ thực sự đến thế giới Cực Lạc.
Quý vị xem, người như vậy vừa đi là họ thành Phật rồi. Họ trở lại độ chúng sinh. Họ có thể hiện thân Phật. Quý vị dám tin không? Chúng ta chắc chắn lắc đầu. Tôi không thể tin tưởng. Vì sao không thể tin? Chúng ta dùng tâm phàm phu để đo lường trí Như Lai. Sai lầm của chúng ta là ở chỗ này. Pháp môn này kì lạ quá, hiếm có quá, ví dụ tôi vừa nêu ra có hay không? Có. Chẳng những có mà còn rất nhiều. Nhưng chúng ta không thể theo kiểu may mắn đó. Vì sao vậy? Chúng ta không thể bảo đảm lúc lâm chung đầu óc tỉnh táo, không thể bảo đảm điều này, cho nên con người không thể tạo tội nghiệp. Vì sao vậy? Tạo tội nghiệp, thì sợ cuối đời bị bệnh ngớ ngẩn, vậy là tất cả đều xong rồi. Đã bị bệnh ngớ ngẩn, thì khó lắm. Có người trợ niệm cũng không giúp được gì.
3 điều kiện cuối cùng để vãng sinh, thứ nhất là đầu óc phải tỉnh táo, thứ hai là nghe giảng Phật pháp, nghe được pháp môn Tịnh Độ, thứ ba là thâm tín không nghi. Lập tức họ liền làm, họ liền niệm Phật, họ cầu vãng sinh, điều kiện như vậy mới có thể đi. Điều kiện này thật không dễ dàng. 3 điều mà thiếu 1 điều cũng không được. Vì thế, pháp môn này đặc thù, vô cùng đặc thù, bởi vì thực sự là khó tin, cho nên trong Biệt Tự có Ngũ trùng chứng tín (5 lần chứng tín).
“Từ đó cho thấy, phần Tựa của kinh, hoàn toàn vì chứng tín”. Bản kinh này là tông của tiểu bổn. Ngẫu Ích Đại sư chỉ ra Tín, Nguyện, Trì danh. 3 tư lương này, thiếu 1 không được, mà Tín là điều đầu tiên, những điều khác có thể biết. 3 tư lương này, nói theo hiện tại chính là 3 điều kiện để vãng sinh đến thế giới Tây Phương Cực Lạc. Tư lương là ví dụ. Con người chúng ta đi ra ngoài lữ hành, vào thời xưa, chưa có nhiều nhà hàng như bây giờ, không có nhiều khách sạn. Lúc quý vị ra khỏi nhà đi du lịch phải mang theo tiền, là tư, còn phải mang lương thực, mang theo lương khô, trên đường đi quý vị mới có cái mà ăn. 3 tư lương vãng sinh đến thế giới Cực Lạc, đó chính là nhờ vào 3 sự việc Tín, Nguyện, Hành này. Đầu tiên là quý vị phải tin tưởng. Quý vị cầu vãng sinh, mỗi ngày đều niệm Phật, mà quý vị đi không được, tín tâm không đủ, cho nên điều đầu tiên phải có tín tâm đầy đủ. Tín tâm viên mãn, điều này quan trọng hơn bất cứ điều gì.
“Trong phần Tựa trước tiên nói đến gốc của kinh này, cho đến chân thật rốt ráo, mới đáng tin”. Bộ kinh này từ đâu mà mà có? Bổn này là gốc, là ngọn nguồn, nó từ đâu mà đến? Nó từ chân thật rốt ráo mà đến. Chân thật rốt ráo là gì? Chính là bản tính của bản thân, chân như tự tính, từ trong tự tính mà lưu xuất ra. Điều này, đương nhiên có thể tin tưởng được. Vậy ý của bộ kinh này có tác dụng gì?
“Vì lợi ích chân thật mà rộng ban cho chúng sinh”, nên phải tin tưởng, chính là ban cho lợi ích chân thật, ban cho, cho quý vị, cũng là nghĩa bố thí. Phật ban cho tất cả chúng sinh lợi ích chân thật. Quý vị trong đời này liền thành tựu được. Vãng sinh, điều này chư vị đồng học phải nên biết. Vãng sinh không phải là chết. Vãng sinh không có chết, sống mà đi vậy. Không phải sau khi chết rồi mới vãng sinh, mà là vãng sinh xong, thân thể này không cần nữa. Điều này, phải biết. Quý vị nói sau khi chết mới vãng sinh, vậy là sai rồi. Đó là trung ấm vãng sinh, duyên đó rất đặc thù. Không phải là người bình thường có thể gặp được. Thông thường, công phu niệm Phật thành tựu đều là lúc lâm chung nhìn thấy Phật đến tiếp dẫn, đi theo Phật. Vậy mới đoạn khí. Vừa đoạn khí như vậy đã đến thế giới Cực Lạc rồi, là lợi ích chân thật, nên phải tin tưởng.
“Sao gọi là chân thật rốt ráo? Như trong Sớ Sao của Đại sư Liên Trì mở miệng liền nói”. Đây là mấy câu ở trong Sớ Sao của Đại sư Liên Trì: “Linh minh động triệt. Trạm tịch thường hằng. Phi trọc phi thanh. Vô bối vô hướng. Đại tai chân thể. Bất khả đắc nhi tư nghì giả. Kỳ duy tự tính dư” (Linh minh động triệt. Trạm tịch thường hằng. Không nhơ không sạch. Không quay không hướng. Chân thể thật lớn. Chẳng thể nghĩ bàn. Đó là tự tính vậy). Mấy câu tán thán này, toàn là tự tính. Vì thế, chân thật rốt ráo, chính là tự tính của người này, là tự tính của bản thân chúng ta, tự tính là một. Tất cả chư Phật, tất cả chúng sinh và tự tính của ta là cùng chung.
Trong Hoàn Nguyên Quán, nói rất rõ ràng, tự tính thanh tịnh viên minh thể, đều là từ trong đó lưu xuất ra. Ở trong Hoàn Nguyên Quán, chúng ta nói “Hiển nhất thể, khởi nhị dụng”. Nhị dụng chính là Y, Chính trang nghiêm. Khắp pháp giới hư không giới Y, Chính trang nghiêm, đều từ trong tự tính mà lưu xuất ra. Bộ kinh này là trong tự tính lưu xuất ra, cho nên tác dụng của nó rất lớn! Mấy câu này của Đại sư Liên Trì ở trong Di Đà Kinh Sớ Sao, trước đây chúng tôi giảng qua rồi. Ở đây, sẽ không giảng lại nữa. Điều chúng ta chú trọng là Chân thật rốt ráo, tức là tự tính của mỗi người. Câu này vô cùng quan trọng.
Chân thật rốt ráo là gì? Sớ Sao lại nói: “Trừng trọc nhi thanh. Phản bối nhi hướng. Việt tam kỳ ư nhất niệm. Tề chư thánh ư phiến ngôn chí tai diệu dụng. Diệc bất khả đắc nhi tư nghì giả. Kỳ duy Phật thuyết A Di Đà Kinh dư” (Lắng đục để khơi trong. Quay đầu lại để hướng đúng. Vượt 3 A tăng kỳ kiếp trong một niệm. Bằng với cách nói của các thánh. Thật là diệu dụng thay, cũng chẳng thể nghĩ bàn. Đó chỉ là Phật thuyết kinh A Di Đà thôi). Đây là tán thán kinh A Di Đà. Chúng ta nói đơn giản về những cầu này: “Trừng trọc nhi thanh”. Trọc là gì? Chúng ta ở đây là ngũ trọc (trược) ác thế. Trược là ô nhiễm nghiêm trọng. Hiện tại, chúng ta sống trong xã hội ngày nay, tinh thần của chúng ta ô nhiễm, cuộc sống vật chất ô nhiễm. Ô nhiễm ở trong tinh thần nghiêm trọng nhất là tự tư, tự lợi, thị phi nhân ngã, tham, sân, si, mạn, nhiễm ô nghiêm trọng!
Trừng là lắng trong. Làm thế nào để gạn lọc nhiễm ô, gạn đục khơi trong; quay đầu lại để hướng đúng? Ngày nay, chúng ta khởi tâm động niệm, nói năng, hành động trái với tự tính, trái ngược 180o, đáng sợ quá. Hiện tại, làm thế nào quay đầu lại, hướng đến tự tính, hướng đến Tính đức? Câu nói này, chính là điều hiện nay các nhà khoa học nhắc nhở chúng ta, thay đổi tâm thái, là chúng ta được cứu rồi. Vì sao vậy? Y báo, Chính báo trang nghiêm đều từ tâm thái mà biến hiện ra. Hiện tại, các nhà lượng tử lực học đã chứng minh được rồi. 3.000 năm trước, Phật đã nói tâm hiện, thức biến. Tất cả pháp từ tâm tưởng sinh. Hiện tại, được các nhà lượng tử lực học chứng minh rồi, là thật không phải giả.
Vì thế, quay đầu lại phải nhờ vào bản thân. Không ai có thể giúp đỡ quý vị. Phật cũng không giúp được quý vị. Phật chỉ là nói cho quý vị biết, quý vị nên quay đầu. Nhanh chóng quay đầu là đúng rồi. Mê là bản thân mê, không phải là Phật làm cho quý vị mê, cho nên ngộ vẫn là quý vị phải tự ngộ. Sự việc này, không thể nhờ người khác, không được oán trời trách người. Oán trời trách người, vậy là quý vị đã mê lại thêm mê. Quý vị sai rồi. Pháp môn này dạy quý vị làm thế nào để gạn đục khơi trong, trở lại mà hướng về, chính là một câu Phật A Di Đà. Trong tâm, ý niệm vừa khởi lên, bất luận là niệm thiện hay niệm ác đều không nên quản. Lập tức quay trở lại với Phật A Di Đà. Tất cả đều quy về Phật A Di Đà. Trong tâm tôi chỉ có Phật A Di Đà, ngoài Phật A Di Đà ra thứ gì cũng không cần nữa. Vậy là quý vị thực sự quay đầu rồi. Quý vị liền được tâm thanh tịnh. Quý vị liền hướng về đạo Bồ đề.
“Việt tam kỳ ư nhất niệm”. Tam kỳ là 3 đại A tăng kỳ kiếp. 3 đại A tăng kỳ kiếp ở đây là hình dung phàm phu tu hành thành Phật rất khó, phải trải qua thời gian dài như vậy. Nhưng quý vị gặp được pháp môn này, thì không còn khó nữa. Một niệm tức là vượt qua 3 đại A tăng kỳ kiếp, giống như vừa rồi tôi nêu ví dụ, nhanh chóng biết bao! Lúc lâm chung, gặp được người khuyên quý vị, quý vị nhanh chóng niệm Phật A Di Đà cầu sinh thế giới Cực Lạc. Người đó, sau khi nghe xong liền thật làm, liền thật niệm, họ đã thành công rồi. Đây đích thực là pháp khó tin.
“Tề chư thánh ư phiến ngôn”. Phiến ngôn chính là một câu A Di Đà Phật. Tề là gì? Cùng giống như họ. Chư thánh là 41 vị Pháp thân đại sĩ. Quý vị niệm câu A Di Đà Phật này, ở thế giới Tây Phương Cực Lạc và địa vị của 41 vị Pháp thân đại sĩ là bình đẳng. Vì sao vậy? Vì là A Duy Việt Trí Bồ tát. Tề chính là ý nghĩa này. Người vãng sinh Phàm Thánh Đồng Cư Độ hạ hạ phẩm, cũng bình đẳng với Bồ tát cõi Thật Báo. Chúng ta thường nói trí tuệ, thần thông, đạo lực, mỗi mỗi đều bình đẳng. Họ có năng lực tiếp thu cảm của chúng sinh. Chúng sinh có cảm, họ có ứng, giống như Quán Thế Âm Bồ tát 32 ứng thân vậy. Cần dùng thân gì để độ, họ liền dùng thân đó. Điều này, rất tuyệt vời, rất hi hữu, rất khó gặp! Đời này, gặp được vấn đề gì đều giải quyết được hết, cho nên những thứ tạp nham trong thế gian đều quét dọn nó cho sạch sẽ, không để lây nhiễm nữa. Thứ nên xả, thì phải xả, không nên xả cũng phải xả bỏ. Quý vị đều xả bỏ nó cho sạch sẽ, giữ chặt câu Phật A Di Đà này, thì không ai không thành tựu.
“Chí tai diệu dụng. Diệc bất khả đắc nhi tư nghì giả”, tức là không thể nghĩ bàn. Điều này, duy chỉ có Phật thuyết kinh A Di Đà. Kinh A Di Đà và bộ kinh này đồng bộ, đại bổn, tiểu bổn. Kinh Di Đà nói rất ngắn gọn, còn bộ kinh này nói rất tường tận. Vì thế, trong bộ kinh này học hiểu, hiểu rõ rồi, rõ ràng rồi. Kinh A Di Đà được coi như là thời khóa sáng chiều, nó đơn giản. Kinh A Di Đà vẫn là tiểu bổn của kinh này. “Chí tai diệu dụng”, không phải là bản kinh này sao. Bản kinh này, chính là chỉ cho kinh Vô Lượng Thọ. Tông của bản kinh này là “Phát Bồ đề tâm. Nhất hướng chuyên niệm”. Đây chính là tông chỉ của bộ kinh này. Tông là điều chủ yếu nhất, điều quan trọng nhất, tôn sùng nhất. Chúng ta tu học, chính là 2 câu: “Phát Bồ đề tâm. Nhất hướng chuyên niệm”. “Phát Bồ đề tâm. Nhiếp trọn tín nguyện”, bao gồm cả tín, nguyện đều ở trong đó. Thâm tín, thiết nguyện chính là tâm Bồ đề.
Chúng ta nhìn thấy có không ít những ông già bà lão, đối với giáo lý họ không hiểu. Năm xưa, chúng tôi ở Đài Trung nhìn thấy rất nhiều, những liên hữu của Đài Trung Liên Xã, có thể nói 80% đều là những ông già bà lão. Người trẻ tuổi chỉ chiếm khoảng 20%, nhân số liên hữu rất nhiều. Lúc tôi đến Đài Trung, Đài Trung Liên hữu có khoảng gần 200.000 người, 2/10 số này tức là 40.000 người, là người trẻ tuổi. Tôi ở Đài Trung 10 năm. Lúc tôi rời đi, Liên Hữu Đài Trung đã phát triển đến gần 500.000 người, là một đoàn thể rất lớn ở Đài Loan, là một đoàn thể Phật giáo. Đây là đức hạnh của thầy Lý chiêu cảm đến. Vì thế, phát Bồ đề tâm, nhiếp trọn tín nguyện. Tin thật sự, nguyện chí thiết, chính là phát tâm Bồ đề.
Quý vị hỏi những vị lão đồng tu của Liên Xã, Bồ đề tâm là gì họ nói không ra, họ không hiểu rõ ràng, nhưng họ vãng sinh đứng mà đi, ngồi mà đi, biết trước giờ đi. Vậy đối chiếu với bộ kinh của chúng ta, “Phát Bồ đề tâm. Nhất hướng chuyên niệm”, thì nhất hướng chuyên niệm, chúng ta nhìn thấy rồi, từ sáng đến tối A Di Đà Phật, A Di Đà Phật. Họ không hiểu, không gián đoạn, họ thật làm, nhưng phát tâm Bồ đề, thì không nhìn thấy.
Trong YếuGiải, Ngẫu Ích Đại sư nói: Chân tín thiết nguyện, chính là phát tâm Bồ đề vô thượng. Ấn Quang Đại sư vô cùng tán thán đối với câu nói này. Đây là điều cổ nhân chưa từng nói qua, Ngẫu Ích Đại sư đã nói ra được. Đối với chúng ta mà nói, chúng ta hiểu rõ rồi sẽ không còn hoài nghi nữa.
“Nhất hướng chuyên niệm”. Chuyên niệm chính là “trì danh”. 2 quyển lớn nhỏ, đồng cùng tông chỉ. Diệu pháp như vậy, tam bối đều nhận, dần khiến phàm phu, đốn đồng bổ xứ, diệu dụng lớn thay, không thể nghĩ bàn. Mấy câu cuối cùng, sau khi chúng ta đọc rồi, đối với Hoàng Niệm Lão cảm ơn vô hạn. Ông đã nói ra cho chúng ta biết, chúng ta nghe rồi, đối với Tịnh tông không còn hoài nghi nữa.
Báo ân như thế nào? Phải thật làm! Thật làm mới có thể báo ân. Cách này kỳ diệu vô cùng, thực sự là diệu pháp, Diệu Pháp Liên Hoa Kinh cũng không thể sánh bằng, kinh Hoa Nghiêm cũng không sánh được. Đây là từ trên tác dụng mà nói. Kinh, thể là bình đẳng, tất cả các kinh không rời tự tính, toàn là Phật Thích Ca Mâu Ni từ trong tự tính mà lưu xuất ra. Vì thế, kinh, thể là tương đồng, là bình đẳng. Kinh Đại, Tiểu thừa đều giống nhau, đều không ngoại lệ, nhưng tác dụng thì khác nhau. Tác dụng của mỗi bộ kinh đều không tương đồng. Hơn nữa, tác dụng của bộ kinh này mới thực sự gọi là đại viên mãn. Điều này, không thể không biết.
“Tam bối tề thu”. Tam bối này là nói về căn tính của chúng sinh, thượng căn, trung căn, hạ căn, đều có phần. Thượng thượng căn được lợi ích, hạ hạ căn cũng được lợi ích, chỉ cần quý vị tin tưởng, chỉ cần quý vị muốn sinh thế giới Cực Lạc, muốn thân cận Phật A Di Đà. Tưởng này chính là nguyện. Quý vị có được nguyện này, thứ gì ta cũng không nghĩ nữa, chỉ nghĩ đến thế giới Cực Lạc, chỉ nghĩ đến thân cận Phật A Di Đà. Đặc biệt, trái đất hiện tại của chúng ta khắp nơi đều có thiên tai, chúng ta di dân đến thế giới Cực Lạc sớm hơn một chút, nơi đó thiên tai gì cũng không có. Vì sao lại không đi? Đi được. Bộ kinh này đem lại cho chúng ta niềm tin, người người đều có phần. Vì sao vậy? Tự tính Di Đà, duy tâm Tịnh Độ. Thế giới Cực Lạc từ đâu mà có? Tự tính chúng ta biến hiện ra, chúng ta duy tâm hiện. Ngoàitâmkhông có pháp. Ngoài pháp không có tâm, chúng ta làm sao không thể thành tựu được? Vì thế, đạo lý này, ở trong kinh giáo Đại thừa chúng ta hiểu cho rõ ràng, hiểu cho thấu đáo, tín tâm đầy đủ.
“Toại linh phàm phu, đốn đồng Bổ Xứ” (Bèn khiến phàm phu nhanh chóng ngang đồng Bổ Xứ). Đốn là nhanh chóng, không có cấp bậc. Câu nói này, là khó trong các việc khó. Vì sao vậy? Nếu như nói đốn đồng Pháp thân Bồ tát, Pháp thân Bồ tát có 41 cấp bậc, đốn đồng Sơ Trụ, đốn đồng Sơ Địa, không phải vậy, đốn đồng Bổ Xứ. Bổ Xứ là gì? Đẳng Giác Bồ tát. Ở thế giới Tây Phương Cực Lạc, địa vị Bồ tát là cao nhất. Trong kinh Hoa Nghiêm, nói 41 vị Pháp thân đại sĩ, đây là vị thứ 41, thứ bậc cao nhất, lên cao nữa là Diệu Giác. Chúng ta biết Diệu Giác, thì không trú cõi Thật Báo, họ trở về với cõi Thường Tịch Quang Tịnh Độ, trở về Thường Tịch Quang rồi. Trong thế giới Cực Lạc, thân phận cư trú cao nhất là Bổ Xứ, lập tức liền bình đẳng với Bổ Xứ Bồ tát, đồng đẳng với họ.
“Đại tai diệu dụng, bất khả tư nghị”. Đây là thực sự không thể nghĩ bàn, không phải là giả, tức là phát tâm niệm Phật của bản kinh này, đây chính là lợi ích chân thật vậy. Lợi ích chân thật này, có nghĩa khác quan trọng nhất, thì ở chỗ này đều bổ sung hết rồi, không còn điều gì chân thật hơn điều này nữa. Chân thật diệu dụng như vậy, trong một khoảnh khắc bỗng vượt 3 kỳ, 3 đại A tăng kỳ kiếp, một tiếng xưng danh vị đồng với chư thánh. Chư thánh ở đây chính là 41 vị Pháp thân đại sĩ. Chư vị thử nghĩ xem, nhân duyên này, cơ hội như vậy, ai có thể gặp được? Trong KệKhai Kinh nói “Báchthiên vạn kiếp nan tao ngộ”. Trước đây, thời đại Càn Long, cư sĩ Bành Tế Thanh nói: Vô lượng kiếp đến nay, hiếm có khó gặp được ngày này.
Chúng ta gặp được rồi, gặp được rồi phải làm sao? Gặp được, thì mơ mơ hồ hồ. Không thể nói tôi không biết, cũng không thể nói tôi biết rồi, chưa làm rõ được, hiểu biết lơ mơ, cho nên tâm chưa phát ra được. Tín tâm không kiên cố, nguyện là tâm thần bất định, hình như có mà hình như không, như vậy làm sao được? Công phu không đắc lực. Lúc không đắc lực, đối với pháp môn này liền hoài nghi. Đã hoài nghi, có thể sẽ không tin tưởng, liền thay đổi pháp môn khác rồi. Người như vậy rất nhiều, rất nhiều, không phải là thiểu số. Quý là lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ có thể đem pháp môn này nói được rõ ràng như vậy, thấu đáo như vậy. Cụ đã làm cho chúng ta nghiêm túc học tập. Thông qua học tập, thực sự phát tâm, thực sự hiểu rõ ràng, hiểu thấu suốt rồi, mới hiểu được cơ duyên lần này của chúng ta là thù thắng vô cùng. Thực sự là trăm ngàn vạn kiếp, chúng ta gặp được rồi.
Một ngày hiếm có khó gặp, hôm nay chúng ta cũng đã gặp được rồi, cũng đến được rồi, diệu dụng chân thật. Chân thật ở điểm nào? Chính là một niệm này, là một câu A Di Đà Phật này. Quý vị chỉ cần niệm một tiếng này. Một tiếng này liền vượt qua 3 đại A tăng kỳ kiếp, siêu việt người tu hành thông thường. Quý vị xem, họ từ tiểu quả, tứ quả, tứ hướng, hoặc là dùng kinh Hoa Nghiêm để nói, họ từ Sơ Tín vị đến Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác, 51 cấp bậc, chúng ta chỉ một câu danh hiệu Phật liền siêu việt rồi. Chân tín, thật tín, vì sao vậy? Quả vị Diệu Giác, Phật nói vậy, nhất định không thể dùng tri kiến phàm phu để nhìn. Tri kiến phàm phu, tri kiến Tiểu thừa, tri kiến Đại thừa đều không tin tưởng, đều hoài nghi. Ngày nay, chúng ta chỉ tin đây là Phật nói, đây không phải là người khác nói, Thích Ca Như Lai, Di Đà Như Lai, mười phương tất cả Như Lai đều là quả vị Diệu Giác, không phải là Đẳng Giác Bồ tát.
Trong kinh A Di Đà, chúng ta nhìn thấy lục phương Phật tán thán. Trong bộ kinh này, trong quyển kinh A Di Đà do Huyền Trang Đại sư phiên dịch, chúng ta cũng thấy thập phương Phật khen ngợi, không có đức Phật nào không tán thán, không có đức Phật nào không thừa nhận. Đây đều là chứng tín cho chúng ta. Đây đều là khuyến khích chúng ta phải phát nguyện. Chúng ta thật tin, thật phát nguyện, từ hôm nay trở đi thực sự niệm Phật, đặt Phật A Di Đà vào tâm, không còn để những thứ khác ở trong tâm nữa. Trong tâm có những thứ rác rưởi này phải thanh trừ cho sạch sẽ, chỉ có một đức Phật A Di Đà. Trong tâm có Phật. Trong miệng có Phật. Trên thân, chính là Phật thân. Bản thân chúng ta không cảm thấy, phàm phu nhìn không ra, chúng sinh trong linh giới nhìn thấy chúng ta hiện Phật thân. Đó là thật, không phải giả. Chính là một câu danh hiệu Phật này, mà thứ bậc đồng với chư thánh.
Chúng ta may mắn được nghe, ngày nay chúng ta tham gia đại chúng hội này, ở trước màn hình TV, trên mạng internet, chúng ta thực sự may mắn. Đây thật là Vôlượngkiếp đến nay hiếm có khó gặp được ngày này. Câu nói này là của cư sĩ Bành Tế Thanh. Nói không sai chút nào, vô lượng kiếp đến nay hiếm có khó gặp được ngày này. Ngày này, chúng ta hôm nay đã gặp được rồi. Đây là một ngày hoan hỷ vô cùng, là một ngày vô cùng vui sướng. Vì sao vậy? Vì chúng ta thực sự chắc chắn, ngay trong đời này sẽ thành tựu viên mãn, trở về với tự tính, sinh đến thế giới Tây Phương Cực Lạc, nhất định sẽ trở về với Thường Tịch Quang.
Thời gian cư trú ở thế giới Cực Lạc, tôi tin rằng không phải rất dài, chắc chắn sẽ trở về với Thường Tịch Quang. Bồ tát của thế giới Cực Lạc có thể nói toàn là Pháp thân Bồ tát, đồng với chư thánh. Họ có năng lực ở trong khắp pháp giới hư không giới, cảm ứng đạo giao với tất cả chúng sinh. Dùng vô lượng vô biên thân để hòa quang đồng trần với tất cả chúng sinh. Cần dùng thân gì để độ, liền hiện thân đó, họ đều có năng lực này. Bồ tát trong cõi Thật Báo đều có loại năng lực này, hà huống là chư Phật Như Lai trong cõi Tịch Quang. Chư Phật Như Lai không có tướng, cho nên không có cách gì mà thăm dò đến được.
Trong Thường Tịch Quang, nó không phải là vật chất, nó cũng không phải là tinh thần, vì thế không có cách gì để thăm dò đến được. Chỉ có tập khí phiền não vô thỉ vô minh đoạn tận rồi, thì Thường Tịch Quang liền hiện tiền, cõi Thật Báo sẽ không thấy nữa. Đây là sự thù thắng của thế giới Tây Phương Cực Lạc. Thế giới Cực Lạc là nhà xưa của chúng ta. Chúng ta niệm Phật cầu sinh Tịnh độ là trở về nhà xưa, phải sinh tâm vô lượng hoan hỷ, không phải là chết, mà là sanh! Thế giới này, chướng khí mù mịt, nhanh chóng thoát khỏi nó, quay một vòng rồi trở lại, chính là Pháp thân Bồ tát đến siêu độ chúng sinh. Điều này, không giả dối tí nào. Hi vọng chúng ta thực sự thấu đáo, thực sự rõ ràng, không nên lưu luyến thế gian này nữa, lân mẫn tất cả chúng sinh khổ nạn, bản thân thành tựu mới có thể thành tựu tất cả chúng sinh. Chúng ta phải giống như chư Phật Như Lai, phải thành tựu bản thân trước.![]()


























































































































































Bình luận bài viết