Thông tin

TỊNH ĐỘ ĐẠI KINH GIẢI DIỄN NGHĨA - TẬP 92

 

 

Chủ giảng: LÃO PHÁP SƯ TỊNH KHÔNG

*****

Trưởng ban biên dịch:

TK. Thích Đồng Bổn

 

QUYỂN 10

(Tập 91 – 100)

 

TẬP 92

 

Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa

Giảo duyệt: Huệ Trang và Đức Phong

 

Chư vị pháp sư, chư vị đồng học, xin xem tiếp Đại Thừa Vô Lượng Thọ Kinh Giải, trang 106, xem từ dòng thứ 8, cũng là đoạn thứ 2.

“Bồ tát Di Lặc, cập hiền kiếp trung nhất thiết Bồ tát, giai lai tập hội” (Bồ tát Di Lặc và hết thảy Bồ tát trong hiền kiếp đều đến nhóm hội). Đối với câu kinh văn này, trong Chú Giải, cụ Niệm Tổ đã giới thiệu, Di Lặc (Maitreya) là tiếng Phạn, dịch sang nghĩa tiếng Hán là Từ Thị, tức là từ bi. “Bồ tát chi tánh dã, danh A Dật Đa” (Là họ của Bồ tát, Ngài tên là A Dật Đa). A Dật Đa (Ajita) là tiếng Phạn, dịch sang nghĩa tiếng Hán là Vô Năng Thắng (không ai có thể trội hơn được), có nghĩa là thù thắng khôn sánh.

“Cụtúc tắc vi Từ Thị Vô Năng Thắng” (Nói đầy đủ là Từ Thị Vô Năng Thắng), cũng có nghĩa là trong các vị Bồ tát, Bồ tát Di Lặc từ bi nhất. Trên thực tế, Phật Phật đạo đồng, chư Phật Như Lai, Pháp thân Bồ tát chẳng hề bất bình đẳng. Trí tuệ, đức năng, và tướng hảo đều bình đẳng. Những danh hiệu như vậy trong kinh điển không gì chẳng nhằm thể hiện ý nghĩa biểu thị pháp. Pháp môn nào sẽ dùng vị Bồ tát nào làm đại diện, mang ý nghĩa biểu thị pháp? Di Lặc đặc biệt biểu thị lòng từ bi thù thắng, như Văn Thù tượng trưng trí tuệ thù thắng, Phổ Hiền tượng trưng sự thực hành thù thắng, Địa Tạng tượng trưng “hiếu thảo cha mẹ, tôn trọng thầy” thù thắng. Thật ra, đều là bình đẳng, chúng ta phải hiểu điều này! Hiện thân, làm việc, ngôn ngữ, danh hiệu trong Phật pháp, không gì chẳng nhằm biểu thị pháp. Nói cách khác, hết thảy đều là phương tiện dạy học, mục đích là không gì chẳng khiến cho hết thảy chúng sinh thấy hình tượng Bồ tát, đó là thân hành, nghe Bồ tát giáo huấn, có thể đạt giác ngộ, trở về tự tính. Đấy là mục tiêu chung cực trong học tập Phật pháp.

Tiếp đó, cụ Hoàng dẫn chứng: “Di Đà Sớ Sao vân” (Sách Di Đà Sớ Sao viết). Sớ Sao do Liên Trì Đại sư soạn. Trong Sớ Sao có một đoạn như vậy. Những điều được nói trong đoạn ấy đều là những điều được nói trong kinh điển. “Dĩ tại mẫu thai trung, tức hữu từ tâm, cố dĩ danh tộc” (Do khi Ngài còn trong thai, mẹ liền có tâm từ, nên lấy đó làm họ). Khi mẹ có thai Ngài, tâm từ bi vô cùng rõ rệt; vì thế, bộ tộc của Ngài lấy tên là Di Lặc. Di Lặc là họ của Ngài, dòng họ là bộ tộc, tại cổ đại Ấn Độ là như vậy, mà ở Trung Quốc cũng là như thế. Trung Quốc cổ đại thường lấy dòng họ làm danh xưng của bộ tộc.

“Hựu quá khứ sinh trung, ngộ Đại Từ Như Lai, nguyện đồng thử hiệu, tức đắc Từ Tâm Tam-Muội” (Lại nữa, trong đời quá khứ, gặp Đại Từ Như Lai, nguyện có cùng danh hiệu ấy, liền đắc Từ Tâm Tam-Muội). Trong kiếp trước lâu xa, Bồ tát gặp Phật nghe pháp, gặp được một vị Phật có hiệu là Đại Từ Như Lai. Ngài làm đệ tử của Đại Từ Như Lai, phát nguyện đời đời kiếp kiếp mong có cùng danh hiệu với thầy. Danh và thực nhất định tương xứng. Danh hiệu giống nhau, trí tuệ, đức năng, hành trì nhất định chẳng khác thầy, đó là “thầy trò đạo hợp”, là truyền nhân của thầy. Do phát nguyện ấy bèn đắc Từ Tâm Tam-Muội. Tam là đúng mực, còn dịch là chính định. Tâm đã định. Định trong đại từ đạ-muội (Samādhi) là tiếng Ấn Độ, dịch sang nghĩa tiếng Hán là chính thọ, tức sự hưởng thụ chính đáng, còn dịch là chính định, tâm đã định rồi, định trong đại từ đại bi.

“HựutíchviLaMôn,hiệuNhấtThiếtTrí, ư bát thiên tuế, tu tập Từ hạnh” (Xưa kia, Ngài lại là Bà La Môn có hiệu là Nhất Thiết Trí, tu tập hạnh Từ trong 8.000 năm). Trong đoạn này nói đến rất nhiều thời đại, đấy cũng là sự tích tu hành của Bồ tát Di Lặc trong đời quá khứ. Lại nữa, trong thời đại ấy, Ngài từng hiện thân làm Bà La Môn. Bà La Môn giáo của cổ Ấn Độ là một tôn giáo vô cùng xa xưa, lịch sử đã lâu đời, hậu thân của tôn giáo này chính là Hưng Đô giáo (Hinduism) trong hiện tại, người ta gọi tôn giáo ấy là Ấn Độ giáo.

Nghe nói tôn giáo ấy có hơn một vạn năm lịch sử, chúng ta có thể tin tưởng lời này. Người Ấn Độ không coi trọng lịch sử cho lắm, họ chú trọng tu định, khai ngộ. Điều này cũng có lý. Tu định, khai ngộ là thật; trừ chuyện này ra, như đức Phật đã dạy trong kinh: “Phàm những gì có hình tướng đều là hư vọng”, “Hết thảy pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, bóng”. Những điều này đều là sự thật. Hiện thời, trên thế giới thừa nhận Ấn Độ giáo có lịch sử tối thiểu là 8.500 năm. Họ nói Phật giáo chỉ có hơn 2.500 năm lịch sử. Nói như vậy, tối thiểu Ấn Độ giáo lâu hơn Phật giáo 5.000 năm. Thật sự là một tôn giáo cổ xưa.

Bà La Môn giáo coi trọng tu định. Trong kinh điển, đức Phật thường nhắc tới Tứ thiền Bát định. Những món thiền định ấy do Bà La Môn giáo của cổ Ấn Độ đề xướng. Thuở đó, ở Ấn Độ, tất cả các tôn giáo, kể cả các học phái đều coi trọng tu thiền định. Trong định có thể đột phá các chiều không gian, có thể thấy quá khứ, mà cũng có thể thấy tương lai. Họ có năng lực thấy trạng huống trong toàn thể lục đạo. Học thuyết lục đạo luân hồi do họ đề ra. Đó là cảnh giới do họ đích thân chứng nghiệm trong định. Nói theo hiện thời, điều này cũng thuộc về triết học và khoa học. Bất quá, họ chẳng dùng máy móc khoa học, mà dùng công phu thiền định để hoàn toàn thấy được, hoàn toàn thông đạt, hiểu rõ! Đây là giới thiệu đơn giản về Bà La Môn giáo.

Thuở ấy, Bồ tát Di Lặc tu hành trong đạo Bà La Môn rất có thành tựu, phải thuộc vào hàng đại sư, nên có hiệu là Nhất Thiết Trí. Trong 8.000 năm, Ngài thường tu hạnh Từ.

8.000 năm là thời gian, niên đại được nói ở đây cũng là niên đại trên địa cầu, Ngài tu đại từ đại bi. “Hựu” (Lại nữa), tiếp đó nhằm nói đến một thời đại nữa, tức là một thời đại khác, chỉ rõ Bồ tát tu từ bi không chỉ một đời, một kiếp, mà là đời đời kiếp kiếp, vĩnh viễn tiếp tục không ngừng! Vì thế, ngày nay chúng ta vẫn lấy Bồ tát Di Lặc tượng trưng cho lòng từ bi trong Đại thừa Phật pháp. Tiếp đó, nói “Phất Sa Phật thời” (Thời Phất Sa Phật). Đây là danh hiệu của một vị cổ Phật, “dữ Thích Ca Như Lai đồng phát Bồ đề tâm, thường tập Từ Định” (cùng phát tâm Bồ đề với Thích Ca Như Lai, thường tu tập định từ).

Trong đời ấy, Ngài là bạn học của Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni Phật, đều là học trò của Phất Sa Phật, cùng tu học có thành tựu. Di Lặc và Thích Ca đều mang thân phận Bồ tát. Tiếp đó, sách Sớ Sao lại nêu ra: “Tư Ích Kinh vân: Chúng sinh kiến giả, tức đắc Từ Tâm Tam-Muội” (Kinh Tư Ích chép: “Chúng sinh trông thấy liền đắc Từ Tâm Tam-Muội”). Hết thảy chúng sinh trông thấy Bồ tát, tâm từ bi đều sinh khởi. Do vậy, tại Trung Quốc, các vị tổ sư đại đức thờ Bồ tát Di Lặc ngay tại cửa chùa. Chùa miếu được xây dựng theo lối chính quy, bước vào đầu tiên là sơn môn, tức là Thiên Vương Điện. Tứ Đại Thiên Vương là thần hộ pháp trong Phật môn. Tứ Đại Thiên Vương được bày 2 bên, chính giữa thờ Bồ tát Di Lặc, nhưng Bồ tát Di Lặc được tạc tượng khác với Ấn Độ. Tại Ấn Độ, Bồ tát Di Lặc được tạc tượng rất giống Quán Thế Âm, Đại Thế Chí; ở Trung Quốc thờ tượng Bố Đại Hòa thượng.

Trong lịch sử, thật sự có một vị Bố Đại Hòa thượng. Trong Cao Tăng Truyện có chép truyện ký của Ngài. Ngài sinh nhằm thời đại Tống Cao Tông (1107-1187) nhà Nam Tống. Rất nhiều đồng học biết trong lịch sử Trung Quốc có danh nhân Nhạc Phi, tinh trung báo quốc. Bố Đại Hòa thượng cùng thời với Nhạc Phi, xuất hiện tại huyện Phụng Hóa, tỉnh Chiết Giang. Tuy truyện ký ghi chép rất tỉ mỉ, vẫn chẳng biết dòng họ và lai lịch của Ngài. Rốt cuộc, Ngài là người nơi nào, không biết, tên họ gì cũng không biết, thậm chí đối với pháp danh xuất gia của Ngài cũng không biết, chẳng ai biết! Người ta gọi Ngài là Bố Đại Hòa thượng (Hòa thượng túi vải) do Ngài hằng ngày cầm một cái túi to đi khắp nơi hóa duyên. Người ta cúng dường thứ gì, Ngài đều bỏ vào túi.

Mỗi ngày, gặp người khác đều thật sự hoan hỷ, mặt tràn đầy vẻ tươi cười, người cũng rất mập mạp. Vì thế, tạo tượng Bồ tát Di Lặc đều là tạo hình tượng của Bố Đại Hòa thượng. Theo truyền thuyết, khi vãng sinh, Ngài bảo người khác Ngài là Bồ tát Di Lặc thị hiện. Nói xong bèn tịch, chẳng sinh bệnh, nói ra thân phận bèn ngồi xếp bằng vãng sinh.

Vào thời cổ có chuyện như thế, là thật. Phật, Bồ tát thị hiện trong nhân gian chúng ta, hễ thân phận bộc lộ bèn tịch, chẳng thể lưu lại trong nhân gian nữa. Nếu bộc lộ thân phận mà vẫn không tịch, vẫn sống trong nhân gian, tức là giả trất, chẳng thật! Các đồng học học Phật chúng ta phải hiểu điều này, sẽ chẳng bị kẻ khác lường gạt! Kẻ đó nói hắn là Bồ tát hay Phật sống nào đó tái lai, nói xong vẫn chẳng tịch, vậy thì mục đích của hắn là gì ta có thể đoán ra được, vẫn là tham cầu tiếng tăm, lợi dưỡng. Nói rồi bèn tịch thì là thật, chẳng giả tí nào! Do vậy, từ đó trở đi, người ta đặt tượng lão nhân gia ở ngay sơn môn, khiến cho hết thảy chúng sinh hễ bước vào sơn môn sẽ thấy vị đầu tiên là Ngài. Vì sao? Đấy là như kinh đã dạy: “Chúng sinh kiến giả, tức đắc Từ Tâm Tam-Muội” (Chúng sinh trông thấy liền đắc Từ Tâm Tam-Muội). Biểu thị pháp ấy, khiến cho hết thảy chúng sinh hễ bước vào cửa Phật, thấy Ngài đầu tiên, tâm từ bi sẽ sinh khởi. Quý vị thấy Bồ tát hoan hỷ dường ấy, vẻ mặt tràn đầy vẻ tươi cười, bụng to đùng, tượng trưng điều gì? Có thể bao dung. Chớ nên so đo với bất cứ ai, mà có thể bao dung, có thể rộng lòng tha thứ, có thể xử sự, đãi người, tiếp vật bằng đại từ đại bi, biểu thị những ý nghĩa này. Do vậy, đây là giáo dục, là lên lớp.

Đã nói tới Thiên Vương Điện, chúng tôi cũng tiện dịp giới thiệu đôi chút về ý nghĩa biểu pháp của Tứ Đại Thiên Vương. Họ hộ trì Phật pháp, chớ nên không biết họ hộ trì chúng ta ra sao! Họ hộ trì bằng cách chỉ dạy chúng ta hộ trì chính mình như thế nào, tức là hộ trì thân tâm của chính mình. Có thể hộ trì thân tâm của chính mình, hạng người như thế được gọi là “biết yêu thương chính mình”. Yêu mình thì có thể yêu người; chẳng yêu thương chính mình, làm sao có thể yêu thương người khác, há có lẽ ấy? Tứ Đại Thiên Vương tượng trưng cho sự yêu thương chính mình. Họ được chia thành 4 vị thiên vương Đông, Nam, Tây, Bắc:

1) Đông Phương Thiên Vương có danh hiệu là Trì Quốc (Hộ Quốc thiên vương, Dhrtarāstra, Đề Đầu Lại Tra). Ý nghĩa Hộ Quốc được mở rộng thành hộ trì chính mình, hộ trì gia đình, hộ trì dòng họ, hộ trì láng giềng làng xóm, hộ trì xã hội, hộ trì quốc gia, hộ trì dân tộc, hộ trì toàn thể thế giới. Quý vị phải hiểu ý nghĩa này.

Cần phải lưu ý một chuyện trọng yếu nhất trong hộ quốc. Người xưa đã dạy chúng ta đạo Trung dung. Điều kiện trọng yếu nhất là phải biết sử dụng Trung, chớ nên thái quá mà cũng đừng bất cập sẽ đạt đến chỗ tốt đẹp. Đó chính là tốt lành nhất, “chỉ ư chí thiện”. Tiêu chuẩn của Trung là gì? Trong Phật pháp, Trung được hiểu sâu hay cạn khác nhau, quá nhiều. Sách Trung Dung[1] trong Tứ Thư của triết học Trung Quốc giảng về Trung, trong ấy thánh hiền đã giảng về tiêu chuẩn của Trung.

Danh hiệu của thiên vương khiến chúng ta hiểu Ngài biểu thị ý nghĩa nào. Tay Ngài cầm đàn tỳ bà. Tỳ bà là nhạc khí, không phải là nói vị thiên vương này thích ca hát, không phải là ý nghĩa ấy! Đàn tỳ bà biểu thị Trung đạo. Nhạc khí sử dụng dây, thì dây đàn không thể rất căng, quá căng sẽ bị đứt, cũng chẳng thể quá chùng, quá chùng sẽ không phát ra tiếng, phải điều chỉnh thích đáng, phù hợp, âm sắc sẽ hay đẹp, man0g ý nghĩa ấy! Quý vị phải điều chỉnh sao cho thích đáng, vừa phải.

Trong Đại thừa Phật pháp, Trung được gọi là Trung Đạo Đệ Nhất Nghĩa Đế, biểu thị ý nghĩa ấy. Ai có thể hành Trung Đạo Đệ Nhất Nghĩa Đế? Chư Phật Như Lai, Pháp thân Đại sĩ, còn Phật và Bồ tát thuộc trong mười pháp giới vẫn chưa làm được. Quý vị phải hiểu Trung, chẳng lệch, chẳng tà mới là Trung. Người ở trong lục đạo chẳng làm được. Vì sao? Họ có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Vọng tưởng, phân biệt, chấp trước là lệch lạc, tà vạy, chẳng phải là chánh. Trung và Chính có ý nghĩa giống nhau.

Trung đạo được hành trong Tứ thánh pháp giới là tương tự, chưa thật. Vì sao? Đã đoạn phân biệt và chấp trước, nhưng chưa hết vọng tưởng, vẫn còn có khởi tâm động niệm, nên chẳng phải là Trung, Chính thật sự. Nhất định phải đạt đến minh tâm kiến tính, trong cảnh giới lục trần, lục căn thật sự làm được “chẳng khởi tâm, không động niệm”, đấy mới là thật sự đạt được Trung, Chánh. Đó là tiêu chuẩn cao nhất của Trung đạo. Pháp thân Bồ tát chứng đắc, chứng đắc bèn vượt thoát mười pháp giới, chứ không phải chỉ là lục đạo. Hộ Quốc thiên vương biểu thị ý nghĩa này. Chúng ta thấy tượng Hộ Quốc thiên vương bèn hiểu ý nghĩa biểu thị pháp, xử sự, đãi người, tiếp vật phải hành Trung đạo, chẳng lệch lạc, chẳng tà vạy, mang ý nghĩa này.

2) Nam Phương Thiên Vương có đức hiệu là Tăng Trưởng (Virūdhaka, Tỳ Lâu Lặc Xoa). Danh hiệu của Ngài là Tăng Trưởng. Tăng Trưởng có nghĩa là không ngừng tiến lên, tiến bộ, mong cầu tiến bộ! Người xưa đã dạy: “Cẩu nhật tân, nhật nhật tân” (Ngày một mới, mỗi ngày một mới mẻ hơn), chính là ý nghĩa này. Nói theo Phật pháp sẽ là Tinh Tấn Ba La Mật. Tinh tấn là trọn chẳng thoái chuyển, mang ý nghĩa này.

Tay Ngài cầm kiếm, tức bảo kiếm. Bảo kiếm tượng trưng trí tuệ. Chỉ có trí tuệ mới có thể thật sự giúp cho chúng ta tiến bộ, tiến bộ nhưng không để lại hậu quả. Tại Ấn Độ vào thời cổ và tại Trung Quốc xa xưa, tông chỉ giáo dục có mục tiêu chung cực là cầu trí tuệ. Phật pháp sau khi truyền đến Trung Quốc đã thúc đẩy Nho và Đạo đều theo đuổi trí tuệ. Trí tuệ do đâu mà có? Kinh điển cho chúng ta biết: Tự tính của chúng ta vốn trọn đủ trí tuệ. Trong kinh Hoa Nghiêm, đức Phật dạy: “Hết thảy chúng sinh đều có trí tuệ và đức tướng của Như Lai”, nói rất rõ ràng, rất rành mạch. Nói “Như Lai” là nói tới tự tính, chẳng phải là ai khác. Trong tự tính của chúng ta có trí tuệ viên mãn, đức năng viên mãn, nay chúng ta nói là năng lực, năng lực kỹ thuật. Hiện thời, người bình phàm chúng ta gọi “tướng hảo” là phúc báo, không có gì chẳng viên mãn. Nay vì sao chúng ta có sai biệt? Chúng ta so với Phật và Pháp thân Bồ tát khác biệt một trời một vực. Vì sao vậy? Đức Phật dạy: “Chỉ vì vọng tưởng, chấp trước, nên không thể chứng đắc”. Câu này đã nói toạc ra. Thật vậy, chúng ta có vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, nên trí tuệ và đức tướng sẵn có trong tự tính chẳng thể hiện tiền, chúng bị những thứ ấy chướng ngại.

Do đó, đức Phật dạy chúng ta 3 phương pháp nhằm phá 3 thứ chướng ngại ấy. Ngài dạy Giới. Nếu trì giới, thanh tịnh sẽ phá được Kiến Tư phiền não. Kiến Tư phiền não là chấp trước, có thể phá chấp trước, khôi phục tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh hiện tiền. Tâm thanh tịnh là bản tâm. Tâm thanh tịnh là phúc báo.

Chư vị phải ghi nhớ, chúng ta mong cầu phúc thì: Tâm chẳng thanh tịnh sẽ chẳng có phúc; tâm đã thanh tịnh, phúc báo bèn hiện tiền. Thật đấy, chẳng giả đâu! Có phúc sẽ có địa vị và của cải trong xã hội; nếu tâm không thanh tịnh, phúc ấy là giả, chẳng thật. Có địa vị và của cải mà tâm thanh tịnh, phúc đó là thật, người ấy thật sự hưởng phúc.

Thứ hai là dạy chúng ta tu định. Tu định có thể phá Trần Sa phiền não, tức là phân biệt. Đạt được gì? Được bình đẳng. Đấy là như kinh Vô Lượng Thọ đã nói “Thanh tịnh, Bình đẳng, Giác”, đạt được bình đẳng. Tâm bình đẳng hiện tiền. Bình đẳng là đại định, chẳng nổi sóng gió. Bình lặng rồi, đấy là cảnh giới của Bồ tát, đã tiến cao hơn.

Cuối cùng đức Phật dạy chúng ta giác, chính giác, giác chứ không mê. Giác có thể phá căn bản vô minh, thành Phật, trở về tự tính. Đức Phật dạy chúng ta 3 phương pháp Giới - Định - Tuệ. Vì vậy, trong kinh Phật thường nói: “Cần tu Giới, Định, Tuệ, tức diệt tham, sân, si” (Siêng tu Giới, Định, Tuệ, dứt bặt tham, sân, si). Thứ nghiêm trọng nhất trong Tham là chấp trước, thứ nghiêm trọng nhất trong Sân là phân biệt, thứ nghiêm trọng nhất trong Si là vọng tưởng. Đức Phật dạy chúng ta phương pháp phá 3 thứ chướng ngại ấy, trí tuệ và đức năng sẵn có trong tự tính của chúng ta đều hiện tiền, chẳng phải là hướng ra ngoài để cầu.

Do vậy, Phật pháp được gọi là Nội học, kinh Phật được gọi là Nội điển, chẳng hướng ra ngoài cầu mà cầu từ bên trong là trí tuệ, hướng ra ngoài để cầu bèn là tri thức. Tri thức và trí tuệ là 2 chuyện khác hẳn nhau. Giáo dục của người phương Tây nhằm cầu tri thức, chẳng phải là cầu trí tuệ. Trí tuệ do Giới, Định, Tuệ mà có, còn tri thức thật sự là từ tâm ý thức của chúng ta. Chúng ta dụng tâm nghiên cứu, làm như vậy càng chẳng ăn khớp với Giới, Định, Tuệ, trong ấy chẳng có Giới, Định, Tuệ. Giáo dục phương Đông coi trọng Giới, Định, Tuệ, đặc biệt là Phật giáo.

Sau khi Phật giáo truyền đến Trung Quốc, đúng như Tiến sĩ Thang Ân Tỷ (Toynbee) đã nói, nó đã phong phú hóa nền văn hóa bản địa của Trung Quốc. Nho gia coi trọng Giới, Định, Tuệ. Đạo gia cũng xem trọng Giới, Định, Tuệ, tăng trưởng mà! Nâng cao Giới, Định, Tuệ, đó là tăng trưởng. Giới, Định, Tuệ thúc đẩy hết thảy tiến bộ trong xã hội. Giới, Định, Tuệ cũng có thể thúc đẩy quý vị thăng quan, phát tài, nó là chính đáng, chẳng để lại hậu quả, cao minh hơn phương Tây nhiều.

Ở phương Tây, tri thức, khoa học, kỹ thuật phát triển, đến hiện thời chúng ta có thể thấy, chẳng qua là 300 năm, chúng ta thấy gì? Thấy ngày tàn của thế giới. Vì vậy, hiện thời họ cũng dần dần giác ngộ, học theo phương Đông, học tập Ấn Độ. Trong mấy năm gần đây, họ tìm cầu hóa giải xung đột, khôi phục sự an định trong xã hội và thế giới, chung sống hòa bình. Họ chẳng làm được điều này, khiến cho xã hội rối loạn, địa cầu bị tổn hại.

Địa cầu đã bị tổn hại, theo họ nói, tức theo lời các nhà khoa học, hiện thời địa cầu triển khai sự trả thù đối với nhân loại, sự trả thù ấy chính là tai nạn. Vì sao? Các nhà lượng tử học hiện đại đã biết, hết thảy tất cả hiện tượng vật chất, giống như vi trần được nói tới trong kinh Phật. Một hạt vi trần là vật chất, nó có Thọ, Tưởng, Hành, Thức, có thể thấy, nghe, hiểu ý nghĩ, ý niệm, hành vi của con người. Nó có ưa, ghét. Ngôn hạnh của con người tốt đẹp, nó sẽ ưa  chuộng. Tâm hạnh của con người tạo ác, nó sẽ chán ghét, chẳng phải là vô tri. Do vậy, trong Phật pháp nói vạn sự vạn vật trong toàn bộ vũ trụ đều là thể hữu cơ, sống động, chẳng chết cứng! Hiện thời, các nhà khoa học lượng tử phát hiện điều này. là thật, chẳng giả.

Hiện nay, tư tưởng và hành vi của loài người chúng ta có lỗi với địa cầu! Phá hoại sự cân bằng sinh thái tự nhiên, phạm lỗi với nó, nó phải báo thù. Có thể hóa giải tai nạn hay không? Các nhà lượng tử học nói “có thể”. Phật pháp cũng giống như vậy, cũng có cách nói như thế. Chúng ta chỉ cần thay đổi tâm thái, nhận biết chân tướng của hiện tượng tự nhiên, điều chỉnh tâm thái của chính mình, vứt bỏ tham, sân, si, mạn, đoạn hết thảy ác, tu hết thảy thiện.

Hết thảy vạn vật ưa chuộng thiện pháp, chúng ta tìm lại 12 từ “hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ, nhân, ái, hòa, bình” của cổ thánh tiên hiền. Khởi tâm, động niệm, ngôn ngữ, tạo tác đều tương ứng với đức hạnh, xã hội sẽ hòa hài, chẳng có tai nạn. Vì sao? Cảnh chuyển theo tâm. “Cảnh” là hoàn cảnh. Đối với đại hoàn cảnh của chúng ta, địa cầu là đại hoàn cảnh, vô lượng vô biên tinh hệ trong không gian cũng là đại hoàn cảnh của chúng ta. Khoa học gia đã đưa cảnh cáo nghiêm trọng nhất, năm 2012, Ngân hà thẳng hàng, người Maya đã tính như vậy. Chúng tôi thấy có một tài liệu tức là bài phát biểu của Tổng cục Vũ trụ của Mỹ tuyên bố chuyện Ngân hà thẳng hàng là có thật, nhưng họ nói không phải là năm 2012, mà là năm 2013, sai khác một năm. Chúng ta có thể hóa giải tai nạn này hay không? Có thể! Vì sao? Trong hoàn cảnh cư trụ, tâm chúng ta chính đáng, không chỉ địa cầu chẳng có tai nạn, mà các tai nạn trong các tinh hệ (hệ thống tinh tú) thuộc vũ trụ cũng có thể hóa giải. Người thâm nhập Đại thừa biết như vậy, có tín tâm, chẳng hoài nghi tí nào!

Trong quá khứ, đã từng có người bảo cho tôi biết, hy vọng người học Phật chúng ta sẽ nghiêm túc, nỗ lực tu học, thay đổi quỹ đạo của các tinh hệ trong vũ trụ. Lúc đó, tôi nghe xong, hết sức ngơ ngác, há có loại năng lực ấy? Phật, Bồ tát cũng làm không được, lẽ đâu chúng ta có năng lực như vậy? Học kinh Hoa Nghiêm, học bộ Vọng Tận Hoàn Nguyên Quán của Hiền Thủ Đại sư, chúng tôi hoát nhiên đại ngộ “thật sự có loại năng lực ấy”. Các nhà khoa học cận đại đã phát hiện ý niệm có năng lượng chẳng thể nghĩ bàn. Chẳng có bất cứ năng lượng nào có thể sánh bằng năng lượng sinh bởi ý niệm, nhưng trong kinh điển, chúng ta thường đọc thấy điều gì? Không thể liễu giải thấu triệt ý nghĩa của nó.

Quý vị thấy trong kinh Phật, từ lúc mới học Phật, chúng ta đã đọc đến rồi, vũ trụ sinh ra như thế nào? “Duy tâm sở hiện, duy thức sở biến”. Đều đọc nhuyễn nhừ cả rồi, nhưng ý nghĩa thật sự được bao hàm trong câu nói ấy chẳng biết; vì vậy, chẳng thể sử dụng được, vẫn mê trong cảnh giới y như cũ, chẳng biết chân tướng sự thật của cảnh giới, không biết thật tướng của các pháp, rất oan uổng, rất đáng tiếc! Trời cao đã cho chúng tôi sống thọ, chúng tôi rất cảm kích! Nếu tôi chết từ 5 năm trước, sẽ chẳng biết đến chuyện này. Tôi thật sự biết là đã đọc đến nằm lòng rồi, nhưng chẳng thấu triệt, chẳng thật sự hiểu, chẳng dùng được! Thật sự hiểu, vận dụng được, ứng dụng điều ấy vào đời sống, công việc, xử sự, đãi người, tiếp vật, học sống động, dùng sống động, tức là quý vị đã thật sự học được! Sách Hoàn Nguyên Quán giảng rõ ràng, minh bạch, lại còn đọc các báo cáo khoa học hiện thời, đối chiếu những điều này, tín tâm của chúng tôi mười phần đầy đủ. Các khoa học gia đã phát hiện, tuy phát hiện, họ chẳng nói rõ ràng và thấu triệt như trong Phật pháp.

Do vậy, chúng tôi nghĩ, tiên sinh Phương Đông Mỹ giới thiệu Phật pháp với tôi, bảo tôi: “Triết học trong kinh Phật là đỉnh cao nhất trong triết học toàn thế giới”. Lão nhân gia giới thiệu điều này với tôi. Nay tôi nhận thấy, không chỉ là đỉnh cao nhất trong triết học toàn thế giới, mà đồng thời cũng là đỉnh cao nhất của khoa học toàn thế giới. Ngày nay, có những vấn đề mà khoa học chưa thể giải quyết, nhưng Đại thừa Phật pháp đã giải quyết toàn bộ!

Quý vị nghĩ xem, các nhà khoa học biết chuyện Ngân hà xếp thẳng hàng, nhưng bó tay không có cách giải quyết! Phật pháp biết có biện pháp để thay đổi nó. Vì sao? Toàn thể vũ trụ do tâm hiện, thức biến, ta muốn sửa đổi một chút khuyết điểm chẳng phải là chuyện thực hiện dễ dàng ư? Ta có thể sáng tạo nó, lẽ đâu chẳng thể thay đổi nó? Phải tin tưởng chuyện này! Trong Tịnh Độ tông nói tới Tín, Nguyện, Hành, tuyệt đối tin tưởng, chẳng có mảy may hoài nghi nào. Sức của một người chúng ta chẳng đủ! Đúng vậy, lời này có lý lắm, chẳng phải là vô lý! Nếu nay chúng ta thật sự chứng đắc địa vị Pháp thân Bồ tát thì được, chúng ta có năng lực, một người là được rồi!

Chắc sẽ có người hỏi, chư Phật Như Lai rất nhiều, Pháp thân Bồ tát càng nhiều hơn nữa, vì sao các Ngài chẳng sử dụng thần thông và pháp thuật để hóa giải tai nạn cho chúng ta? Nếu các Ngài chẳng hóa giải tai nạn, từ bi ở chỗ nào? Chúng ta hỏi, Phật, Bồ tát sẽ bảo: “Tâm, Phật, chúng sinh, 3 thứ chẳng sai biệt”. Tâm, Phật, chúng sinh có sức mạnh bình đẳng. Nghiệp này do chúng ta tự làm, tự chịu. Quý vị tạo tội nghiệp, thì người khác sẽ chẳng thể chịu thay. Quý vị gây ra sai sót này, thì chính mình phải bù đắp, hóa giải. Phật, Bồ tát chẳng thể hóa giải giùm quý vị. Phật, Bồ tát nói cho quý vị biết lý luận và phương pháp hóa giải. Quý vị phải hiểu rõ lý luận, nương theo phương pháp ấy, sẽ thật sự có thể hóa giải vấn đề, đó là chính lý.

Sự rối loạn hiện thời do chúng ta gây ra. Trong cảnh giới của Phật, Bồ tát có tai nạn hay không? Không có. Tôi nói với quý vị những câu này đều là lời thật. Trong cảnh giới của các Ngài chẳng có tai nạn, nhưng trong cảnh giới của chúng ta có tai nạn. Trong kinh điển thường nói điều này, mỗi người tự lo chuyện sống chết, mỗi người tự nhận lãnh nghiệp báo. Đã làm sai, đừng sợ, nhất niệm hồi đầu, vấn đề lập tức được giải quyết.

Cổ nhân nói: “Hành hữu bất đắc, phản cầu chư kỷ” (Làm không được, thì hãy quay lại xét mình). Câu này quan trọng lắm! Oán trời, trách người, tội càng thêm tội, không chỉ chẳng thể giải quyết vấn đề, mà còn khiến cho vấn đề càng thêm nghiêm trọng, chỉ có quay lại tự vấn, vấn đề sẽ thật sự được giải quyết. Kẻ khác chẳng có lầm lỗi, thiên nhiên chẳng có lầm lỗi. Vì sao thiên nhiên biến hiện tai nạn nhiều ngần ấy? Do tâm bất thiện của chúng ta cảm vời, chẳng phải là thiên nhiên cố ý. Nó vô tình. Thiên nhiên biến hóa theo lệnh của ai? Nghe theo ý niệm của chúng ta! Ý niệm của chúng ta tốt lành, thiên nhiên trở thành tốt lành. Ý niệm của chúng ta bất thiện, thiên nhiên trở thành bất thiện. Đạo lý là như thế đó. Ý niệm làm chủ tể hết thảy. Ý niệm thay đổi hết thảy. Quý vị bắt thiên nhiên trở thành thiện hay ác đều do ý niệm. Ý niệm của Phật là thanh tịnh, bình đẳng, giác, nên trong cảnh giới của Ngài không có tai nạn. Ý nghĩa biểu thị pháp của Tăng Trưởng Thiên Vương rất sâu, rất rộng, chúng ta phải nghiêm túc học tập. Giới, Định, Tuệ trọng yếu hơn bất cứ gì khác, do Giới đắc Định, do Định đắc Tuệ.

3) Vị thiên vương thứ ba là Quảng Mục Thiên Vương (Virūpāksa, Tỳ Lâu Bác Xoa) ở phương Tây. Phương Tây và phương Bắc nhắc nhở chúng ta tâm thái tu học. Chúng ta phải làm như thế nào để thật sự đạt được trí tuệ? Vì mấu chốt của toàn bộ chính là trí tuệ, mục tiêu là hộ quốc. Có trí tuệ, thì mới có thể hộ quốc. Thiếu trí tuệ sẽ chẳng thể hộ quốc. Hộ quốc là đại nguyện, tăng trưởng trí tuệ là đại đức, đại năng. Cầu bằng cách nào? Đa văn, quảng học đa văn, thành tựu trí tuệ chân thật.

Ở đây, coi trọng Hậu đắc trí, không gì chẳng biết, quý vị đạt được quảng học đa văn. Quý vị thấy đạo cụ do Ngài cầm trên tay: Một tay cầm rồng hoặc rắn. Rồng và rắn tượng trưng cho lắm nỗi thay đổi. Quan hệ giữa con người lắm nỗi thay đổi, xã hội lắm chuyện thay đổi, vạn vật có nhiều điều thay đổi, thiên biến vạn hóa. Tay kia cầm một viên châu. Châu biểu thị điều gì? Biểu thị “chẳng thay đổi”. Trong nhiều nỗi thay đổi, quý vị nắm giữ sự chẳng thay đổi. Thường thay đổi là Sự, chẳng thay đổi là Lý, thường biến đổi là Tướng, chẳng biến đổi là Tánh. Cũng có thể nói quý vị dùng “thanh tịnh, bình đẳng, giác”, vĩnh hằng chẳng thay đổi để quan sát thế giới này và vũ trụ, trí tuệ bèn hiện tiền, biết dùng phương pháp gì để an định xã hội này. Thật sự lưu lộ lòng từ bi viên mãn vốn có trong tự tính, giúp đỡ hết thảy chúng sinh khổ nạn lìa khổ, được vui, phá mê, khai ngộ.

Giúp đỡ họ lìa khổ được vui như thế nào? Chẳng phải là người ta không có tiền bèn cho tiền, họ không có ăn bèn cho ăn, kẻ ấy không có cái mặc bèn cho quần áo. Từ bi cứu tế như thế là nhỏ nhoi, nhỏ bé nhất! Phật là đại từ đại bi. Đức Phật dùng phương pháp gì để giúp đỡ hết thảy chúng sinh trong thế gian và xuất thế gian? Giáo học! Phải hiểu đạo lý này! Vì sao? Khổ do đâu mà có? Khổ do mê mà có, quý vị chẳng liễu giải thật tướng của các pháp (tức chân tướng của vạn pháp trong vũ trụ), đã mê rồi. Do mê nên quý vị suy nghĩ loạn xạ, làm càn, làm quấy, tạo đủ mọi điều bất thiện, chống trái pháp tắc trong thiên nhiên, phá hoại quy luật thiên nhiên, khiến cho hết thảy bị mất cân bằng, tai nạn bèn xảy ra. Vốn không có tai nạn, chúng ta chưa hề nghe nói thế giới Cực Lạc có tai nạn, cũng chẳng hề nghe nói thế giới Hoa Tạng có tai nạn. Cõi Trời có tai nạn thì có nghe nói, chứ đối với nơi Phật, Bồ tát ngự, chưa hề nghe nói có tai nạn. Do nguyên nhân nào? Mỗi ngày đều là giáo học, mỗi ngày đều lên lớp. Đạo lý ở chỗ này, chúng ta chớ nên không biết.

Chư Phật, Bồ tát xuất hiện trên thế gian, có vị nào chẳng giáo học? Phật Thích Ca Mâu Ni đã nêu gương cho chúng ta, 19 tuổi xuất gia, tham học; 30 tuổi thành đạo, học xong trong 12 năm. Sau khi thành đạo, trong Phật pháp nói là “đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tính” vào lúc 30 tuổi. Sau khi kiến tính bắt đầu giáo học, mãi cho đến khi già chết, lão nhân gia 79 tuổi viên tịch.

Do vậy, kinh chép suốt đời đức Phật “giảngkinhhơn300hội,thuyếtpháp49năm”. Mọi người đều biết rõ chuyện này. Phật giáo có phải là tôn giáo? Chẳng phải! Phật giáo là giáo dục. Chúng ta thấy rõ ràng thân phận của Phật Thích Ca Mâu Ni, suốt đời dạy học, mang chức nghiệp của một vị thầy, chẳng bỏ sót ngày nào. Lão nhân gia đúng là thân hành, ngôn giáo. Những gì Ngài dạy người khác, Ngài đều thực hiện toàn bộ, đó là một vị thầy tốt. “Học vi nhân sư, hành vi thế phạm” (Học được làm thầy người, hạnh làm khuôn mẫu cho đời). 8 từ ấy, Phật Thích Ca Mâu Ni thực hiện 100%, thực hiện viên mãn. Chúng ta phải nhận thức điều này.

Ngài dạy học nhưng chẳng mở trường, không tạo lập cơ sở vật chất. Dạy học ở chỗ nào? Phần lớn thời gian là trong núi rừng, dưới gốc cây, bên bờ nước, nơi phong cảnh tốt đẹp. Thầy ngồi dưới gốc cây, trò cũng ngồi dưới cội cây, các Ngài chọn lựa những nơi ấy, học ngoài trời! Suốt đời Ngài chẳng xây cất, chúng tôi thường nghĩ vì sao? Ngài muốn dựng đại đạo tràng thật là chuyện dễ dàng! Gia đình, gia tộc đức Phật là vương tộc, đủ sức để dựng đạo tràng cho Ngài. Kinh điển ghi chép, thuở ấy ở Ấn Độ, vua 16 nước lớn, chẳng nhắc tới những vua nước nhỏ, 16 vị đại quốc vương đều là đệ tử Thích Ca Mâu Ni Phật. Ngài muốn tạo dựng một đạo tràng, chẳng phải là chuyện dễ dàng ư? Chỉ cần nói một chút, chẳng cần tốn sức nghĩ ngợi, đạo tràng bèn thành tựu, nhưng Ngài chẳng dựng. Vì sao? Đại từ đại bi, thể hiện lòng từ bi khôn sánh. Có đạo tràng sẽ có kẻ tranh chấp, người đến học tập tâm chẳng thanh tịnh, chẳng thể nói là toàn thể, nhưng trong ấy nhất định có kẻ tâm chẳng thanh tịnh toan khống chế, chiếm hữu đạo tràng ấy! Vì vậy, Phật Thích Ca Mâu Ni không làm chuyện này, từ bi đến tột bậc. Một kẻ có ác niệm, Ngài đều ngăn chặn hắn.

Phương thức sống là mỗi ngày ăn một bữa, đêm nghỉ dưới cội cây, đoạn sạch sành sanh tham, sân, si, mạn, nghi, tâm đặt nơi Trung đạo đệ nhất nghĩa. Học trò Phật chẳng ít, chúng ta dựa theo tưởng tượng, sách vở cổ điển của Trung Quốc ghi chép đệ tử của Khổng Tử là 3.000 người, trong số đó có 72 người hiền (Thất thập nhị hiền). Tôi tin Phật Thích Ca Mâu Ni chẳng kém Khổng Tử, kinh điển thường ghi chép 1.255 người, những vị ấy tương đương với thất thập nhị hiền của Khổng Tử. Phật Thích Ca Mâu Ni có hơn 1.000 vị hiền nhân. Mỗi buổi giảng, mọi người tới tham gia, chẳng phải là những người thường tiếp xúc đức Phật, ở đây không ghi chép, chỉ nói là đại chúng rất đông. Tôi nghĩ đại chúng sẽ chẳng ít hơn 1.500 người, gộp thành 3.000 người.

Chúng ta thấy kinh này nói tỳ-kheo tăng đến hai vạn (20.000) người, chuyện này rất ít được nói tới. Chúng ta thấy trong hội Pháp Hoa và hội Vô Lượng Thọ, người tham dự rất đông. Do vậy, từ chỗ này ta có thể nhận biết: Đức Phật dạy học cả đời, học trò đông ngần ấy, nhưng chẳng có tổ chức, đức Phật chẳng chia thành mấy lớp, người nào thuộc lớp nào, mời ai làm trưởng lớp nào. Nếu thuở ấy mà có, kinh điển nhất định ghi chép, bởi đây là đại sự lẽ nào chẳng ghi chép. Thầy chỉ có một, học trò đông đúc, các học trò ưu tú bèn giúp đỡ những học trò căn tính kém cỏi hơn một chút, đều là tự động, tự phát, đều là người một nhà, đệ tử cùng một thầy, các đệ tử ở cùng nhau giống như anh em trai, chị em gái. Đây là nói tới luân lý trong Phật pháp, không chỉ là đem kinh điển dạy chúng ta, mà quý vị thấy Ngài nêu gương cho chúng ta xem, ai nấy đều thi hành Lục Hòa Kính. Chúng tôi thường nghĩ thuở Phật Đà tại thế, thầy dạy mỗi ngày, trò học tập mỗi ngày. Thiên vương phương Tây tượng trưng cho chuyện này. Ý nghĩa ấy quá sâu!

4) Thiên vương ở phương Bắc là Đa Văn (Vaiśravana, Tỳ Sa Môn). Tây Phương Quảng Mục, Bắc Phương Đa Văn, xem nhiều, nghe nhiều. Bắc Phương Thiên Vương tay cầm lọng. Lọng có dụng ý ngăn ngừa ô nhiễm. Hiện thời, trong xã hội đề xướng “hoàn bảo” (bảo vệ môi trường). Lọng tượng trưng cho sự bảo vệ môi trường, dẫn khởi ý nghĩa ngăn ngừa ô nhiễm thân tâm. Quý vị thấy: Xem nhiều, nghe nhiều, ngăn ngừa ô nhiễm, khôi phục thanh tịnh, bình đẳng, giác, thật sự bảo vệ chính mình. Ngài dạy chúng ta bảo vệ chính mình ra sao. Đó chính là hình tượng được tạc của Tứ Đại Thiên Vương. Danh hiệu gia trì công đức của chúng ta, quý vị phải hiểu điều này.

Họ dùng gì để che chở quý vị? Dùng danh hiệu này, dùng hình tượng của 4 vị thiên vương để biểu thị ý nghĩa này. Quý vị đã thật sự hiểu rõ, sẽ biết trong cuộc sống hằng ngày, xử sự, đãi người, tiếp vật, tuân thủ những nguyên lý và nguyên tắc ấy, sẽ đạt được thân tâm an định, đạt được thanh tịnh, bình đẳng. Đó là gia trì thật sự. Chẳng phải là thắp hương, lễ bái, dập đầu cầu nguyện, xin các Ngài phù hộ cho con, như thế là mê tín. Mê tín thì làm sao có thể truyền được 2.500 năm? Nhưng hiện thời đúng là mê tín, vốn là trí tuệ, nay biến thành mê tín. Trí tuệ có thể truyền 2.500 năm; mê tín thì sợ rằng 25 năm cũng chẳng truyền được. Thật đấy, chẳng giả đâu!

2 tháng trước, vào tháng Sáu, chúng tôi theo đoàn phỏng vấn tôn giáo của Mã Lai đến thăm Vatican ở La Mã, gặp gỡ Giáo hoàng. Hồng Y Giáo chủ Đào Nhiên (Jean-Louis Tauran) thuộc Tòa Thánh cùng chúng tôi trao đổi, nghe ông ta báo cáo. Ông ta cho chúng tôi biết: Trong xã hội hiện thời, người tín ngưỡng, tôn giáo mỗi năm một ít đi. Họ có thống kê, người chịu lễ rửa tội mỗi năm một ít hơn.

Trong nhà Phật gọi là quy y, tức là người quy y đạo Thiên Chúa mỗi năm một ít hơn. Theo lập trường của một giáo sĩ, họ rất lo ngại, cứ như vậy, tôn giáo sẽ dần dần biến mất trên địa cầu. Lần lượt đến phiên tôi trình bày, tôi cũng tha thiết thưa với mọi người, vì sao lúc các vị giáo chủ sáng lập tôn giáo thuở ấy, cũng như thời các vị cổ thánh tiên hiền kế thừa truyền thống, một mực kéo dài mấy ngàn năm cho đến hiện thời là do nguyên nhân nào?

Hiện thời, chúng ta gặp gỡ quần chúng, quần chúng bỏ rơi, rời khỏi chúng ta. Trong quá khứ, giáo chủ, tổ sư đại đức truyền giáo ở nơi đâu, tín chúng từ phương xa tụ hội đến. Nay, chúng ta ở đây họ bèn bỏ đi, do nguyên nhân nào? Chúng ta suy nghĩ vào thời đại của Phật Thích Ca Mâu Ni là giáo học, một nền giáo dục tốt đẹp như vậy, người ta nghe thấy bèn hoan hỷ, nên người ta kéo đến. Nay thì sao? Chẳng có giáo học. Rất nhiều tôn giáo ở ngoại quốc lo cầu nguyện, Phật giáo thì lo làm kinh sám Phật sự, pháp hội. Ngay như Tam Thời Hệ Niệm của chúng ta cũng giống như chuyện cầu nguyện của họ, những người trẻ tuổi trong xã hội trông thấy chẳng tin, chê là mê tín. Thôi rồi! Hễ nói đến mê tín, thì còn ai muốn đến nữa? Đương nhiên, ai nấy đều bỏ đi. Đạo lý ở chỗ này!

Chúng ta phải cứu vãn tôn giáo như thế nào? Phải đưa tôn giáo trở về giáo học. Phải biết: Kinh điển chẳng phải để tụng! Vì sao? Thuở Phật Thích Ca Mâu Ni tại thế, Ngài chẳng viết một bộ kinh nào! Kinh điển do đâu mà có? Sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni viên tịch, các đệ tử nhớ lại các giáo huấn của Phật Thích Ca Mâu Ni mà họ đã được tiếp nhận trong một đời, cũng là hội tập, thỉnh tôn giả A Nan nhắc lại, đại chúng cùng nghe, xem A Nan có nói sai hay không. 500 vị A La Hán chứng minh, chép lại thành văn tự lưu truyền hậu thế. Đó là nguồn gốc của kinh điển.

Chúng ta hiểu rõ kinh điển nhằm dạy chúng ta hiểu lý, vâng giữ quy củ, sống như thế nào, dùng tâm thái gì để làm việc, đãi người, tiếp vật, nhằm nâng cao linh tánh của chính mình. Đức Phật dạy chúng ta những điều ấy, chẳng dạy chúng ta niệm kinh, càng chẳng dạy chúng ta siêu độ. Siêu độ là phải đem công đức chân thật của chính mình, đối với xã hội và hết thảy đại chúng dâng hiến công đức chân thật, hồi hướng cho thân nhân của quý vị. Phương pháp siêu độ trong Địa Tạng Bồ tát Bổn Nguyện Kinh là như thế, chẳng có kinh sám Phật sự, nói theo Lý cũng thông suốt. Vì thế, chúng ta chớ nên không biết, chớ nên chẳng giác ngộ điều này.

Chúng ta dạy học mỗi ngày, cùng nhau học tập mỗi ngày, biến các đạo lý được giảng trong kinh điển thành tư tưởng và kiến giải của chúng ta, và cũng biến rất nhiều lời khuyên bảo trong kinh điển thành hành vi trong cuộc sống của chính chúng ta. Kinh điển có cống hiến quá lớn đối với chúng ta. Từ kinh điển, chúng ta học tập cách làm người, biết làm một người tốt, chính mình làm được sẽ ảnh hưởng cả nhà. Nhà chúng ta sẽ là một gia đình thật sự hạnh phúc mỹ mãn. Hạnh phúc mỹ mãn ấy do đức Phật dạy dỗ. Lại mở rộng ra, chúng ta sẽ có xã hội hài hòa, thế giới hòa hợp, đó là cống hiến chân thật của chư Phật, Bồ tát đối với thế giới và nhân loại, chẳng giả tí nào! Phật giáo là như thế, mà các tôn giáo khác cũng đều như thế. Các tôn giáo học tập lẫn nhau, chỉ có học tập lẫn nhau mới có thể nâng cao chính mình, giống như tại Trung Quốc, Nho và Đạo tiếp nhận Phật pháp, học tập kinh điển, nâng cao văn hóa bản địa, có cùng một đạo lý!

Quảng Mục Thiên Vương đã thị hiện ngăn ngừa tạp loạn. Đa Văn Thiên Vương thị hiện ngăn ngừa ô nhiễm. Thiên Vương Điện gồm 4 vị thiên vương và Bồ tát Di Lặc đã ban cho chúng ta bài học thứ nhất. Hết sức đáng tiếc là hiện thời mọi người đã bỏ sót, quên khuấy ý nghĩa này, coi Bồ tát Di Lặc và các thiên vương như thần tiên, đốt hương, lễ bái cầu phúc! Há có chuyện như thế ư? Mười phần mê tín.

Sa sút như vậy, Phật giáo sẽ dần dần bị suy diệt, mà cũng có thể chẳng còn nữa! Phật giáo bị diệt trong đời này của chúng ta, người trong thời đại chúng ta có thể thành tựu hay chăng? Niệm Phật có thể vãng sinh hay chăng? Tôi nghĩ chẳng thể nào, thảy đều vào địa ngục. Vị thầy tốt như thế, nhưng quý vị làm cho đại chúng trong xã hội nảy sinh hiểu lầm nghiêm trọng đối với thầy. Quý vị có tội lỗi hay không? Chúng ta làm sao để xứng với thầy? Phương pháp duy nhất là quay đầu. Thật sự quay đầu là bờ, nghiêm  túc học tập kinh giáo, thực hiện trong cuộc sống, nâng cao phẩm chất cuộc sống, cống hiến chân thật. Đấy là mới làm Phật pháp tồn tại lâu dài trong nhân gian. Chính pháp tồn tại dài lâu. Thưa mọi người, trong ấy có giáo dục luân lý, giáo dục đạo đức, giáo dục nhân quả, giáo dục triết học, giáo dục khoa học viên mãn. Những gì đại chúng trên thế gian đang theo đuổi trong hiện thời, trong kinh Phật đều có cả, đó là lòng đại từ đại bi chân chánh. Vì thế, chúng sinh hễ trông thấy, nghe tên đều đắc Từ Tâm Tam-Muội.

Tiếp theo là “Hựu Bi Hoa kinh vân: Phát nguyện ư đao binh kiếp trung, ủng hộ chúng sinh” (Lại nữa, kinh Bi Hoa nói: “Phát nguyện ủng hộ chúng sinh trong kiếp đao binh”). Nay, chúng tôi đọc câu này, cảm xúc thật sâu! Trong nhiều tiên đoán về sự ngày tận thế, có một tiên đoán hầu như mọi người đều nhắc tới, chiến tranh thế giới lần thứ ba là vũ khí nguyên tử, hoặc chiến tranh sinh hóa, chúng là đại tai nạn hủy diệt địa cầu. Bồ tát Di Lặc phát nguyện trong kiếp đao binh, tức là nói về thời đại này, Ngài sẽ đến ủng hộ chúng sinh. Chúng ta thường nói: Ngài đến che chở, gia trì chúng sinh. Chúng ta mỗi ngày thắp hương, lạy lục Ngài có được hay chăng? Không được, sai lầm rồi, đó là mê tín. Phải nên như thế nào? Phát huy rộng lớn tinh thần đại từ đại bi của Bồ tát Di Lặc. Hiện thời, trong thế gian này chẳng có lòng yêu thương. Bồ tát Di Lặc tượng trưng cho sự yêu thương.

Quý vị nghĩ xem, đại từ đại bi có thể nào chẳng hiếu thuận với cha mẹ ư? Bất hiếu với cha mẹ là thiếu từ bi. Có thể chẳng kính trọng sư trưởng ư? Bất kính sư trưởng là thiếu từ bi. Lòng đại từ đại bi của quý vị thiếu năng lực mở rộng đến xóm giềng làng nước, đến quốc gia, dân tộc, đó chẳng phải là chân ái! Cổ nhân đã nói: “Nhân dân cập vật” (Nhân từ đối với dân và vật). “Nhân” là nhân từ. Đối đãi nhân từ với hết thảy mọi người, tâm yêu thương thanh tịnh, bình đẳng, sau đấy còn mở rộng đến cả loài vật. Đấy là Đại thừa Phật pháp đã phong phú hóa văn hóa truyền thống của Trung Quốc. Vật là gì? “Vật” là vạn vật, tức vạn vật trong trời đất. Tâm yêu thương của chúng ta như Phật pháp đã nói: “Từ bi trọn pháp giới, thiện ý ngập nhân gian”. Đó chẳng phải là khẩu hiệu, mà là thật sự làm được, làm rất viên mãn, làm rất thù thắng. Thật sự có thể làm được, chúng ta mới thật sự bước vào Phật môn, vượt qua Thiên Vương Điện, quý vị mới thấy Phật, Bồ tát. Chẳng vượt được cái ải Thiên Vương Điện sẽ chẳng thấy Phật, Bồ tát. Ý nghĩa này sâu lắm!

Bồ tát Di Lặc là ai? Phải hiểu rõ ràng, Bồ tát Di Lặc là lòng từ bi trong tự tính của chính mình. Phật, Bồ tát từ bi, các Ngài thị hiện hình tướng, ngôn ngữ, âm thanh, nhằm dẫn khởi lòng từ bi trong tự tính của chúng ta. Quý vị thấy: Trong đời quá khứ, Di Lặc gặp Đại Từ Như Lai, nguyện có cùng danh hiệu ấy, thật sự đã đồng. Vì sao? Chứng đắc Từ Tâm Tam-Muội. Từ Tâm Tam-Muội là tâm từ bi vĩnh viễn chẳng thoái chuyển, an trụ trong từ bi, hết thảy thời,  hết thảy chỗ, luôn một lòng từ bi đối với hết thảy chúng sinh, có ý nghĩa này! Bản thân chúng ta đã làm được sẽ cảm động, lan truyền sang người khác. Chẳng thể khiến  người khác cảm động là vì bản thân chúng ta làm chẳng đủ, đừng nên trách người khác là căn tính của họ chậm lụt, hoặc nghiệp chướng nặng nề, chẳng phải vậy. Đó là do chính mình nghiệp chướng nặng nề.

Tánh con người vốn lành, quý vị nhất định phải thừa nhận lời Phật dạy: “Hết thảy chúng sinh đều có trí tuệ và đức tướng của Như Lai”. Từ bi là một phần của đức, là một phần vô cùng trọng yếu, là phần mấu chốt. Phật pháp nói từ bi, trong Ngũ Luân có nói “Phụ tử hữu thân” (Cha con có tình thân ái). Thân ái chính là từ bi. Giáo dục phát xuất từ chỗ này, lại trở về nguồn đúng chỗ này.

Quý vị thấy trong nhà Phật, quý vị bước vào cửa là từ bi, mắt quý vị thấy vị đầu tiên chính là Bồ tát Di Lặc. Quý vị rời khỏi tự viện, vẫn phải từ sơn môn ấy đi ra, quý vị vẫn phải trông thấy Ngài. Từ đầu đến cuối là một bầu từ bi, đấy là Phật pháp. Phật pháp giáo dục điều gì? Giáo dục từ bi, giáo dục yêu thương, lại còn là giáo dục lòng yêu thương thanh tịnh, bình đẳng. Phật giáo chẳng có cống hiến đối với xã hội là vì đệ tử học Phật trong Phật môn chúng ta chẳng thực hiện lòng yêu thương ấy, chẳng nói rõ ràng lòng yêu thương đó. Chẳng nói rõ ràng là lẽ đương nhiên. Vì sao? Chẳng làm được! Có làm được thì quý vị mới có thể nói rõ ràng, làm không được thì làm sao có thể nói rõ ràng cho được? Há có đạo lý ấy? Yêu thương có thể hóa giải xung đột, đối lập, mâu thuẫn, cho nên chẳng còn chiến tranh, có thể hóa giải đao binh kiếp!

Chúng ta xem câu cuối cùng, “Thị tắc từ long tức thế” (Vì thế, lòng từ chan chứa đương thời), đại từ đại bi. Long (隆) là hưng long (興隆: chan chứa, dồi dào). “Tức thế” là hiện tại, đang trong hiện tiền. “Bi trăn hậu kiếp” (Lòng bi đến tận các kiếp sau). “Hậu kiếp” là tương lai. Chúng ta có thể yêu thương, bảo vệ hiện tại, xung đột trong thế gian hiện thời đã được hóa giải, xã hội đã an định, thế giới hòa bình. Không chỉ là hết thảy chúng sinh trong hiện tại được lợi ích, mà đời sau cũng được lợi ích. Chúng ta phải giống như cổ nhân, khéo dạy dỗ thế hệ kế tiếp, điều này trọng yếu lắm! Trong xã hội hiện tại, mọi người không hiểu sự giáo dục, bao nhiêu phụ nữ hoặc người mẹ trẻ tuổi chẳng biết dạy bảo con thơ ra sao! Hiện thời, còn có khá nhiều giáo viên chẳng biết dạy học trò như thế nào! Tôi đã gặp rất nhiều kẻ làm mẹ tìm tôi kể khổ, kẻ làm thầy cũng như vậy! Những chuyện ấy không thể trách họ được. Kinh Vô Lượng Thọ đã nói rất hay: “Tiên nhân vô tri, bất thức đạo đức, vô hữu ngữ giả, thù vô quái dã” (Người đời trước chẳng biết, chẳng hiểu đạo đức, không có ai nói với họ, trọn chẳng đáng trách). Đừng trách móc họ! Quý vị chê trách họ sẽ là tàn nhẫn. Nhân duyên của chuyện này rất phức tạp.

Trung Quốc kể từ sau khi nhà Thanh mất nước, 100 năm qua, xã hội lâm vào cảnh động loạn, chẳng được an định, quân phiệt cát cứ, chiến tranh kháng Nhật. Đặc biệt là cuộc chiến tranh kháng Nhật đã đánh sụp văn hóa truyền thống khiến nó chẳng còn nữa, tối thiểu là chúng ta đã đánh mất văn hóa truyền thống 4 thế hệ. Người hiện thời chẳng biết đến giáo dục truyền thống. Quý vị hỏi cha mẹ, họ cũng chẳng biết. Quý vị hỏi ông bà cố họ cũng không biết. Nói chung là phải ông bà sơ thì họ mới biết, làm sao quý vị trách họ được? Hiện thời muốn phục hưng văn hóa truyền thống nhất định gặp khó khăn.

Cổ nhân nói rất hay: “Gần son ắt đỏ, gần mực thì đen”. Trong xã hội hiện thời, chẳng thấy son đâu nữa, không có, toàn là đen thui. Vì sao? Đại biểu cho màu đen ấy chính là TV, Internet, truyền thông, nhật báo, tạp chí, mỗi cá nhân trên toàn cầu hằng ngày tiếp xúc những thứ ấy. Hễ tiếp xúc bèn bị ô nhiễm. Tiếp xúc mà chẳng bị nhiễm bẩn thì Quảng Mục Thiên Vương làm được, chứ chúng ta chẳng làm được! Quảng Mục Thiên Vương có Định Tâm Châu. Tâm Ngài là định. Thấy rõ ràng, nghe rõ ràng, tâm Ngài chẳng dao động, chẳng biến đổi. Người ta có bản lĩnh to lớn, viên châu của Ngài chính là “thanh tịnh, bình đẳng, giác”. Chúng ta có thể nào chẳng bị nhiễm bẩn ư? Vì thế, con cái bị nhiễm bẩn từ nhỏ, chính mình cũng bị nhiễm bẩn. Quý vị phải biết, bản thân quý vị bị nhiễm bẩn 7 phần, con cái quý vị bị nhiễm bẩn 12 phần, đến thời cháu quý vị chỉ sợ bị trở thành nhiễm bẩn đến 24 phần. Đáng hãi quá! Vì thế, thế giới có thể bị tận thế!

Do đâu có ngày tận thế? Do ý niệm bất thiện cảm ứng. Nguyên nhân là như thế đó. Nếu muốn cứu vãn, đoạn kinh văn này hay lắm, cứu từ chỗ nào? Cứu bằng tâm từ bi, cứu bằng tâm yêu thương. Trước hết, chính mình quay đầu, tự yêu thương. Tự yêu thương nhất định phải học theo Tứ Đại Thiên Vương, phải học theo Bồ tát Di Lặc, thật sự tự yêu thương chính mình. Mắt ta chẳng thể không nhìn, tai chẳng thể không nghe, thật sự giữ gìn sự thanh tịnh, bình đẳng, giác của chính mình như thế nào để chẳng bị xã hội quấy nhiễu, chẳng bị xã hội dẫn dụ, mê hoặc. Đó là quý vị thật sự tự yêu thương. Quý vị đã có thể tự yêu thương, nhất định sẽ cảm động cả nhà, con cái trong nhà quý vị sẽ dễ dạy. Thầy biết tự yêu thương sẽ cảm động học trò, bởi con người tánh vốn lành. Chỉ cần thầy tâm chánh, hạnh chánh, tôi nghĩ học trò cũng hoan hỷ, cũng bằng lòng theo học lớp của quý vị. Cả nhà quý vị tốt đẹp, sẽ ảnh hưởng xóm giềng, ảnh hưởng thân thích, bạn bè. Khiến cho cả thế giới khôi phục như thế nào? Ít nhất phải là 100 năm, phải mất một thế kỷ, thế giới này mới có thể khôi phục bình thường, lại còn phải có nhiều người ngần ấy thật tâm thực hiện. Nếu không có những người ấy thực hiện, sẽ là như chúng ta thường nghe nói trong hiện thời, tận thế! Địa cầu bị hủy diệt. Chúng ta quan sát cẩn thận chuyện này xem có thể xảy ra hay chăng?

Vì vậy, đọc đến chỗ này, “Chí cực chi từ” (Lòng từ tột bậc). Câu này hay lắm, khuyên chúng ta phải phát tâm học tập Bồ tát Di Lặc. Phải học giống hệt như Ngài, “Siêu xuất phàm tiểu, cố Vô năng thắng” (Vượt trội phàm phu, Tiểu thừa, nên không ai có thể hơn được). Vô năng thắng là nói biến đổi bản thân chúng ta, đoạn ác, tu thiện, phá mê, khai ngộ, chuyển phàm thành thánh, khởi điểm là lòng từ đến tột bậc. “Chí cực chi từ”, chẳng khác với khái niệm “Phụ tử hữu thân” trong Ngũ Luân. Hiện thời, giáo học truyền thống bị coi nhẹ, chẳng nhắc tới, chỉ có thiểu số. Rất ít người học tập Đại thừa đọc được điều này trong kinh điển, hiểu minh bạch, rõ ràng, nghiêm túc nỗ lực thực hiện, cứu chính mình, cứu gia đình, cứu con cháu, cứu người đời, cứu địa cầu bằng một câu nói này. Vì thế, nói là Vô năng thắng.

Lại xem đoạn kế tiếp, “Đại sĩ vị cư Bổ Xứ” (Đại sĩ thuộc địa vị Bổ Xứ). Dùng từ đại sĩ để gọi Bồ tát Di Lặc, thật sự có vị này. Ngài thuộc địa vị nào? Ngài là Đẳng Giác Bồ tát, là hậu bổ Phật sau Phật Thích Ca Mâu Ni. Phật Thích Ca là vị Phật thứ 4 trong hiền kiếp. Chúng ta nay thuộc pháp vận của Phật Thích Ca Mâu Ni, cũng có nghĩa là sự giáo hóa của Ngài có ảnh hưởng đến một vạn hai ngàn năm. Theo cách ghi chép của người Trung Quốc, từ khi Phật Thích Ca Mâu Ni diệt độ cho tới hiện thời là 3.037 năm, những vị đại đức trong Phật giáo Trung Quốc từ xưa đều tuân theo cách tính niên đại này.

3.037 năm, sau đấy còn có 9.000 năm nữa, gộp thành một vạn năm. Thời Mạt pháp mới qua 1.000 năm, còn có 9.000 năm sau nữa, tức là sự giáo học của Phật Thích Ca Mâu Ni hãy còn ảnh hưởng tới 9.000 năm. Trong 9.000 năm, đương nhiên có lúc Phật pháp hưng vượng, có lúc suy vi. Trong quá khứ, Chương Gia Đại sư đã nói cho tôi biết chuyện này. Nay, chúng ta đang thuộc giai đoạn Phật pháp suy vi, suy đến tột cùng sẽ hưng vượng trở lại. Thầy bảo tôi, phải có lòng tin nơi Phật, Phật pháp sẽ chẳng diệt vong, cũng có nghĩa là thế giới này chẳng phải sẽ chấm dứt như người ngoại quốc nói. Có tai nạn là thật, nhưng chẳng thể tận thế. Trong nhà Phật chẳng có thuyết tận thế.

Ngài hiện đang ở đâu? “Tại Đâu Suất nội viện”. Bồ tát Di Lặc ở nơi ấy, cõi Trời Đâu suất, tức tầng trời thứ tư trong Dục giới. Từ quả đất của chúng ta tính lên, tầng thứ nhất là Tứ Vương Thiên, tầng thứ hai là Đao Lợi Thiên, tầng thứ ba là Dạ Ma Thiên, tầng thứ tư là Đâu Suất Thiên, Ngài ở trong tầng thứ 4, trên đó còn 2 tầng nữa, đó là Dục giới. Lại lên trên nữa là Sắc giới và Vô sắc giới. Vì vậy, Ngài ngự trong tầng trời thứ 4 trong Dục giới. “Tứ thiên niên hậu” (4.000 năm sau). 4.000 năm là thọ mạng trong cõi Trời Đâu suất. Cụ Hoàng mở dấu ngoặc ở đây, “chỉ Đâu Suất Thiên chi tứ thiên niên” (Chỉ 4.000 năm trong cõi Trời Đâu suất), chẳng phải là 4.000 năm trong nhân gian chúng ta. Thời gian sai khác rất lớn. Vì một ngày trong Đâu Suất Thiên bằng 400 năm trong nhân gian, nên nhân gian sống 100 tuổi, Đâu Suất Thiên thấy nhân gian chúng ta rất đáng thương, tương đương với gì? 6 giờ. 4 lần 6 là 24. 24 giờ, một ngày của họ bằng 400 năm trong nhân gian chúng ta.

“Tương đương ư địa cầu thượng chi ngũ thập thất ức lục thiên vạn niên” (Tương đương năm mươi bảy ức sáu ngàn vạn năm trên địa cầu), cũng có nghĩa là tính theo thời gian trên địa cầu, sau năm mươi bảy ức sáu ngàn vạn năm, Ngài sẽ đến thế gian này thành Phật, tức vị Phật thứ 5. “Hạ sinh thử giới thành Phật” (Hạ sinh thành Phật trong cõi này). Thời gian trong thế gian này không có Phật rất dài! Pháp của Phật Thích Ca Mâu Ni đã suy rồi. Hiện thời học Giáo cũng thế, mà học Thiền cũng thế, học Mật cũng thế. Thật sự vô cùng khó khăn. Lão cư sĩ Hoàng Niệm Tổ bảo với tôi điều này, cụ đích thân học Thiền. Học Thiền với Lão Hòa thượng Hư Vân, theo Cống Cát lão nhân học Mật. Cụ bảo tôi, trong đời cụ, chẳng có ai học Thiền khai ngộ. Đắc định còn được mấy vị, không nhiều lắm. Đắc thiền định nhưng chưa thể khai ngộ. Cụ cho biết kẻ học Mật kể từ khi nước Trung Hoa mới được thành lập cho tới hiện thời, kẻ học Mật có thành tựu tại Trung Quốc Đại Lục chỉ có 6 người, quá ít ỏi! Bản thân cụ niệm Phật vãng sinh. Khi ấy, cụ cho tôi biết, mỗi ngày cụ niệm Phật bèn niệm 14 vạn câu Phật hiệu, ra đi rất thù thắng, thật sự niệm Phật cầu sinh về Tịnh độ. Chúng ta chớ nên không biết những sự thật này.

Trong tương lai, Di Lặc Phật hạ sinh làm Phật, “TamhộiLongHoa,độsinhvô lượng” (3 hội Long Hoa, độ sinh vô lượng). Ngài khác Thích Ca Mâu Ni Phật. Phật Thích Ca Mâu Ni cả đời giảng kinh hơn 300 hội. Trong tương lai, Bồ tát Di Lặc hạ sinh chỉ có 3 hội. Hội của Ngài rất lớn, số người rất nhiều. Hội của Phật Thích Ca Mâu Ni chẳng lớn, có những hội nhỏ chỉ có vài ba người, cũng là một hội. Một hôm hướng về Ngài thỉnh giáo, Ngài bèn thuyết pháp cho họ. Lời thuyết pháp ấy cũng được ghi chép trong kinh A Hàm. Quý vị thấy kinh văn rất ngắn, vài ba trăm từ, là một hội. Đại hội có khi lâu đến mấy năm, khác hẳn, dài ngắn khác nhau, nơi chốn cũng khác nhau. Long Hoa tam hội là 3 lần đại pháp hội tại cùng một chỗ, độ sinh vô lượng. Trong kinh điển đã nói như thế.

Hiện tại, thuộc vào pháp vận của Phật Thích Ca Mâu Ni, kẻ học Phật chưa thể đắc độ, nhưng những đã gieo thiện căn. Trong tương lai, đến năm mươi bảy ức sáu ngàn vạn năm, trong khoảng thời gian ấy, chúng ta đã luân hồi chẳng biết bao nhiêu lần trong thế giới này.

Đức Phật chẳng còn, có người thay thế Phật, điều này rất khó có. Bồ tát Địa Tạng Vương thay thế Phật. Vì thế, Bồ tát Địa Tạng Vương rất cực nhọc! Trong năm mươi bảy ức sáu ngàn vạn năm, Phật pháp đều do Địa Tạng Vương thay thế. Ngài ở nơi đây giáo hóa chúng sinh, vun bồi thiện căn, đợi khi Phật Di Lặc hạ sinh sẽ tham gia Long Hoa tam hội. Chúng ta có muốn làm như vậy hay không? Làm như vậy cũng được, nhưng thời gian rất dài. Nếu quý vị muốn thành Phật nhanh chóng hơn một chút, hãy niệm Phật để đến thế giới Cực Lạc gặp Phật A Di Đà, như vậy thì sẽ rất nhanh. Cho tới lúc nào Bồ tát Di Lặc hạ sinh làm Phật, quý vị từ thế giới Cực Lạc hạ sinh lần nữa giúp đỡ Ngài, giống như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên là loại người như vậy. Quý vị thừa nguyện tái lai, giúp đỡ Phật Di Lặc giáo hóa chúng sinh, trở thành đại đệ tử trong hội của Ngài Di Lặc. Tôi tiết lộ tin tức này cho quý vị, còn cách làm ra sao chính mình có thể quyết định.

 


[1] Trung Dung là một chương trong sách Lễ Ký, tức chương 31, chưa rõ tác giả là ai, có thuyết nói là do Khổng Cấp (tự là Tử Tư). Khổng Cấp (438-402 trước Công Nguyên) là cháu nội của Khổng Tử, tức con trai của Khổng Lý, từng theo học với Tăng Tử (Tăng Sâm, một trong những môn đệ đắc ý của Khổng Tử). Khổng Cấp được hậu thế xưng tặng mỹ hiệu là Thuật Thánh. Dựa theo văn phong, chỉ có thể đoán sách Trung Dung được hoàn thành cuối thời Chiến Quốc. Mãi đến đời Tống, thiên sách này mới được rút ra thành một bản lưu hành riêng và Châu Hy đã quy định Tứ Thư gồm Luận Ngữ, Mạnh Tử, Đại Học Trung Dung.

Bình luận bài viết

    Tin sinh hoạt phật sự

    Video bài giảng

    Pháp âm

    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 92)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Tú Trinh
    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 91)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Tú Trinh
    • Tịnh Độ Đại Kinh (Tập 90)/ Giải, diễn nghĩa: Pháp sư Tịnh Không/ Trưởng ban biên dịch: Tỳ kheo Thích Đồng Bổn/ Đọc: Khánh Hoàng
    Pháp âm khác >>

    Thống kê truy cập

    • Online: 95
    • Số lượt truy cập : 10003865