Người có phúc báo lớn như các bậc đế vương ngày xưa, họ có thể hưởng phú được bao nhiêu năm? Hưởng được mấy trăm năm, quý vị nói phú họ tích lũy được sâu dày biết bao. Con cháu mấy mươi đời cũng hưởng không hết phú Người bây giờ không hiểu nhân quả, không xem những cuốn sách này, cho rằng chết là hết. Chết là hết, thì còn gì tốt hơn, con người cần gì phải cực khổ như thế? Thực tế mà nói, hiểu được nhân quả, mới biết sau khi chết thật đáng sợ, phiền phức không thể tả! Nếu tạo nghiệp bất thiện, thì đến địa ngục, đến ngạ quỷ để chịu tội. Khi chịu hết tội, lại sanh đến nhân gian để trả nợ. Nợ mạng trả bằng mạng, nợ tiền trả tiền, đến lúc đó quả là đáng thương. Giết người nhiều đọa vào đường nào? Biến thành gì? Biến thành con phù du trong cõi Súc sinh. Phù du là loại trùng nhỏ bơi lội trên mặt nước.
Thuở đức Thế Tôn tại thế, giáo học, Ngài chẳng dựng đạo tràng. Nói theo hiện thời, Ngài và Tăng đoàn sống theo phương thức du mục, không ở một nơi cố định mà di chuyển khắp nơi. Ở đâu có duyên bèn đến đó. Đức Phật vô cùng tự tại, cũng chẳng có bất cứ điều kiện gì. Người nào thành tâm thành ý đến khải thỉnh, Ngài đều chấp thuận, nhận lời mời. Vì các Ngài đều trụ trong núi, rừng, ven sông, đêm nghỉ dưới cội cây, nên chẳng cần nơi chốn riêng biệt, bất luận chỗ nào cũng đều được. Đó là phương thức giáo học của đức Thế Tôn trong thuở ấy.
Đáng thương nhất là gì? Chính là đời đời kiếp kiếp chẳng thấy Phật pháp, chẳng nghe Phật pháp, trong A Lại Da thức chẳng có chủng tử Phật pháp, thật sự đáng thương! Người ấy chẳng có thiện căn. Nếu trong một đời có thể nghe một lần, nghe một câu A Di Đà Phật, liền gieo thiện căn trong A Lại Da thức. Vì thế, chúng ta phải hiểu rõ đạo lý này, phải liễu giải chân tướng sự thật này, niệm niệm chẳng quên giúp đỡ hết thảy chúng sinh khổ nạn. Dùng phương pháp gì để giúp đỡ họ? Niệm Phật. Đối với hết thảy các động vật nhỏ, chúng ta thấy muỗi, trùng, kiến, bèn chắp tay “A Di Đà Phật”, gieo thiện căn cho chúng. Nhiều đời nhiều kiếp sau, chúng nó sẽ nhờ vào một câu A Di Đà Phật ấy mà đắc độ. Ai gieo thiện căn ấy cho chúng? Quý vị gieo cho chúng.
Chúng tôi học Phật đã nhiều năm ngần ấy, nay phát hiện, trong Phật pháp có khoa học đạt đến tột đỉnh so với khoa học của toàn thể thế giới. Những vấn đề mà khoa học và triết học chẳng thể giải quyết, đều được giải đáp trong Phật pháp, kỳ diệu thay! Phật pháp dùng phương pháp gì để giải quyết? Thiền định. Thiền định là gì? Buông xuống là được! Phật pháp dạy quý vị buông xuống, buông chấp trước xuống, buông phân biệt xuống, buông khởi tâm động niệm xuống, quý vị liền kiến tính. Tính là một thứ hết sức vi diệu, điều gì cũng chẳng phải là nó, nhưng nó có thể biến ra hết thảy vạn vật. Y báo và Chính báo trang nghiêm như kinh Phật thường nói, đều do nó biến hiện, biến hiện như thế nào và quá trình biến hiện đều được giảng trong kinh rất cặn kẽ, rất minh bạch. Do vậy, xét từ những phương diện này, chúng ta chẳng thể không bội phục cổ nhân.
Quý vị đã thật sự giác ngộ, chắc chắn là như vậy. Niệm niệm thấy những chúng sinh khổ nạn, bèn chẳng nghĩ đến chính mình, toàn tâm toàn lực giúp đỡ những chúng sinh ấy quay đầu, giác ngộ. Dùng phương pháp gì để giúp họ quay đầu? Thực hiện từ chính mình. Quý vị dạy người khác, dạy người khác trong hiện thời, thì phải sử dụng thân giáo. Thuở đức Phật tại thế, Ngài giáo dục người ta bằng thân giáo, tức là nêu gương cho quý vị thấy. Con người hiện thời suy nghĩ sai lầm, khởi tâm động niệm luôn luôn là tổn người, lợi mình. Chúng ta nêu gương, khởi tâm động niệm đều là tổn mình, lợi người, dần dần mới có thể khiến cho họ giác ngộ, khiến cho họ quay đầu. Nếu quý vị chẳng làm được những gì mình đã nói, thì còn làm sao được nữa! Xã hội hiện thời là cạnh tranh, chúng ta phải nêu gương lễ nhượng. Không chỉ là khiêm nhượng, mà còn là lễ nhượng, chỗ nào cũng đều nhường nhịn. Chúng sinh niệm niệm đều mong cầu có được, chúng ta niệm niệm mong bố thí, bỏ ra.
Người thật sự học Phật, tối thiểu là phải biết buông xuống. Buông xuống từ chỗ nào? Nói thật thà sẽ là buông xuống từ chính mình, luôn phải bắt đầu từ chính mình. Buông gì xuống? Buông cái “Ngã” xuống, biết đó chẳng phải là “Ngã”. Kinh Kim Cương nói “Vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng”. Bắt đầu từ đó, phá Tứ tướng, thì gọi là học Phật. Phá Tứ tướng là tầng cấp gì? Sơ Quả Tu Đà Hoàn trong Tiểu thừa, còn xét theo Đại thừa, theo kinh Hoa Nghiêm, sẽ là Sơ Tín Vị Bồ tát trong Thập Tín. Thập Tín là tiểu học, Sơ Tín là lớp Một, quý vị nhập Phật môn. Hãy còn có ta, có người, có chúng sinh, có thọ giả, quý vị là lục đạo phàm phu.
Nhiều người thuở trước, sống trong thời đại chiến tranh, ý niệm và ký ức rất sâu, đêm thường nằm mộng thấy đang ở trong thời xảy ra chiến tranh, gần như là Đệ nhị Thế chiến vẫn chưa kết thúc. Chẳng nghĩ tới nó, mà nó vẫn hiển hiện, đó là gì? Thuộc về tiềm ý thức, nó khởi tác dụng, rất đáng sợ! Chúng ta huấn luyện những thứ thuộc về tiềm ý thức trên đây, thay đổi những thứ bất thiện, khiến cho khởi tâm động niệm của chúng ta đều là Phật, Bồ tát, khởi tâm động niệm đều là thế giới Cực Lạc, chắc chắn sẽ vãng sinh.
Chúng ta niệm kinh, niệm kinh sẽ có thể khai trí tuệ ư? Đúng vậy! Biết niệm sẽ khai trí tuệ; không biết niệm sẽ tăng trưởng phiền não. Biết niệm là gì? Khi niệm kinh, buông phân biệt, chấp trước xuống, đó là “biết niệm”. Khi niệm kinh, hễ còn có phân biệt, chấp trước, thì là chẳng biết niệm. Niệm kiểu đó, không chỉ chẳng thể đoạn phiền não, mà còn sinh ra phiền não. Phiền não gì vậy? Sở tri chướng.
Người hiểu sâu nhân quả, chẳng dám làm chuyện phi pháp. Không chỉ chẳng dám làm, mà nghĩ cũng chẳng dám nghĩ! Vì vậy, đối với đạo hạnh và tu dưỡng của một cá nhân, nhân quả có sức mạnh vượt xa luân lý, đạo đức. Người tu dưỡng đạo đức khá, nhưng gặp phải những thứ gọi là “danh cao, lợi trọng”, vẫn chẳng thể chống nổi sự dụ dỗ, mê hoặc, vẫn có thể phạm lỗi! Chỉ có người tin sâu nhân quả, tuy thấy những thứ đó, tâm vừa động, nhưng nghĩ đến quả báo trong tương lai sẽ là như thế nào, bèn chẳng dám làm!
Nay, chúng ta hãy suy ngẫm, cái được gọi là khoa học và triết học mỗi ngày đang học những gì? Vẫn chẳng phải là Thật tướng của các pháp hay sao? Họ đều đang nghiên cứu chuyện này. Có hiểu rõ ràng, minh bạch Thật tướng hay không? Chẳng hiểu rõ ràng, mà cũng chẳng minh bạch. Trong kinh điển, đức Phật thật sự hiểu rõ, thật sự minh bạch chuyện này. Đức Phật dùng phương pháp nào? Đức Phật dùng Giới, Định, Tuệ. Do Giới đắc Định, do Định khai Tuệ. Trí tuệ vừa khai liền hiểu rõ, bèn ngộ nhập Thật tướng của các pháp. Những nhà khoa học và triết học thế gian nghiên cứu, nhưng vì sao chẳng thấy rõ ràng, chẳng minh bạch? Vì họ chẳng có Giới, Định, Tuệ. Đấy là sự thật.
Phật A Di Đà đối với chúng ta cũng là “hiển ứng”. Ngài thật sự đến tiếp dẫn chúng ta, nhưng vào khi nào? Khi chúng ta đã hết nghiệp báo ở nơi đây. Nghiệp báo chưa hết, chúng ta mong cầu, Phật A Di Đà biết rõ, Ngài chờ đợi bên đó, nhìn ngó, đến khi nào quý vị đã hết nghiệp báo, Ngài liền đến, chẳng phải là không đến. Đó gọi là “hiển cảm hiển ứng”. Còn có hiển cảm minh ứng (cảm rõ rệt, ứng ngấm ngầm), tức là chúng ta cầu Phật A Di Đà rất rõ rệt, Phật A Di Đà chẳng ứng rõ rệt, nhưng đã ngấm ngầm chiếu cố, luôn luôn giúp đỡ chúng ta, thế mà chính chúng ta trọn chẳng hay biết. Chúng ta công phu học tập càng cao, chẳng hạn như đã đắc tâm thanh tịnh, hoặc đắc tâm bình đẳng, bèn biết, biết Phật đang âm thầm gia trì chúng ta.
Thuở tại thế, Phật Thích Ca Mâu Ni giảng kinh, giáo hóa suốt 49 năm, những lời Ngài nói đều là lời chân thật. Không chỉ hàng Bồ tát là như thế, tức là một vạn hai ngàn vị Bồ tát tham gia pháp hội này là như thế, mà những gì phàm phu nói cũng giống như biện tài của chư Phật. Đó là nói theo Lý, chẳng phải là nói theo Sự. Người chứng đắc nghĩa lý biết điều này. Người chưa chứng đắc, nhưng đọc kỹ kinh Đại thừa cũng biết. Họ nghe Phật nói, nghe các vị Bồ tát nói, nghe quá nhiều, đã quen tai, cũng có thể chấp nhận, nhưng chính người ấy chẳng phải là tự mình chứng đắc. Người ấy có thể khẳng định, có thể tiếp nhận, đó gọi là “giải ngộ”; còn chính mình thật sự chứng đắc, thì là “chứng ngộ”, cảnh giới sai biệt rất lớn. Giải ngộ mà nếu không tu hành, sẽ chẳng thể thành tựu, chỉ có thể ở trong thế gian này, đúng như người hiện tại đã nói: Người nào đó là nhà Phật học, người ấy có thể được gọi là một nhà Phật học. Học rộng nghe nhiều kinh giáo, nhưng tập khí phiền não chưa đoạn, một phẩm Kiến Tư hoặc vẫn chưa phá, tuy là một nhà Phật học, chẳng có mảy may liên quan đến liễu sanh tử xuất tam giới, phải biết điều này! Trong Phật học, người ấy chẳng có Giới, Định, Tuệ; Phật học là pháp thế gian, không phải là pháp xuất thế gian.