Mạng do đâu mà có? Chẳng phải do ông trời ban cho quý vị! Có rất nhiều người hiểu lầm vận mạng do Thượng Đế ban cho chúng ta. Vì sao có người thăng quan phát tài, có người bần cùng hạ tiện? Chẳng phải là ông trời rất thiếu công bằng ư? Há có loại ông trời như vậy! Vì thế, phải hiểu: Chẳng dính líu gì đến trời, đất, quỷ thần, Phật, Bồ tát, vận mạng của mỗi cá nhân chúng ta do chính mình chịu trách nhiệm. Có vận mạng hay không? Có! Vận mạng do đâu mà có? Chủng tử của những điều thiện và bất thiện do quý vị đã tạo trong đời đời kiếp kiếp quá khứ, chúng ở trong A Lại Da thức, được gọi là vận mạng của quý vị. Trong quá khứ, quý vị làm việc thiện, đời này phú quý, hưởng thụ, hưởng lạc. Trong đời quá khứ tạo nghiệp bất thiện, quý vị sẽ sống cuộc đời nghèo khổ. Đạo lý là như thế đó.
Chư vị phải ghi nhớ, “do Giới đắc Định, do Định khai Tuệ”. Trí tuệ tuyệt đối chẳng là quý vị học bao nhiêu thứ, nhớ bao nhiêu kinh sách, những điều ấy chẳng khai trí tuệ! Không có Giới và Định, những điều quý vị học được là Phật học, là tri thức, chẳng phải là trí tuệ. Phải hiểu rõ tri thức và trí tuệ là hai chuyện. Trí tuệ là thành tựu do Giới và Định. Tri thức chẳng cần đến Giới và Định, cũng có nghĩa là trong tri thức chẳng có Giới và Định. Có Giới và Định, tri thức liền biến thành trí tuệ. Chúng tôi suy nghĩ sâu xa, rốt cuộc do nguyên nhân nào, vì sao người hiện thời chẳng bằng cổ nhân? Người hiện thời coi nhẹ vun bồi giáo dục.
Học Phật, bất luận học pháp môn nào, nói chung, nhất định phải biết buông xuống. Buông những gì xuống? Buông phiền não xuống, buông tập khí xuống. Cổ đại đức thường dạy chúng ta, hễ điều gì chẳng mang theo được, bèn buông xuống. Chúng ta suy ngẫm, người đã chết có thể mang theo gì vậy? Tài sản của quý vị chẳng mang theo được, thân tình chẳng mang theo được, tước vị chẳng mang theo được, kể cả thân thể của quý vị cũng chẳng mang theo được! Phải hiểu rõ chỗ này. Chẳng mang theo được, thì hãy buông xuống, bởi đó là giả, chẳng thật. Điều nào mang theo được, thì quý vị bèn đổ công dốc sức nơi đó. Đức hạnh mang theo được, công đức có thể mang theo được. Trì giới hữu công, tam-muội là đức, tam-muội là thiền định.
“Quán chư pháp Không” được kinh Bát Nhã giảng nhiều nhất. Trong các đồng học, rất nhiều vị đã đọc kinh Kim Cương Bát Nhã. Kinh Kim Cương chẳng dài, Thiền tông Lục Tổ Huệ Năng Đại sư khai ngộ do kinh ấy. Do vậy, bộ kinh ấy trở thành kinh bậc nhất và cơ bản trong Thiền tông, biến thành một khóa trình phải tu học. Kinh văn chẳng dài lắm, đại khái chỉ có hơn 5.000 từ, do Ngài Cưu Ma La Thập phiên dịch, vô cùng thích hợp khẩu vị của chúng ta, nên người niệm kinh Kim Cương đặc biệt nhiều. Câu quan trọng nhất trong kinh, cũng là câu khiến cho Ngài Huệ Năng khai ngộ là “Ưng vô sở trụ, nhi sinh kỳ tâm” (Đừng nên trụ vào đâu để sinh tâm). Câu ấy dạy chúng ta cách nhìn vạn sự vạn vật trong toàn thể vũ trụ. Nói rất đơn giản, rất rõ ràng, dạy chúng ta thấy hết thảy sự vật: “Phàm những gì có tướng đều là hư vọng”. Đó là quán các pháp Không, tức là Không giải thoát môn trong 3 môn giải thoát.
Ngài hằng ngày khất thực trên đường, người khác cúng dường Ngài thứ gì, Ngài đều bỏ vào trong túi vải. Mỗi ngày Ngài xách một cái túi vải to. Đã có người hỏi Ngài: “Phật pháp là gì?”. Lão nhân gia buông túi vải xuống đất, 2 tay buông thõng. Người khác thấy dáng vẻ ấy liền biết là buông xuống. Buông xuống là Phật pháp. Người ta nhìn bèn hiểu là “buông xuống”. Lại hỏi lão nhân gia, sau khi đã buông xuống, thì nên làm như thế nào? Ngài cầm lấy túi vải, đặt trên lưng bước đi, chẳng ngoảnh đầu lại. Ý nghĩa gì vậy? Sau khi đã buông xuống, bèn nâng lên. Nâng lên là hóa độ chúng sinh. Buông xuống là chính mình, giống như Ly (rời lìa) đang được nói ở đây; Ly là buông xuống. Quý vị thấy “thị hiện Thanh Văn, Bích Chi Phật” là nâng lên, tức là nên dùng thân gì để đắc độ, bèn hiện thân ấy.
Đối với khổ, trừ sinh, lão, bệnh, tử ra, còn có Ái biệt ly khổ. Người quý vị ưa thích, chuyện quý vị ưa chuộng, hoàn cảnh cuộc sống ưa thích đều cứ phải chia lìa. Quý vị chẳng có cách nào hưởng thụ trong một thời gian dài. Đó là Ái biệt ly khổ. Kế đó, đức Phật nói tới Oán tắng hội khổ, oan gia đối đầu chẳng muốn gặp gỡ, mà cứ thường chạm mặt! Loại thứ ba là Cầu bất đắc khổ. Loại cuối cùng trong 8 khổ là Ngũ ấm xí thịnh khổ. Ngũ ấm xí thịnh là gì? Là áp lực (stress) như người hiện thời đã nói; lo lắng, vướng mắc, bận lòng, mệt trí đều thuộc về loại này. Cuộc sống tinh thần và thân thể của quý vị rất khổ cực. Ai có thể lìa khỏi 8 thứ ấy? Đức Phật nói chư thiên Dục giới có đủ 8 nỗi khổ ấy. Chư thiên Sắc giới đã lìa dục, nhưng trọn chẳng đoạn. Họ buông xuống, tạm thời buông xuống, 8 nỗi khổ ấy bèn chẳng còn nữa. Con người sinh lên trời chẳng phải là thai sinh, nên họ chẳng có sinh khổ. Từ Trời Đao Lợi trở lên đều là hóa sinh. Nếu quý vị tu định, đắc thiền định, tu đã thành công, bèn sinh trong Sắc Giới Thiên.
Ngũ dục là tài, sắc, danh vọng, ăn uống, ngủ nghê. Người trong thế gian ưa thích 5 thứ ấy, tài, sắc, danh vọng, ăn uống, ngủ nghê. Nhưng trong kinh Phật nói 5 thứ ấy là gì? Là 5 cội rễ của địa ngục! Trong đời người, chẳng thể thiếu khuyết 5 thứ ấy, quý vị chẳng có cách nào lìa khỏi chúng. Đức Phật dạy chúng ta, đối với 5 chuyện ấy, vừa phải bèn thôi! “Vừa phải bèn thôi” là gì? Trong cuộc sống hằng ngày, sử dụng nó, đừng khởi tâm tham, đừng sinh sân khuể. Nếu ưa thích nó, hãy đừng tham luyến. Nếu chán ghét nó, đừng cáu kỉnh. Đó gọi là “vừa phải bèn thôi”.
Chư vị phải biết Phật, Bồ tát vì chúng ta thị hiện. Những thứ giống như thế đều là năng lực sẵn có của chính chúng ta. Chúng ta vốn có. Do vậy, trong kinh Hoa Nghiêm, đức Phật đã đôi ba lượt bảo: “Hết thảy chúng sinh vốn là Phật”, “Hết thảy chúng sinh vốn đã thành Phật”. Trong kinh, đức Phật luôn nói những lời này. Thật vậy, chẳng giả! Vì sao biến thành nông nỗi này? Trong kinh Hoa Nghiêm có một câu giải thích: “Chỉ vì vọng tưởng và chấp trước mà không thể chứng đắc”. Phiền phức của chúng ta ở ngay chỗ này. Nếu chúng ta có thể buông vọng tưởng, phân biệt, chấp trước xuống, trừ bỏ chúng, trí tuệ và đức tướng của chúng ta sẽ hoàn toàn giống như Phật. “Thần lực” chính là năng lực, tức là năng lực của 6 căn, mắt có thể thấy, tai có thể nghe, mũi có thể ngửi, lưỡi có thể nếm, thân có thể đụng chạm. Cảnh giới tiếp xúc bởi 6 căn đều là khắp pháp giới hư không giới.
Vì sao chúng ta không buông xuống được? Chúng ta coi những huyễn tướng và giả tướng đều là thật, chẳng biết chúng là giả. Vì thế, dấy lên tham luyến đối với chúng, sinh khởi tâm tình yêu mến, đó là chuyện phiền phức! Dẫu đọc kinh giáo đã nhiều, đức Phật đã vô số lần nhắc nhở chúng ta. Chúng ta biết những thứ ấy (huyễn tướng, giả tướng) là giả, nhưng vẫn y như cũ chẳng thể buông xuống được! Tình chấp quá sâu, tập khí phiền não quá nặng, nhưng cần phải biết: Không buông xuống, quyết định sẽ chẳng thể thành công. Không buông xuống, nhất định phải luân hồi trong lục đạo. Nghĩ đến chuyện này, chúng ta bèn chẳng dám không buông xuống. Vì sao? Không buông xuống sẽ rất khổ. Quý vị nói xem: Làm người khổ quá đi thôi! Đời này làm người, đời sau có thể làm thân người nữa hay không? Chẳng dám chắc! Vì sao? Đức Phật đã nói rõ ràng, nếu muốn đời sau được làm thân người, chúng ta tu Thập Thiện Nghiệp Đạo tối thiểu phải đạt đến trung phẩm.
Nếu tâm người trên địa cầu chúng ta đều thiện, chẳng trái phạm tam học Giới - Định - Tuệ như Phật đã dạy trong kinh giáo, còn người chẳng học Phật, như người Trung Quốc chẳng hạn mà có thể tin tưởng giáo huấn của tổ tiên, tuân thủ luân lý, Ngũ Luân, Ngũ Thường, Tứ Duy, Bát Đức, khởi tâm động niệm, ngôn ngữ, tạo tác, đều chẳng lìa các tiêu chuẩn ấy, thế giới này sẽ vô cùng tốt đẹp. Thế giới này sẽ được gọi là cõi đời thịnh trị.
Trí tuệ và kiến thức khác nhau, chẳng tương đồng! Trí tuệ có thể giải quyết hết thảy vấn đề, giải quyết rất viên mãn, chẳng để lại hậu quả. Kiến thức có hạn chế, nó chẳng thể giải quyết hết thảy vấn đề; có những vấn đề có thể giải quyết được, nhưng cũng có những vấn đề chẳng thể giải quyết, lại còn để lại rất nhiều hậu quả. Chúng ta chớ nên chẳng biết điều này! Học rộng nghe nhiều, mà nếu chẳng có trí tuệ, sẽ là tri thức (kiến thức). Trí tuệ học từ đâu? Trí tuệ chẳng lìa Giới, Định, Tuệ, nhất định là từ Giới - Định mà khai trí tuệ, trí tuệ mới thấu lộ. Nói cách khác, người tâm thường ở trong định, sẽ dễ khai trí tuệ. Nếu một kẻ tâm bộp chộp, hời hợt, làm sao có trí tuệ cho được? Do vậy, vào thời cổ, đối với người đọc sách, điều trọng yếu nhất là trong cuộc sống hằng ngày phải thể hiện sự ổn trọng, ít nói, động tác rất thong thả.
Các Bồ tát thị hiện trong thế gian này, giáo hóa hết thảy chúng sinh, quyết định chẳng có chấp trước, phân biệt, chẳng khởi tâm động niệm, nên hằng thuận chúng sinh, tùy hỷ công đức. Kinh Lăng Nghiêm đã nói: “Tùy chúng sinh tâm, ứng sở tri lượng” (Thuận theo tâm chúng sinh, mà ứng hiện phù hợp với khả năng nhận biết của họ). Đây cũng là nói rõ: Hết thảy các pháp sinh từ tâm tưởng, chẳng liên can bất cứ ai. Vì thế, toàn là “tự làm, tự chịu”, phải thừa nhận điều này, chẳng liên can bất cứ ai! Có thể tham cứu thấu suốt đạo lý này, trong bất luận hoàn cảnh nào, quý vị cũng có thể tâm bình khí hòa, chẳng oán trời, trách người. Kẻ tâm bình khí hòa có thể thấy rất rõ ràng. Đó là trí tuệ của Văn Thù.