Chúng ta niệm kinh, niệm kinh sẽ có thể khai trí tuệ ư? Đúng vậy! Biết niệm sẽ khai trí tuệ; không biết niệm sẽ tăng trưởng phiền não. Biết niệm là gì? Khi niệm kinh, buông phân biệt, chấp trước xuống, đó là “biết niệm”. Khi niệm kinh, hễ còn có phân biệt, chấp trước, thì là chẳng biết niệm. Niệm kiểu đó, không chỉ chẳng thể đoạn phiền não, mà còn sinh ra phiền não. Phiền não gì vậy? Sở tri chướng.
Người hiểu sâu nhân quả, chẳng dám làm chuyện phi pháp. Không chỉ chẳng dám làm, mà nghĩ cũng chẳng dám nghĩ! Vì vậy, đối với đạo hạnh và tu dưỡng của một cá nhân, nhân quả có sức mạnh vượt xa luân lý, đạo đức. Người tu dưỡng đạo đức khá, nhưng gặp phải những thứ gọi là “danh cao, lợi trọng”, vẫn chẳng thể chống nổi sự dụ dỗ, mê hoặc, vẫn có thể phạm lỗi! Chỉ có người tin sâu nhân quả, tuy thấy những thứ đó, tâm vừa động, nhưng nghĩ đến quả báo trong tương lai sẽ là như thế nào, bèn chẳng dám làm!
Nay, chúng ta hãy suy ngẫm, cái được gọi là khoa học và triết học mỗi ngày đang học những gì? Vẫn chẳng phải là Thật tướng của các pháp hay sao? Họ đều đang nghiên cứu chuyện này. Có hiểu rõ ràng, minh bạch Thật tướng hay không? Chẳng hiểu rõ ràng, mà cũng chẳng minh bạch. Trong kinh điển, đức Phật thật sự hiểu rõ, thật sự minh bạch chuyện này. Đức Phật dùng phương pháp nào? Đức Phật dùng Giới, Định, Tuệ. Do Giới đắc Định, do Định khai Tuệ. Trí tuệ vừa khai liền hiểu rõ, bèn ngộ nhập Thật tướng của các pháp. Những nhà khoa học và triết học thế gian nghiên cứu, nhưng vì sao chẳng thấy rõ ràng, chẳng minh bạch? Vì họ chẳng có Giới, Định, Tuệ. Đấy là sự thật.
Phật A Di Đà đối với chúng ta cũng là “hiển ứng”. Ngài thật sự đến tiếp dẫn chúng ta, nhưng vào khi nào? Khi chúng ta đã hết nghiệp báo ở nơi đây. Nghiệp báo chưa hết, chúng ta mong cầu, Phật A Di Đà biết rõ, Ngài chờ đợi bên đó, nhìn ngó, đến khi nào quý vị đã hết nghiệp báo, Ngài liền đến, chẳng phải là không đến. Đó gọi là “hiển cảm hiển ứng”. Còn có hiển cảm minh ứng (cảm rõ rệt, ứng ngấm ngầm), tức là chúng ta cầu Phật A Di Đà rất rõ rệt, Phật A Di Đà chẳng ứng rõ rệt, nhưng đã ngấm ngầm chiếu cố, luôn luôn giúp đỡ chúng ta, thế mà chính chúng ta trọn chẳng hay biết. Chúng ta công phu học tập càng cao, chẳng hạn như đã đắc tâm thanh tịnh, hoặc đắc tâm bình đẳng, bèn biết, biết Phật đang âm thầm gia trì chúng ta.
Thuở tại thế, Phật Thích Ca Mâu Ni giảng kinh, giáo hóa suốt 49 năm, những lời Ngài nói đều là lời chân thật. Không chỉ hàng Bồ tát là như thế, tức là một vạn hai ngàn vị Bồ tát tham gia pháp hội này là như thế, mà những gì phàm phu nói cũng giống như biện tài của chư Phật. Đó là nói theo Lý, chẳng phải là nói theo Sự. Người chứng đắc nghĩa lý biết điều này. Người chưa chứng đắc, nhưng đọc kỹ kinh Đại thừa cũng biết. Họ nghe Phật nói, nghe các vị Bồ tát nói, nghe quá nhiều, đã quen tai, cũng có thể chấp nhận, nhưng chính người ấy chẳng phải là tự mình chứng đắc. Người ấy có thể khẳng định, có thể tiếp nhận, đó gọi là “giải ngộ”; còn chính mình thật sự chứng đắc, thì là “chứng ngộ”, cảnh giới sai biệt rất lớn. Giải ngộ mà nếu không tu hành, sẽ chẳng thể thành tựu, chỉ có thể ở trong thế gian này, đúng như người hiện tại đã nói: Người nào đó là nhà Phật học, người ấy có thể được gọi là một nhà Phật học. Học rộng nghe nhiều kinh giáo, nhưng tập khí phiền não chưa đoạn, một phẩm Kiến Tư hoặc vẫn chưa phá, tuy là một nhà Phật học, chẳng có mảy may liên quan đến liễu sanh tử xuất tam giới, phải biết điều này! Trong Phật học, người ấy chẳng có Giới, Định, Tuệ; Phật học là pháp thế gian, không phải là pháp xuất thế gian.
Chấp trước là Kiến Tư phiền não, phân biệt là Trần Sa phiền não, vọng tưởng là Vô Minh phiền não. Trong giáo pháp Đại thừa, chúng ta đã học những điều này rất nhiều và cũng đều rất quen thuộc. Buông Kiến Tư phiền não xuống, liền chứng quả A La Hán. Buông Trần Sa phiền não xuống là Bồ tát. Phá Vô Minh phiền não, bèn thành Phật. Kinh nói người như vậy là Pháp thân đại sĩ, đã thành Phật.
Nếu quý vị vâng theo giáo huấn của đức Phật, nghiêm túc tu tập, phúc báo của quý vị khá lớn, Phật chẳng gạt người! Phúc báo ấy có phải do Phật ban cho quý vị hay không? Chẳng phải! Phật chẳng ban cho chúng ta gì cả! Chúng ta đạt được phúc báo do đâu? Trong tự tính vốn có đầy đủ! Huệ Năng Đại sư kiến tính, bèn nói một câu: “Nào ngờ tự tính vốn tự đầy đủ”. Câu ấy đã chứng minh lời đức Phật dạy trong kinh: “Hết thảy chúng sinh đều có trí tuệ và đức tướng của Như Lai”. Do Pháp bố thí, quý vị đạt được trí tuệ từ trong tự tính, nó vốn sẵn có, nhưng chưa khai phát. Bố thí là công cụ, là phương pháp để khai phát. Quý vị dùng công cụ ấy, phương pháp ấy để khai phát trí tuệ và đức năng trong tự tính.
Trong Phật pháp có nói biệt nghiệp và cộng nghiệp, tuy chúng ta sống trên địa cầu này là cộng nghiệp, nhưng trong cộng nghiệp còn có bất cộng nghiệp. Chúng ta có thể tuân thủ luân lý đạo đức, Tứ duy và Bát đức, tuy có tai nạn, chúng ta vẫn có thể tránh khỏi. Khi tai nạn xảy đến, thí dụ như đại địa chìm xuống, chúng ta có thể chẳng chết hay không? Chúng ta cũng chết. Vậy thì có khác gì đâu? Khác chứ! Sau khi chết, chúng ta về thế giới Cực Lạc, làm sao có thể giống nhau cho được? Sẽ đến chỗ khác nhau.
Quý vị thấy: Có chấp trước, thì mới có lục đạo luân hồi. Chẳng có chấp trước, sẽ chẳng thấy luân hồi. Luân hồi là giả, chẳng thật. Phân biệt cũng chẳng thật. Nếu buông phân biệt xuống, chẳng có phân biệt, mười pháp giới đều chẳng có, cũng có nghĩa là cõi Phương Tiện Hữu Dư của chư Phật bèn chẳng có. Vĩnh Gia Đại sư đã nói: “Giác rồi ba cõi rỗng toang hoang”, đại thiên thế giới chẳng có. Chúng ta phải hiểu rõ ràng, rành rẽ Lý và Sự. Tu hành là tu gì? Học sao cho trong cảnh giới chẳng động niệm, đó là cao minh nhất. Học chẳng khởi tâm, không động niệm, vĩnh viễn giữ cho tâm chính mình thanh tịnh, bình đẳng, giác, đó là công phu, quý vị bèn thành Phật.
Đối với 3 điều kiện “thiện căn, phúc đức, nhân duyên”, quý vị thấy chúng ta có nhân duyên, vì chúng ta gặp gỡ pháp môn này, được làm thân người, gặp gỡ Phật pháp, gặp gỡ Đại thừa, gặp Tịnh Độ, duyên đầy đủ. Có thể thành tựu hay không, tùy thuộc thiện căn và phúc đức của chính mình. 3 điều kiện thảy đều đầy đủ, chẳng có ai không thành tựu. Thiện căn và phúc đức tu trong đời quá khứ. Quá khứ đã có cái nhân, dẫu chúng ta thiện căn và phúc đức chẳng đủ, nếu đời này duyên thù thắng, rất dễ dàng bổ túc, đó gọi là “bổ tập” (học tập bổ sung), đều có thể học tập bổ sung thiện căn và phúc đức, duyên là nghe kinh, nghe pháp.
Công đức giúp chúng sinh khổ nạn có thể mang đi được, chứ tòa biệt thự ấy đâu thể mang theo! Đức Phật có trí tuệ, thường xuyên cảnh tỉnh chúng ta, chuyện có thể mang theo được thì làm nhiều, chuyện chẳng mang theo được, chẳng cần làm! Do vậy, chúng ta hãy nghĩ, điều gì có thể mang theo, điều gì chẳng mang đi được. Trong thế giới hiện thời, chuyện tốt đẹp bậc nhất là gì? Chuyện tốt gì vậy? Dạy hết thảy chúng sinh làm người tốt, đấy mới là chuyện tốt lành to lớn nhất. Phật Thích Ca Mâu Ni thực hiện suốt đời, kể từ sau khi Ngài khai ngộ liền giảng kinh, dạy học, khuyên người khác không chỉ làm người tốt, mà còn là người tốt nhất trong những người tốt, làm Phật, làm Bồ tát. Đức Phật là người tốt đạt đến rốt ráo viên mãn, chẳng có khiếm khuyết. Bồ tát là hữu tình chúng sinh giác ngộ, tuy phiền não tập khí còn chưa đoạn sạch, nhưng giác chứ không mê, chính chứ không tà, tịnh chứ chẳng nhiễm, Ngài làm được. Do vậy, chúng ta phải lấy Phật Thích Ca làm gương, đối với chuyện lấy - bỏ, nhất định phải chú tâm cẩn thận, xét coi có hợp với đạo nghĩa hay không?
Chúng ta thấy hoa cỏ, cây cối bên ngoài, hoa, cỏ, cây cối cũng là vô thường. Hoa nở, hoa tàn, Xuân sinh thành, Hạ tăng trưởng, mùa Thu lá cây úa vàng, mùa Đông trút lá. Vì thế, nó cũng là vô thường, chẳng thật, là giả. Lại nhìn đến khoáng vật, núi, sông, đại địa cũng là vô thường, cũng biến hóa trong từng sát-na; vì thế, biển xanh nương dâu! Quý vị chú tâm quan sát, sẽ thấy toàn thể vũ trụ đều biến hóa. Ban đêm chúng ta thấy, lúc trời quang đãng nhìn lên không trung, vô lượng, vô số tinh cầu, bằng mắt thường, chúng ta có thể thấy ước chừng hơn 6.000 ngôi sao. Nếu dùng loại viễn vọng kính thông thường, ước chừng có thể thấy khoảng mười mấy vạn. Viễn vọng kính thiên văn thấy càng nhiều hơn. Những tinh cầu ấy có thành, trụ, hoại, không.