Nguyện thứ mười tám là “mười niệm ắt vãng sinh”; nguyện thứ mười chín nói “phát Bồ đề tâm” và hết thảy những ai sinh về thế giới Cực Lạc đều là A Duy Việt Trí Bồ tát. Trong Yếu Giải, Ngẫu Ích đại sư đã giảng rất rõ, Ngài nói có thể vãng sinh hay không hoàn toàn do có tín nguyện hay không. Quý vị có lòng tin sâu xa, nguyện thiết tha thì sẽ vãng sinh; có thể thấy sự trọng yếu của phát Bồ đề tâm! Công phu niệm Phật sâu hay cạn sẽ giúp quý vị nâng cao phẩm vị sau khi vãng sinh thế giới Cực Lạc. Nếu niệm Phật chẳng có công phu, nhưng thật sự có lòng tin sâu đậm, nguyện thiết tha, nguyện ấy là Bồ đề tâm. Thật sự có tâm độ chúng sinh, thật sự có tâm làm Phật, khi lâm chung, một niệm hay mười niệm đều có thể vãng sinh. Khai thị này vô cùng trọng yếu, chúng ta nhất quyết chớ nên xem thường!
“Thuận Bồ đề môn giả, Bồ tát viễn ly như thị tam chủng Bồ đề môn tương vi pháp, tức đắc tam chủng tùy thuận Bồ đề môn pháp” (Thuận Bồ đề môn: Bồ tát xa lìa ba pháp trái nghịch Bồ đề như thế, liền đắc ba pháp tùy thuận Bồ đề môn). Phía trước câu này sót một chữ, tức chữ “nhị”, vì trong đoạn thứ nhất thuộc phần trước đã ghi: “Tiên tu ly tam chủng dữ Bồ đề môn tương vi pháp” (trước hết, cần phải lìa ba pháp trái nghịch Bồ đề môn) đã nói xong.
Ở chỗ này tôi sẽ giảng về “thuận Bồ đề môn”. Thuận Bồ đề môn cũng có ba điều, tiếp đó, sách viết: “Hà đẳng vi tam: Nhất giả, vô nhiễm thanh tịnh tâm, bất vị tự thân cầu an lạc cố. Bồ đề thị vô nhiễm thanh tịnh xứ, nhược vị tự thân cầu lạc, tức vi Bồ đề môn, thị cố vô nhiễm thanh tịnh tâm thị thuận Bồ đề môn” (Những gì là ba? Một là tâm vô nhiễm thanh tịnh, chẳng cầu an lạc cho chính mình. Bồ đề là chỗ vô nhiễm thanh tịnh. Nếu cầu vui sướng cho bản thân chính là trái nghịch Bồ đề môn. Vì thế, tâm vô nhiễm thanh tịnh là Bồ đề môn).
Đàm Loan đại sư là một vị đại đức chú giải Vãng Sinh Luận trong Tịnh Độ Tam Kinh Nhất Luận, rất nhiều vị cổ đại đức cho rằng Ngài phải là một vị tổ sư của Tịnh Độ Tông. Nếu là tổ sư, xếp theo niên đại Ngài ở trước ngài Thiện Đạo. Ngài có cống hiến thù thắng đối với sự tu học và hoằng dương Tịnh Độ. Vãng Sinh Luận do Thiên Thân Bồ tát viết. Đấy là bản báo cáo tâm đắc trong tu học Tịnh Tông của Thiên Thân Bồ tát. Khi truyền tới Trung Quốc, luận ấy trở thành điển tịch chính yếu của Tịnh Tông, thuộc vào Tam Kinh Nhất Luận.
Chư vị pháp sư, chư vị đồng học. Tôi vừa mới xem một tờ truyền đơn, nghe nói nó đã được lưu hành trên Internet khá lâu! Tôi đọc một đoạn cho mọi người nghe nhé: “(Tờ truyền đơn này) đến từ lão pháp sư Tịnh Không. Sau khi tai nạn bộc phát tại Tứ Xuyên, Miến Điện, gần đây tai nạn lại bộc phát càng nghiêm trọng hơn. Cả thế giới bị ôn dịch, có thể hơn trăm vạn người bị chết, so với tai nạn tại Tứ Xuyên và Miến Điện trong thời gần đây càng đáng sợ hơn. Hiện thời đã có mấy quốc gia như Hàn Quốc, Ấn Độ đã bắt đầu xảy ra tai nạn”. Tôi chẳng biết chuyện này, mà cũng chẳng biết ai đã viết như vậy. Chuyện này tôi không hiểu.
“Linh minh đỗng triệt, trạm tịch thường hằng. Cô minh lịch lịch, bỉnh hách hư không. Linh quang độc diệu, huýnh thoát căn trần” (Trọn khắp pháp giới, hư không giới, thanh tịnh bình đẳng, vĩnh hằng bất biến, riêng sáng vằng vặc, rạng ngời hư không, linh quang riêng chiếu, vượt thoát căn trần). Mấy câu này do cổ đại đức tán thán, miêu tả tự tính. Thật ra, chẳng có cách nào diễn tả tự tính, nói cách nào cũng chẳng trọn vẹn, chỉ có thể nói được một phần rất ít. Tổng hợp cách nói của nhiều vị cổ đức, chúng ta có thể lãnh hội đôi chút, tổ sư bảo chúng ta: Chuyện này phải đích thân chứng thì mới có thể hiểu rõ, đó gọi là: “Như nhân ẩm thủy, lãnh noãn tự tri” (như người uống nước, nóng lạnh tự biết). Quý vị chưa chứng đắc, nói kiểu nào, dù là Phật nói, hay Bồ tát nói, cũng đều rất khó hiểu, vì tự tánh nó chẳng phải là cảnh giới của chúng ta.
Trong tập này: 1. Ánh lửa thiêng | HT. Thích Giác Toàn - 2. Phiền não tức bồ đề | HT. Thích Thiện Đạo - 3. Chiếc bóng không bao giờ khuất | Cư sĩ Giác Đạo - 4. Đại lễ Vesak | Thích Quảng Minh cảm tác - 5. “Chất lượng cuộc sống” với người cao tuổi | BS Đỗ Hồng Ngọc - 6. Nghĩ về đạo làm người | Vu Gia - 7. Bài giảng về cội nguồn của mọi hiện tượng | Hoang Phong - 8. Hiện thực hóa nguồn tuệ giác của Phật giáo vì một thế giới hòa bình và phát triển bền vững | Minh Quang - 9. Hương sen Phật đản | Dương Xuân Định - 10. Chuyển hóa khổ đau rộng lớn (Cuộc đời tu hành của hành giả Shabkar) | La Sơn Phúc Cường (dịch và tổng hợp) - ...
Lại nữa, sách Yếu Giải nói: “Một niệm tâm tánh hiện tiền của chúng ta chẳng ở trong, chẳng ở ngoài, chẳng ở khoảng giữa, chẳng phải quá khứ, chẳng phải hiện tại, chẳng phải vị lai, chẳng phải xanh, vàng, đỏ, trắng, dài, ngắn, vuông, tròn, chẳng phải hương, chẳng phải vị, chẳng phải xúc, chẳng phải pháp, tìm trọn chẳng thể được, chẳng thể nói nó là không; tạo đủ bách giới thiên như, chẳng thể nói nó là có. Lìa hết thảy duyên lự, phân biệt, ngôn ngữ, tướng văn tự, nhưng duyên lự, phân biệt, ngôn ngữ, văn tự chẳng lìa điều này mà có riêng tự tánh được”
Trong lần trước, chúng ta đã học tập, hết thảy các kinh Đại thừa đều căn cứ trên Thật Tướng để nói. Thật Tướng, nói thông tục là chân tướng của nhân sinh và vũ trụ. Những điều được nói trong kinh Phật đều là chân tướng. Nếu chẳng phải là chân tướng, sẽ thành vọng ngữ. Chân tướng này rất khó hiểu. Chân tướng là “Thật Tướng vô tướng, Thật Tướng vô bất tướng” (Thật Tướng vô tướng, Thật Tướng chẳng phải là không có tướng). Các kinh Đại thừa đều giảng rõ sự thật này. Ở đây, Hoàng lão cư sĩ lại dẫn văn kinh Viên Giác để nói; do vậy, chúng ta đọc bản chú giải này, giống như đọc rất nhiều kinh luận và những lời giảng giải của tổ sư đại đức.
Kinh dạy: “Thật Tướng vô tướng”. Vô tướng là gì? Vô tướng là lìa hết thảy các tướng hư vọng. Do vậy, vô tướng và ly tướng có cùng một ý nghĩa, ly tướng là vô tướng.
Hết thảy các tướng hư vọng là gì? Kinh Phật đã vô số lần dạy chúng ta: “Phàm những gì có tướng đều là hư vọng”. Vì sao? Do hết thảy các hiện tượng đều là pháp sinh bởi nhân duyên. Trung Luận nói rất hay: “Nhân duyên sở sinh pháp, ngã thuyết tức thị không” (Pháp sinh bởi nhân duyên, ta nói nó là Không). “Ngã” ở đây là đức Phật nói, trích dẫn lời Phật dạy. “Ly” là lìa như thế nào? Lìa chấp trước, chẳng chấp trước sẽ lìa. Chấp trước là chẳng lìa! Chớ nên chấp trước chúng (hết thảy các tướng), đừng nên phân biệt chúng. Đối với tất cả hết thảy các hiện tượng, chớ nên khởi tâm động niệm, quý vị sẽ lìa toàn bộ.
Chư vị pháp sư, chư vị đồng học xin xem tiếp Vô Lượng Thọ Kinh Giải, trang mười sáu, dòng thứ tư, đếm từ dưới lên.
“Đại thánh thùy từ, đặc lưu thử kinh” (Đức đại thánh rủ lòng Từ, đặc biệt lưu lại kinh này). “Kinh vân: Đương lai chi thế, kinh đạo diệt tận, ngã dĩ từ bi ai mẫn, đặc lưu thử kinh, chỉ trụ bách tuế, kỳ hữu chúng sinh trị tư kinh giả, tùy ý sở nguyện, giai khả đắc độ” (Kinh dạy: “Trong đời tương lai, kinh đạo diệt hết, ta do lòng từ bi thương xót, đặc biệt lưu lại kinh này tồn tại một trăm năm, có các chúng sinh gặp được kinh này, tùy theo sở nguyện đều được độ”).
“Phù chúng sinh chi sinh diệt tâm, xứ xứ năng duyên, độc bất năng duyên ư Bát Nhã” (Cái tâm sinh diệt của chúng sinh, chỗ nào cũng có thể duyên, chỉ chẳng thể duyên nơi Bát nhã). Đây là nói về tâm phàm phu, chúng ta cũng gọi nó là “tâm luân hồi”. Chưa ra khỏi lục đạo luân hồi, nhưng nó có tác dụng rất lớn, chỗ nào cũng có thể duyên, có thể duyên quá khứ, mà cũng có thể duyên tưởng vị lai, cõi này hay phương khác nó đều có thể tưởng.
Tuy có năng lực to dường ấy, kinh Phật bảo: Bên trong thì nó có thể duyên tới A Lại Da, bên ngoài có thể duyên hư không pháp giới, nhưng chẳng thể duyên tự tánh! Bát nhã là đức năng của tự tánh. Do cái tâm sanh diệt chẳng thể duyên tự tánh, đương nhiên chẳng thể duyên Bát nhã.
Huệ Năng đại sư giải thích, giảng giải Thiền Định và giải thoát, giải thoát có nghĩa là Niết Bàn. Huệ Năng đại sư nói: “Thiền Định và giải thoát là hai pháp, hai pháp chẳng phải là Phật pháp, Phật pháp là pháp bất nhị”. Giải thích câu nói này của đại sư như thế nào? Chúng ta có thấu hiểu hay chăng? Pháp sư Ấn Tông còn thấy hai pháp, tức là vẫn còn có phân biệt, chấp trước; Huệ Năng đại sư đã dung hội cả hai thành một Thể. Không chỉ Thiền Định và giải thoát là một, không hai, mà hết thảy các pháp đều là một. Pháp thế gian và Phật pháp cũng là một. Giác ngộ thì gọi là xuất thế pháp, hay Phật pháp; chưa giác ngộ thì gọi là thế gian pháp. Đúng là một, không hai. Sau khi giác ngộ, chẳng tìm được hai; vì vậy, nhập Bất Nhị môn. Vì sao? Phân biệt, chấp trước, ngay cả khởi tâm động niệm đều không có, lấy đâu ra hai pháp?