Trong kinh Kim Cương nói: “Thị pháp bình đẳng vô hữu cao hạ”. “Thị pháp” là hết thảy pháp. Hết thảy pháp thật sự là bình đẳng. Là thể bình đẳng, thể tự tính thanh tịnh viên minh hiện ra. Tướng cũng bình đẳng, dụng cũng bình đẳng. Thấy được tướng bình đẳng trong muôn ngàn sai biệt, giống như những điều Bồ tát Di Lặc nói, Ngài nói về hết thảy hiện tượng. Một khảy móng tay có ba trăm hai mươi triệu niệm, niệm niệm thành hình, hình đều có thức.
Từ đây cho thấy, nếu quý vị nhìn mỗi niệm, nó sinh ra hiện tượng vật chất và hiện tượng tinh thần, hầu như đều là sinh diệt đồng thời. Nói cách khác, giống như kinh Kim Cương nói: “Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng”, “Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh”, cho nên thể-tướng-dụng đều bất khả đắc. Bất khả đắc ở đây là bình đẳng.
Chúng ta niệm Phật có phải là tu định không? Phải. Khi ta niệm một câu Phật hiệu sẽ làm cho tâm mình định lại. Vì thế, bất luận là khởi ý niệm gì, thiện niệm cũng tốt, ác niệm cũng tốt, điều này không cần biết. Chỉ cần có ý niệm là tâm liền động, không phải tịnh. Ý niệm dập tắt, thì tâm liền tịnh, bất kể chúng ta dùng phương pháp gì. Trong 84.000 pháp môn, chúng ta dùng phương pháp Trì danh hiệu Phật. Điều này, quý vị phải biết, bất luận ý niệm nào trỗi dậy, như cổ nhân dạy: Không sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm. Giác là gì? Là cần phải dập tắt ý niệm. Đây là giác.
Lúc trẻ, khoảng hai mươi mấy tuổi, tôi đã học Phật. Tôi tập không ăn cơm tối. Phương pháp của tôi là giảm thực, một ngày bớt một chút. Khoảng hơn 2 tháng, thì buổi tối không ăn, giảm từ từ sẽ trở thành thói quen. Tiết kiệm rất nhiều việc và cũng tiết kiệm rất nhiều thời gian. Năm 31 tuổi, tôi theo thầy Lý Bính Nam lão cư sĩ, biết được thầy Lý ăn cơm ngày một bữa. Hình như sau khi ở Đài Trung một thời gian, tôi theo thầy Lý học tập, và tôi cũng không ăn cơm sáng nữa, Không khó! Tôi ngày ăn một bữa đến tháng thứ 8, mới nói với thầy Lý, tôi đã ăn một ngày một bữa. Thầy Lý hỏi: Bao lâu rồi? 8 tháng. Thầy Lý hỏi: Sao rồi? Rất bình thường! Thầy vỗ bàn một cái nói: Cố gắng duy trì như vậy!
Trên địa cầu này, hiện nay có hơn sáu mươi ức người. Đây là “đa”, đây là “đa nhất”. Hơn sáu mươi ức người này, đại đa số đều đang tạo tác vô số điều bất thiện. Tạo tác bất thiện, thực tế nói là không có phúc. Không nên nhìn thấy họ có tiền, họ có địa vị, cuộc sống hiện tại của họ vô cùng sung túc, thật hiếm thấy. Nhưng khi thiên tai xảy ra, cái gì cũng không còn nữa. Đời sau thì sao? Đời sau càng khổ, nên phúc là gì? Phúc không tách rời luân lý, đạo đức. Luân lý, đạo đức là phúc báo chơn chính nhất. Vậy học Phật, niệm Phật phúc báo còn lớn hơn gấp bội. Tại sao? Vì ta biết niệm Phật, phát nguyện cầu sinh Tịnh độ, thì trong đời này ta sẽ thành Phật.
Chướng ngại là gì? Chướng ngại này gọi là nghiệp chướng. Trong Phật pháp nói có 2 loại. Nghiệp chướng rất nhiều, nhưng có 2 loại lớn. Một là phiền não, hai là sở chấp. 2 loại nghiệp chướng này ngăn trở chúng ta không có cách nào cảm nhận được thông tin. Vậy phải làm sao? Phổ Hiền thập nguyện dạy chúng ta sám trừ nghiệp chướng. Nếu có thể sám trừ nghiệp chướng, thì thông tin của mười phương chư Phật, Bồ tát, chúng ta có thể cảm ứng được. Cảm ứng bất khả tư nghị.
Chúng tôi dùng cách nói đơn giản nhất để quý vị dễ hiểu, thức thứ 8 - thức A Lại Da. Ưu điểm của nó là ký ức. Chúng ta ghi nhớ những điều đã học, đều ở A Lại Da, cho nên A Lại Da giống như kho chứa vậy, kho chất chứa. Những điều học tập từ vô thỉ kiếp đến nay, đều chất chứa ở đó, đó là phòng tài liệu. Thuật thôi miên ở phương Tây, họ dùng phương pháp thôi miên, đã nói ra những điều hàm tàng trong A Lại Da, mà quý vị chất chứa từ nhiều đời nhiều kiếp. Đạo lý là như vậy. Nếu như không chất chứa, sao quý vị có thể biết được những chuyện trong quá khứ? Do vậy, nó là kho chất chứa đấy.
Thập Huyền nói về Sự sự vô ngại. Vì sao Sự sự vô ngại? Đối với duyên khởi nhất định phải có sự nhận biết sâu sắc. Cũng có nghĩa là khoa học và triết học ngày nay, mấy trăm năm rồi đều nghiên cứu về vấn đề này, cho đến ngày nay, cũng chưa có một đáp án nào khiến người ta vừa lòng. Vũ trụ từ đâu có? Vì sao có vũ trụ? Sinh mệnh từ đâu mà có? Đều là những vấn đề lớn của triết học và khoa học.
Xa rời tất cả nhiễm ô sẽ được tâm thanh tịnh. Điều này rất quan trọng, phải triệt để buông bỏ sự nhiễm ô. Chúng tôi thường nói, nói mấy chục năm rồi, buông bỏ tự tư, tự lợi, nói mấy chục năm rồi, có được mấy người thật sự buông bỏ? Buông bỏ danh văn, lợi dưỡng, nó không có thật! Những thứ này đều là phiền não, đều là chướng đạo, chẳng những chướng ngại sự chứng quả của quý vị, mà còn chướng ngại sự khai ngộ của quý vị nữa. Có những thứ này thì không thể khai ngộ, cửa ngộ bị đè bẹp rồi. Sự hưởng thụ ngũ dục, lục trần đều phải buông bỏ hết.
Nửa thế kỷ trước, cho rằng lạp tử cơ bản là nhỏ nhất, nhưng sau này phát hiện nó còn có thể phân ra được. Đạo Phật nói cực vi chi vi, nghĩa là không thể phân ra được nữa. Đây là cảnh giới tuyệt đối, không thể phân ra được nữa, đương nhiên nhục nhãn của chúng ta không thể thấy được. Trong một vật chất nhỏ như vậy, trong kinh gọi là nhất trần, trong nhất trần này còn có thế giới. Ngày nay, thấy khoa học công nghệ, một cái thẻ nhớ, chỉ nhỏ bằng móng tay thôi, trong đó dung chứa biết bao tài liệu. Chúng ta cảm thấy vô cùng kinh ngạc, nhưng không biết rằng trong một vi trần, dung chứa thông tin cả một vũ trụ này, trong đó có cả một vũ trụ, không tăng không giảm. Khoa học ngày nay gọi là thế giới vi mô. Lượng tử lực học, gọi đại vũ trụ là thế giới vĩ mô. Đạo Phật nói vĩ mô và vi mô là một chẳng phải hai.
Trong Khởi Tín Luận, Bồ tát Mã Minh dạy rằng: Nghe kinh không chấp ngôn thuyết, không nên chấp trước ngôn ngữ, không nên chấp trước danh tự, không nên suy nghĩ ý nghĩa của những danh từ thuật ngữ trong kinh. Nếu nghe được như vậy sẽ hiểu được, và nhập vào cảnh giới đó.
Đọc kinh cũng như vậy, văn tự trong kinh điển, văn tự là phù hiệu của ngôn ngữ, cho nên nghe kinh không được chấp trước ngôn ngữ, đọc kinh không được chấp trước văn tự. Chấp trước văn tự thì hỏng việc. Đồng thời cũng không được chấp trước danh từ thuật ngữ, không nên suy nghĩ ý nghĩa của nó. Vì sao không được suy nghĩ ý nghĩa của nó? Quý vị vừa nghĩ là sai rồi, nghĩ là ý của mình, chứ không phải ý của Phật. Vì sao? Phật không có ý. Pháp thân Bồ tát đã chuyển 8 thức thành 4 trí rồi. Ý nằm trong 8 thức. Thức thứ 6 là ý thức, thức thứ 7 là ý căn. Ý nằm trong 2 thức này.
Trước đây nói, tương dung tương tức, trùng trùng vô tận, đó là gì? Là tự tính! Trong kinh, đức Phật thường nói, tự tính “pháp nhĩ như thị” (pháp này vốn là như vậy). Không phải do con người làm, nên không phải sáng tạo ra, bởi Tính đức vốn là như vậy. Trong giáo pháp Đại thừa, đức Phật thường dùng một câu để miêu tả, gọi là bất khả tư nghị. Quý vị không thể suy nghĩ, chắc chắn suy nghĩ không tới, nếu quý vị suy nghĩ, càng nghĩ càng phức tạp. Vì sao? Vì nghĩ chính là thức thứ 6. Công năng của thức thứ 6 là năng biến, vạn pháp là sở biến, càng nghĩ nó biến hóa càng nhiều, cho nên không thể suy nghĩ.
Đạt được quả A La Hán không đơn giản, tiêu chuẩn trong kinh Kim Cương, người này thật sự đạt được vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng. Trong kinh Kim Cương nói rất rõ ràng. Đó là hạng người nào? Tu Đà Hoàn. Bậc Tu Đà Hoàn cũng đang chia sẻ với chúng ta. Họ chứng được quả Tu Đà Hoàn, nhưng không suy nghĩ rằng mình chứng được quả Tu Đà Hoàn. Vì sao? Bởi có suy nghĩ như vậy là chấp tướng. Chấp tướng là giả chẳng phải chân, không chứng được. Thật sự chứng được là không có dấu vết gì. Tâm địa thanh tịnh, không hề có dấu vết. Vì thế, bậc A La Hán đạt được điều gì? Đạt được tâm thanh tịnh. Trên đề kinh này nói “Thanh tịnh, Bình đẳng, Giác”. Họ đã đạt được thanh tịnh.