Phật nói chúng sinh, nghĩa gốc của 2 từ "chúng sinh" này: Hiện tượng chúng duyên hòa hợp mà sinh khởi, gọi là chúng sinh. Động vật là chúng duyên hòa hợp. Khoáng vật cũng là chúng duyên hòa hợp, bao gồm cả sơn hà đại địa, cây cỏ hoa lá. Không có thứ gì không phải là Phật. Đây gọi là “Tâm ấy là Phật”. Vì sao? Hết thảy vạn pháp trong toàn thể vũ trụ là duy tâm sở hiện, duy thức sở biến. Tâm đã là Phật rồi, thì còn có cái gì không phải Phật! Đây tức là vốn là Phật. “Tâm ấy là Phật”, chính là Phật bản lai là Phật. Tuy vốn là Phật, nhưng vì hiện tại chúng ta đang mê, làm mất tự tính. Lạc mất tự tính nên gọi là chúng sinh, gọi là phàm phu. Phàm phu và Phật không có gì sai biệt, chỉ là mê ngộ bất đồng. Phàm phu giác ngộ là Phật, chính là đạo lý này.
Hiện nay, rất nhiều người học Phật thoái chuyển, đây cũng bình thường. Một nghìn người học Phật, trong đó có một vài người không thoái chuyển là quá tốt, nên thoái chuyển là hiện tượng bình thường. Vì sao họ thoái chuyển? Người đó vì sao không thoái chuyển? Điều này trong nhà Phật nói họ có nếm được pháp vị hay không. Nếu không nếm được pháp vị, lúc học sẽ rất cực khổ, lúc học có rất nhiều dấu hỏi trong đó. Gặp trắc trở, thoái tâm là hiện tượng rất bình thường. Còn học rồi mà họ không thoái tâm, luôn kiên trì là vì họ đã nếm được pháp vị.
Đức Thích Ca Mâu Ni là một vị thầy căn bản, giáo dục Phật giáo do Ngài hưng khởi lên. Phật có nghĩa là gì? Là giác ngộ. Nếu dịch tiếng Trung Quốc chính là giáo dục giác ngộ, chứ không phải là mê tín. Giáo dục giác ngộ do đức Phật kiến lập nên. Chúng ta gọi Ngài là bậc thầy căn bản - Bản Sư. Chúng ta tự xưng là đệ tử. Đệ tử là học sinh, nên quan hệ giữa chúng ta với đức Phật là quan hệ thầy trò. Đây làm gì có mê tín, với tôn giáo có liên quan gì đâu? Nhưng người bây giờ coi Phật giáo như một tôn giáo. Cũng có đạo lý, Vì sao? Đến cả Khổng lão phu tử cũng đã biến thành tôn giáo. Khổng lão phu tử biến thành tôn giáo, thì Phật đương nhiên cũng có thể biến thành tôn giáo. Chẳng qua nếu chiếu theo văn tự xưa, thì ý nghĩa của tôn giáo là tốt. Đó là tôn giáo thật không phải tôn giáo giả.
Tiêu chuẩn của tự giác là đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tính. Giống như lúc đức Phật 30 tuổi, Ngài thị hiện thành đạo cho chúng ta thấy. Khi sao mai vừa mọc, Ngài hoát nhiên triệt ngộ. Ngài Huệ Năng đại triệt đại ngộ trong giáo huấn của Ngũ Tổ, đây gọi là tự giác. “Tam giác câu viên”, tự giác này đã viên mãn. A La Hán đã tự giác, nhưng chưa viên mãn. Bồ tát đã tự giác, nhưng cũng chưa viên mãn. Nhất định phải minh tâm kiến tính, thì tự giác này mới viên mãn. Sau khi tự giác viên mãn, còn phải giác tha. Giác tha là sao? Giúp người khác giác ngộ. Rất nhiều người còn chưa giác ngộ, họ sao lại thành Phật rồi? Bồ tát giúp người khác giác ngộ, chính là đang giúp chính mình.
Chúng ta biết lúc đức Thế Tôn giảng kinh giáo hóa, không có sách, không có văn tự, đến bản thảo không có, đề cương cũng không có. Nguồn gốc của kinh điển là sau khi Thế Tôn diệt độ, đệ tử của Ngài đã nghĩ đến giáo huấn của Thế Tôn. Những lời dạy này đáng trân quý. Nếu không truyền cho hậu thế thì thật đáng tiếc, nên từ ký ức, trong Tôn Giả A Nan truyền pháp. Trong hết thảy người tu học A Nan là người có ký ức tốt nhất. Hầu như sau khi nghe qua một lần, Ngài có thể hoàn toàn nhớ lại không hề quên, nên thỉnh A Nan phúc giảng, đem hết thảy những gì đức Thế Tôn giảng tuyên lại một lần. 500 Tỷ khiêu làm chứng, 500 A La Hán nghe. Nghe và mọi người đều đồng ý. Không sai, đức Thế Tôn đã nói như vậy. Như vậy mới ghi lại.
Quý vị tu nhân, quả báo đạt được là gì? Đại thừa. Đại thừa là trí tuệ. “Hoa Nghiêm Kinh” nói: ‘Hết thảy chúng sinh đều có đức tướng, trí tuệ của Như Lai’. Đại thừa là trí tuệ, vô lượng thọ là đức, trang nghiêm là tướng, ta hoàn toàn đạt được. Đạt được thanh tịnh tâm, vãng sinh thế giới Tây Phương Cực Lạc là ở Phương Tiện Hữu Dư Độ. Thanh tịnh tâm không dễ gì đạt được. Đạt được bình đẳng tâm, thì phá được một màn vô minh, chứng được một phần pháp thân, sinh về thế giới Cực Lạc Thật Báo Trang Nghiêm Độ. Trong Hoa Nghiêm Kinh, Bồ tát Sơ Trụ trở lên, pháp thân đại sĩ, giống như thành Phật rồi. Điều này khó, đây điều cần phải niệm đến Nhất tâm bất loạn.
Trong kinh Kim Cương nói: “Thị pháp bình đẳng vô hữu cao hạ”. “Thị pháp” là hết thảy pháp. Hết thảy pháp thật sự là bình đẳng. Là thể bình đẳng, thể tự tính thanh tịnh viên minh hiện ra. Tướng cũng bình đẳng, dụng cũng bình đẳng. Thấy được tướng bình đẳng trong muôn ngàn sai biệt, giống như những điều Bồ tát Di Lặc nói, Ngài nói về hết thảy hiện tượng. Một khảy móng tay có ba trăm hai mươi triệu niệm, niệm niệm thành hình, hình đều có thức.
Từ đây cho thấy, nếu quý vị nhìn mỗi niệm, nó sinh ra hiện tượng vật chất và hiện tượng tinh thần, hầu như đều là sinh diệt đồng thời. Nói cách khác, giống như kinh Kim Cương nói: “Phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng”, “Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh”, cho nên thể-tướng-dụng đều bất khả đắc. Bất khả đắc ở đây là bình đẳng.
Chúng ta niệm Phật có phải là tu định không? Phải. Khi ta niệm một câu Phật hiệu sẽ làm cho tâm mình định lại. Vì thế, bất luận là khởi ý niệm gì, thiện niệm cũng tốt, ác niệm cũng tốt, điều này không cần biết. Chỉ cần có ý niệm là tâm liền động, không phải tịnh. Ý niệm dập tắt, thì tâm liền tịnh, bất kể chúng ta dùng phương pháp gì. Trong 84.000 pháp môn, chúng ta dùng phương pháp Trì danh hiệu Phật. Điều này, quý vị phải biết, bất luận ý niệm nào trỗi dậy, như cổ nhân dạy: Không sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm. Giác là gì? Là cần phải dập tắt ý niệm. Đây là giác.
Lúc trẻ, khoảng hai mươi mấy tuổi, tôi đã học Phật. Tôi tập không ăn cơm tối. Phương pháp của tôi là giảm thực, một ngày bớt một chút. Khoảng hơn 2 tháng, thì buổi tối không ăn, giảm từ từ sẽ trở thành thói quen. Tiết kiệm rất nhiều việc và cũng tiết kiệm rất nhiều thời gian. Năm 31 tuổi, tôi theo thầy Lý Bính Nam lão cư sĩ, biết được thầy Lý ăn cơm ngày một bữa. Hình như sau khi ở Đài Trung một thời gian, tôi theo thầy Lý học tập, và tôi cũng không ăn cơm sáng nữa, Không khó! Tôi ngày ăn một bữa đến tháng thứ 8, mới nói với thầy Lý, tôi đã ăn một ngày một bữa. Thầy Lý hỏi: Bao lâu rồi? 8 tháng. Thầy Lý hỏi: Sao rồi? Rất bình thường! Thầy vỗ bàn một cái nói: Cố gắng duy trì như vậy!
Trên địa cầu này, hiện nay có hơn sáu mươi ức người. Đây là “đa”, đây là “đa nhất”. Hơn sáu mươi ức người này, đại đa số đều đang tạo tác vô số điều bất thiện. Tạo tác bất thiện, thực tế nói là không có phúc. Không nên nhìn thấy họ có tiền, họ có địa vị, cuộc sống hiện tại của họ vô cùng sung túc, thật hiếm thấy. Nhưng khi thiên tai xảy ra, cái gì cũng không còn nữa. Đời sau thì sao? Đời sau càng khổ, nên phúc là gì? Phúc không tách rời luân lý, đạo đức. Luân lý, đạo đức là phúc báo chơn chính nhất. Vậy học Phật, niệm Phật phúc báo còn lớn hơn gấp bội. Tại sao? Vì ta biết niệm Phật, phát nguyện cầu sinh Tịnh độ, thì trong đời này ta sẽ thành Phật.
Chướng ngại là gì? Chướng ngại này gọi là nghiệp chướng. Trong Phật pháp nói có 2 loại. Nghiệp chướng rất nhiều, nhưng có 2 loại lớn. Một là phiền não, hai là sở chấp. 2 loại nghiệp chướng này ngăn trở chúng ta không có cách nào cảm nhận được thông tin. Vậy phải làm sao? Phổ Hiền thập nguyện dạy chúng ta sám trừ nghiệp chướng. Nếu có thể sám trừ nghiệp chướng, thì thông tin của mười phương chư Phật, Bồ tát, chúng ta có thể cảm ứng được. Cảm ứng bất khả tư nghị.
Chúng tôi dùng cách nói đơn giản nhất để quý vị dễ hiểu, thức thứ 8 - thức A Lại Da. Ưu điểm của nó là ký ức. Chúng ta ghi nhớ những điều đã học, đều ở A Lại Da, cho nên A Lại Da giống như kho chứa vậy, kho chất chứa. Những điều học tập từ vô thỉ kiếp đến nay, đều chất chứa ở đó, đó là phòng tài liệu. Thuật thôi miên ở phương Tây, họ dùng phương pháp thôi miên, đã nói ra những điều hàm tàng trong A Lại Da, mà quý vị chất chứa từ nhiều đời nhiều kiếp. Đạo lý là như vậy. Nếu như không chất chứa, sao quý vị có thể biết được những chuyện trong quá khứ? Do vậy, nó là kho chất chứa đấy.