Mọi người hễ nghe nói Phật, Pháp, Tăng, chắc là nghe nói đến Phật bèn nghĩ tới tượng Phật, nghe nói “quy y Pháp” bèn nghĩ tới kinh sách, “quy y Tăng” bèn nghĩ tới người xuất gia. Sai rồi! Đó chẳng phải là ý nghĩa thật sự của Tam quy, ý nghĩa thật sự của Tam quy là Giác, Chính, Tịnh. Vì thế, Tổ truyền quy y bèn nói “quy y Giác, quy y Chính, quy y Tịnh” rồi mới giải thích “Phật là Giác, Pháp là Chính, Tăng là Tịnh”. Ngài giải thích cho chúng ta, vừa giải thích như thế, chúng ta bèn hiểu rõ.
Tôi theo học Triết học với thầy Phương. Thầy chỉ bảo tôi, giảng cho tôi nghe một bộ Triết Học Khái Yếu, phần cuối cùng là triết học trong kinh Phật. Thầy bảo tôi: “Phật Thích Ca Mâu Ni là một triết gia vĩ đại nhất thế giới. Kinh Phật là đỉnh cao nhất trong triết học toàn thế giới. Học Phật là hưởng thụ cao nhất trong cuộc đời”. Chúng tôi học Phật 59 năm, phát hiện triết học trong kinh Phật không chỉ là triết học, mà còn là khoa học, và cũng là đỉnh cao nhất trong khoa học toàn thế giới. Học Phật không chỉ là hưởng thụ tối cao, mà còn là phúc báo tối cao trong cuộc đời!
Chúng ta cầu Phật, Bồ tát, mục tiêu thứ nhất là gì? Làm sao để các Ngài phù hộ tôi thăng quan, phát tài, cho nên các Ngài không tới. Nếu khi quý vị dấy lên ý niệm, chẳng vì phù hộ tôi, mà do chúng sinh trong thế gian quá khổ, cầu Phật, Bồ tát đến giúp đỡ thế giới này, cứu khổ, cứu nạn, các Ngài sẽ đến.
Kinh là những lý luận và phương pháp do Phật Thích Ca Mâu Ni thuở tại thế đã dùng để giáo hóa hết thảy chúng sinh, nhưng thuở ấy Phật Thích Ca Mâu Ni chẳng viết thành tài liệu giảng dạy. Vào thời cổ, dường như đều giống như vậy, như tại Trung Quốc, Khổng Tử chỉ dùng ngôn ngữ để dạy dỗ, không có sách giáo khoa, ngay cả đại cương cũng chẳng có. Nhìn từ chỗ này, suốt 49 năm, đức Phật giảng kinh, dạy học mỗi ngày chẳng gián đoạn, sau khi Ngài viên tịch, các học trò dựa trên ký ức, dùng văn tự ghi chép lời thầy đã dạy, lưu truyền hậu thế; đấy là cội nguồn của kinh điển Phật giáo. Kinh điển là những lời “giảng nghĩa” trong lúc Phật giáo học thuở ấy. Nay, chúng tôi dùng từ “giảng nghĩa” cho mọi người dễ hiểu! Phân lượng kinh điển nhà Phật vô cùng to lớn, công tác kết tập gian truân do Tôn giả A Nan phức giảng (nhắc lại lời giảng).
3 đời Phật là nói về quá khứ, hiện tại, vị lai. Quá khứ đã thành Phật. Đức Thế Tôn giới thiệu cho chúng ta một bộ phận: Kinh Tam Thiên Phật Danh có 3 quyển - thượng, trung, hạ. Quyển thượng là ngàn Phật quá khứ, quyển trung là ngàn Phật hiện tại, quyển hạ là ngàn Phật vị lai. Phật vị lai nghĩa là chưa thành Phật. Ở đâu? Hết thảy chúng sinh trong lục đạo hiện nay, đều là Phật vị lai. Trong Phật pháp gọi là hữu tình chúng sinh.
Trong kinh, Phật xưng A Di Đà Phật, chính là “Vô Lượng Thanh Tịnh Phật”. 4 từ A Di Đà Phật này là tiếng Ấn Độ, tiếng Phạn của Ấn Độ xưa, có thể phiên dịch thành “Vô Lượng Thanh Tịnh Phật”. A dịch là VÔ, DI ĐÀ dịch là LƯỢNG, PHẬT dịch là GIÁC. Trong đề kinh chúng ta thấy Thanh tịnh – Bình đẳng – Giác. Dùng một chữ GIÁC này, tức Thanh tịnh, Bình đẳng ở trên, đều bao gồm cả trong đó rồi. Vì thế, chúng ta gọi Thanh tịnh, Bình đẳng, Giác, cũng chính là hàm nghĩa Phật A Di Đà. Do đó, trong đề mục này, tên của Phật, tên của Bồ tát đều mang ý nghĩa rất thâm sâu. Nó là tượng trưng, tượng trưng cho pháp môn này. Pháp môn cũng giống như các khoa mục ở nhà trường bây giờ vậy. Quý vị nghiên cứu hạng mục nào, thì nó đại diện cho hạng mục đó.
1. Tôi học Phật | Trích Tịnh Độ Đại Kinh Giảng Diễn Nghĩa - 2. Xuân thiền (thơ) | HT Thích Giác Toàn - 3. Ánh sáng thành đạo | HT Thích Thiện Đạo - 4. Trò chuyện với bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc về tình yêu và cuộc sống | Minh Lê (NT) - 5. Xuân trong cửa thiền (thơ) | Thích Quảng Minh - 6. Nghĩ về năm mới, ngày mới | Vu Gia - 7. Về quê đón Tết (thơ) | Nguyễn Khoa Điềm - 8. Vì sao không thể phiên âm được chữ Hán? | Nguyễn Hải Hoành - 9. Ngẫu hứng (thơ) | Nguyễn Bá Hoàn - 10. Từ ánh sao mai đêm thành đạo đến buổi sáng mùa xuân nhân thế | Dương Kinh Thành...
Trong kinh Di Đà, đức Phật thường nói đến “Kỳ Phật quốc độ thành tựu như thị công đức trang nghiêm” (Cõi nước Phật kia thành tựu công đức trang nghiêm như thế). Cực lực tán thán thế giới Cực Lạc, công đức tu hành của chư Phật, chư Bồ tát, đây là “năng trang nghiêm”. Còn quả báo Y, Chính của thế giới Cực Lạc là “sở trang nghiêm”. Trong kinh Đại thừa, đức Phật thường nói: “Tướng do tâm sinh, cảnh tùy tâm chuyển, Cực Lạc thế giới A Di Đà Phật, thân hữu vô lượng tướng, tướng hữu vô lượng hảo”.
Như vậy, thế giới Cực Lạc là thế giới bình đẳng, Phật thọ vô lượng. Người sinh đến thế giới Tây Phương Cực Lạc, bất luận là phẩm vị nào, cho dù là cõi Phàm Thánh Đồng Cư hạ hạ phẩm vãng sinh, thì thọ lượng, tướng hảo, trang nghiêm của họ với Phật A Di Đà không có gì sai biệt.
Phật nói chúng sinh, nghĩa gốc của 2 từ "chúng sinh" này: Hiện tượng chúng duyên hòa hợp mà sinh khởi, gọi là chúng sinh. Động vật là chúng duyên hòa hợp. Khoáng vật cũng là chúng duyên hòa hợp, bao gồm cả sơn hà đại địa, cây cỏ hoa lá. Không có thứ gì không phải là Phật. Đây gọi là “Tâm ấy là Phật”. Vì sao? Hết thảy vạn pháp trong toàn thể vũ trụ là duy tâm sở hiện, duy thức sở biến. Tâm đã là Phật rồi, thì còn có cái gì không phải Phật! Đây tức là vốn là Phật. “Tâm ấy là Phật”, chính là Phật bản lai là Phật. Tuy vốn là Phật, nhưng vì hiện tại chúng ta đang mê, làm mất tự tính. Lạc mất tự tính nên gọi là chúng sinh, gọi là phàm phu. Phàm phu và Phật không có gì sai biệt, chỉ là mê ngộ bất đồng. Phàm phu giác ngộ là Phật, chính là đạo lý này.
Hiện nay, rất nhiều người học Phật thoái chuyển, đây cũng bình thường. Một nghìn người học Phật, trong đó có một vài người không thoái chuyển là quá tốt, nên thoái chuyển là hiện tượng bình thường. Vì sao họ thoái chuyển? Người đó vì sao không thoái chuyển? Điều này trong nhà Phật nói họ có nếm được pháp vị hay không. Nếu không nếm được pháp vị, lúc học sẽ rất cực khổ, lúc học có rất nhiều dấu hỏi trong đó. Gặp trắc trở, thoái tâm là hiện tượng rất bình thường. Còn học rồi mà họ không thoái tâm, luôn kiên trì là vì họ đã nếm được pháp vị.
Đức Thích Ca Mâu Ni là một vị thầy căn bản, giáo dục Phật giáo do Ngài hưng khởi lên. Phật có nghĩa là gì? Là giác ngộ. Nếu dịch tiếng Trung Quốc chính là giáo dục giác ngộ, chứ không phải là mê tín. Giáo dục giác ngộ do đức Phật kiến lập nên. Chúng ta gọi Ngài là bậc thầy căn bản - Bản Sư. Chúng ta tự xưng là đệ tử. Đệ tử là học sinh, nên quan hệ giữa chúng ta với đức Phật là quan hệ thầy trò. Đây làm gì có mê tín, với tôn giáo có liên quan gì đâu? Nhưng người bây giờ coi Phật giáo như một tôn giáo. Cũng có đạo lý, Vì sao? Đến cả Khổng lão phu tử cũng đã biến thành tôn giáo. Khổng lão phu tử biến thành tôn giáo, thì Phật đương nhiên cũng có thể biến thành tôn giáo. Chẳng qua nếu chiếu theo văn tự xưa, thì ý nghĩa của tôn giáo là tốt. Đó là tôn giáo thật không phải tôn giáo giả.
Tiêu chuẩn của tự giác là đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tính. Giống như lúc đức Phật 30 tuổi, Ngài thị hiện thành đạo cho chúng ta thấy. Khi sao mai vừa mọc, Ngài hoát nhiên triệt ngộ. Ngài Huệ Năng đại triệt đại ngộ trong giáo huấn của Ngũ Tổ, đây gọi là tự giác. “Tam giác câu viên”, tự giác này đã viên mãn. A La Hán đã tự giác, nhưng chưa viên mãn. Bồ tát đã tự giác, nhưng cũng chưa viên mãn. Nhất định phải minh tâm kiến tính, thì tự giác này mới viên mãn. Sau khi tự giác viên mãn, còn phải giác tha. Giác tha là sao? Giúp người khác giác ngộ. Rất nhiều người còn chưa giác ngộ, họ sao lại thành Phật rồi? Bồ tát giúp người khác giác ngộ, chính là đang giúp chính mình.