Thấu hiểu nguyên do của lục đạo, vì sao có lục đạo? Thì ra, lục đạo từ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, biến hiện ra. Lục đạo gọi là thế gian, gọi là pháp thế gian. Nếu đoạn tận Kiến Tư phiền não, liền vượt thoát lục đạo. Lục đạo không còn, cho nên lục đạo chủ yếu là từ Kiến Tư phiền não. Kiến Tư phiền não từ đâu mà có? Từ phân biệt mà sinh ra, từ vọng tưởng mà sinh phiền não. Không có vọng tưởng và phân biệt, làm gì có Kiến Tư? Kiến Tư, nghĩa là chấp trước.
Chúng ta tự tư, tự lợi, danh văn, lợi dưỡng, tập khí ô nhiễm này là sai! Xem bản thân mình rất cao, xem người khác rất thấp, cũng sai. Sự thật không phải như vậy. Sự thật là bình đẳng, không những mình và người bình đẳng, mà ta với côn trùng, kiến, gián cũng bình đẳng. Nhìn xuống thấp hơn, ta và hạt bụi bình đẳng, bình đẳng với tất cả pháp, bởi tất cả pháp không rời tự tính. Trong kinh điển Đại thừa thường nói: “Ngoài tâm không có pháp. Ngoài pháp không có tâm”. Tâm bình đẳng, sao pháp lại không bình đẳng? Làm gì có chuyện không bình đẳng! Không bình đẳng là do nhân duyên gì? Là không chịu buông bỏ. Buông bỏ tập khí phiền não, tâm bình đẳng lập tức hiện tiền.
Thiện căn là gì? Vấn đề này cần phải hiểu, thiện căn là Thập Thiện Nghiệp Đạo. Trong kinh nói rất rõ ràng, đây là pháp nhân thiên. Thanh Văn Bồ Đề, Duyên Giác Bồ Đề, cho đến Vô Thượng Bồ Đề, đều nương vào nền tảng này mà sinh khởi. Đây gọi là thiện căn. Đầy đủ Thập thiện trong kinh điển mới xưng là “thiện nam tử, thiện nữ nhơn”. Chúng ta thực hành được Thập thiện chăng? Quan trọng hơn tất cả, đây là căn bản của giới luật. Nếu chí tâm, tin, hiểu, ưa thích, trong câu Phật hiệu này sẽ viên mãn Thập Thiện Nghiệp Đạo.
Quý vị phải biết ai là đức Phật? Mỗi chúng sinh chúng ta đều là Phật. Giác ngộ gọi là Phật. Mê gọi là chúng sinh. Do vậy, nên trong Phật pháp nói “sinh Phật không hai”. Sinh là chúng sinh, Phật là đức Phật. Chúng sinh và đức Phật là một không phải hai. Chúng sinh giác ngộ, thì gọi là Phật, mê hoặc thì gọi là chúng sinh. Nó là một vấn đề không phải hai.
“Tự tính không sanh không diệt”. Câu này, rất quan trọng! Hiện nay, chúng ta tham sống sợ chết, quan niệm này sai hoàn toàn. Vì sao vậy? Vì không có sinh tử. Sinh tử là gì? Là thân thể, thân thể có sanh diệt, duyên tụ duyên tán, tự tính không có sanh diệt. Hiểu được đạo lý này, không phải quý vị được trường sanh rồi ư? Quý vị vốn là trường sanh, do mê mà không giác, nên tham sống sợ chết. Nếu giác ngộ được rằng, vốn là trường sanh, người người đều là trường sanh, pháp pháp đều là trường sanh, như vậy có thể buông bỏ được vọng niệm này.
Trong kinh điển Đại thừa, đức Phật dạy: “Tất cả chúng sinh vốn là Phật”, không sai chút nào. Nhưng họ mê muội, mê chứ không mất. Phật tính của chúng ta không mất đi, chỉ là nhất thời mê hoặc mà thôi. Cho dù tạo tội nghiệp như thế nào, đọa địa ngục, biến thành súc sinh, đức Phật đều không để trong lòng. Vì sao vậy? Vì biết rằng quý vị sẽ quay đầu. Quý vị vốn là Phật, tương lai nhất định quay đầu, nên Ngài không hề để những điều này trong lòng, cũng không có ý niệm trách cứ. Quý vị thọ khổ trong 3 đường ác là do quý vị tự làm tự chịu. Làm sai, thì tự mình phải chịu quả báo. Nếu Phật có tâm trách cứ quý vị, vậy là Ngài không có tâm từ bi. Như vậy, sao gọi là đại từ đại bi được?
Trước khi đức Phật diệt độ, dạy chúng ta 2 vấn đề vô cùng quan trọng, do Tôn giả A Nan hỏi, thật ra là hỏi thay chúng ta. Đức Phật tại thế chúng con nương Phật làm thầy, học tập theo Ngài, khi Phật diệt độ, chúng con nương ai để làm thầy? Đức Phật đã nói 2 câu: “Lấy giới làm thầy. Lấy khổ làm thầy”. Điều này đã nói rất rõ, nhất định phải trì giới, nhất định phải biết kham nhẫn, không sợ khổ. Vì sao vậy? Vì trì giới, nghĩa là không khác gì khi Phật còn tại thế. Chịu đựng được cái khổ, đạo tâm mới tăng trưởng, không bị mê luyến thế tục, không bị đọa lạc.
Trong kinh Kim Cương nói: “Pháp còn phải xả, huống gì phi pháp”. Pháp là Phật pháp. Dù quý vị học nhiều đến đâu, cũng phải buông bỏ, phải xả bỏ, huống gì là pháp thế gian! Pháp thế gian, xuất thế gian đều phải buông bỏ hết, như vậy mới có thể vãng sinh. Phật pháp có hay chăng? Ngũ kinh, nhất luận của Tịnh tông rất hay. Đây là gì? Đây là chiếc thuyền đại nguyện độ chúng sinh của Phật A Di Đà, chúng ta học tập là ví như lên thuyền. Từng giờ từng phút cần phải biết, khi ta buông bỏ là lập tức đến bờ bên kia. Đến nơi, phải buông bỏ hết, sau cùng chỉ còn một câu A Di Đà Phật. Bây giờ, đã thấu đạt, thật sự rõ ràng minh bạch, chúng ta bắt đầu thực hành từ bây giờ.
Khi lâm mạng chung khởi lên một vọng niệm, như vậy là phiền phức, tùy nghiệp lưu chuyển. Niệm Phật A Di Đà cũng là nghiệp, có thể gọi là tùy nghiệp lưu chuyển. Nếu một niệm sau cùng là Phật A Di Đà, quý vị sẽ đến được thế giới Cực Lạc. Còn như một niệm sau cùng là tham tâm khởi lên, bất luận là tham điều gì, tham danh hay tham lợi, chỉ cần khởi tâm tham là đi vào đường ngạ quỷ. Nếu như tâm sân nhuế khởi lên, niệm sau cùng là tâm sân nhuế là đi vào đường địa ngục. Ngu si, hồ đồ là đi vào đường súc sinh. Niệm sau cùng là nhân nghĩa, đạo đức, Ngũ luân, Ngũ thường, liền đầu thai vào cõi Người. Thượng phẩm Thập Thiện Nghiệp Đạo sinh vào cõi Dục giới. Quý vị xem, đều là một niệm sau cùng. Đây chính là khiến chúng bình thường đi tu dưỡng tâm mình, cũng phải giống như người ở thế giới Cực Lạc vậy.
Trong tập này:
CHÁNH TÀ - TÀ CHÁNH | HT Thích Thiện Đạo - KIÊU CĂNG MẤT PHƯỚC (phần cuối) | HT Thích Giác Toàn - PHƯƠNG TIỆN THIỆN XẢO | Đỗ Hồng Ngọc - VU LAN PHỤNG HIẾU (Thơ) | Thích Quảng Minh - LÒNG CHA (Truyện ngắn) | Vu Gia - PHẬT PHÁP LÀ CON ĐƯỜNG TỈNH THỨC | Minh Quang - CHÙM LỤC BÁT MẸ (Thơ) | Lâm Băng Phương - MỘT GÓC NHỎ MỖI MÙA VU LAN | Dương Kinh Thành - NGÀY VU LAN SUY NGHĨ VỀ GIỚI HẠNH | Minh Ngọc - MỘT ĐỜI MẸ GÁNH SƯƠNG RƠI (Thơ) | Bùi Hoàng Linh - NGƯỜI THẦY ĐẦU TIÊN | Nguyên Cẩn - TÌNH MẪU TỬ | Hoang Phong (dịch) ...
Người có phúc báo lớn như các bậc đế vương ngày xưa, họ có thể hưởng phú được bao nhiêu năm? Hưởng được mấy trăm năm, quý vị nói phú họ tích lũy được sâu dày biết bao. Con cháu mấy mươi đời cũng hưởng không hết phú Người bây giờ không hiểu nhân quả, không xem những cuốn sách này, cho rằng chết là hết. Chết là hết, thì còn gì tốt hơn, con người cần gì phải cực khổ như thế? Thực tế mà nói, hiểu được nhân quả, mới biết sau khi chết thật đáng sợ, phiền phức không thể tả! Nếu tạo nghiệp bất thiện, thì đến địa ngục, đến ngạ quỷ để chịu tội. Khi chịu hết tội, lại sanh đến nhân gian để trả nợ. Nợ mạng trả bằng mạng, nợ tiền trả tiền, đến lúc đó quả là đáng thương. Giết người nhiều đọa vào đường nào? Biến thành gì? Biến thành con phù du trong cõi Súc sinh. Phù du là loại trùng nhỏ bơi lội trên mặt nước.
Thuở đức Thế Tôn tại thế, giáo học, Ngài chẳng dựng đạo tràng. Nói theo hiện thời, Ngài và Tăng đoàn sống theo phương thức du mục, không ở một nơi cố định mà di chuyển khắp nơi. Ở đâu có duyên bèn đến đó. Đức Phật vô cùng tự tại, cũng chẳng có bất cứ điều kiện gì. Người nào thành tâm thành ý đến khải thỉnh, Ngài đều chấp thuận, nhận lời mời. Vì các Ngài đều trụ trong núi, rừng, ven sông, đêm nghỉ dưới cội cây, nên chẳng cần nơi chốn riêng biệt, bất luận chỗ nào cũng đều được. Đó là phương thức giáo học của đức Thế Tôn trong thuở ấy.