Trong kinh Bát Nhã, đức Phật thường nói: “Phàm sở hữu tướng đều là hư vọng”. Tướng này, ngày nay chúng ta nói hiện tượng vật chất, hiện tượng tinh thần và hiện tượng tự nhiên. Tất cả đều không phải thật, không có gì là thật cả. Vì sao vậy? Vì nó thay đổi. Con người có sinh, lão, bệnh, tử. Sanh, lão, bệnh, tử, không phải cứ mỗi 10 năm là khởi biến hóa, cũng không phải mỗi một năm khởi biến hóa. Chân tướng là gì? Chân tướng là biến hóa trong từng sát na. Chúng ta hiện nay là dùng phút giây để tính, mỗi một giây đều đang biến hóa.
3.000 năm trước, trong kinh, Phật đã nói. 3.000 năm sau những nhà khoa học này phát hiện, chứng tỏ những điều Phật giảng là thật không phải là giả dối. Nhưng những nhà khoa học này, vẫn không thể kiến tính, vẫn là một phàm phu, chẳng qua họ rất thông minh, hiểu được chân tướng sự thật, họ vẫn còn tạo nghiệp, nhưng họ không tạo ác nghiệp, mà họ tạo thiện nghiệp. Nói cách khác, đời sau thành phần sanh thiên tương đối nhiều, nhưng họ không thể thành Phật. Vì sao vậy? Những thứ họ hiểu được là giải ngộ, không phải là chứng ngộ, là dùng phương pháp số học để suy lý, sau đó dùng thiết bị khoa học để chứng minh. Đây là thuộc về tri thức, không phải là trí tuệ.
Hiện tại, chúng ta nhìn thấy người học Phật rất nhiều, nhưng không làm! Vì sao họ không làm? Vì họ không hiểu. Đọc kinh đọc rất chăm, ngày ngày đều đọc, kinh đều có thể đọc thuộc, nghĩa là gì lại không biết, không mảy may liên can gì đến cuộc sống hằng ngày của bản thân. Vậy là trở thành mê tín. Chúng ta nghĩ nghĩ xem, Phật Thích Ca Mâu Ni năm xưa tại thế, nếu như giống kiểu Phật giáo hiện nay, thì Phật giáo có thể truyền tiếp xuống được sao? Từ lâu đã bị xã hội đào thải rồi. Trong kinh điển, chúng ta nhìn thấy hành nghi của Phật Đà, trong Thích Ca Phổ, Thích Ca Phương Chí, tức là trong truyện ký của Phật Thích Ca Mâu Ni nhìn thấy hành nghi một đời của Ngài. Ngài không phải là kiểu như thế này, Ngài thật làm, làm ra cho chúng ta thấy. Đây đều là điều chúng ta nên phải học tập.
Người học Phật có cần đoán mệnh hay không? Trong kinh Phật, nói cho chúng ta rất nhiều đạo lý: Tướng do tâm sanh. Cảnh tùy tâm chuyển. Tất cả pháp từ tâm tưởng sinh. Đây đều là những điều trong kinh thường nói. Chúng ta nghe đến nỗi quen tai. Nếu như thực sự hiểu rõ đạo lý này, chúng ta còn cần đoán mệnh hay không? Không cần nữa. Phật, Bồ tát hướng dẫn chúng ta, đây là trong kinh Tiểu thừa thường nói. Trong A Nan Vấn Sự Phật Cát Hung Kinh, đã nói điều này rất rõ ràng. Chúng ta dựa vào điều gì để hiểu rõ cát, hung, họa, phúc? Dựa vào điều gì có thể tránh hung rước cát?
Ngày nay, chúng ta khắp nơi đều chướng ngại, đây đều là lục đạo phàm phu. Vì sao người ta không có chướng ngại, chúng ta lại có chướng ngại? Chướng ngại từ đâu mà có? Chướng ngại từ trong tập khí phiền não của chính mình. Đức Phật dạy chúng ta làm thế nào mới thành Phật? Buông phiền não tập khí xuống, chướng ngại chẳng phải sẽ không còn nữa sao? Tự tại liền hiện ra rồi. Vì sao vậy? Vì Tính đức trong tự tính vốn là tự tại, cho nên tự tại không phải từ bên ngoài mà đến, là chúng ta vốn có vậy.
Thứ gì đang chủ tể tất cả? Phật nói rất hay, là tâm tưởng. Tất cả pháp từ tâm tưởng sinh. Tâm tưởng chủ tể tất cả pháp. Tất cả pháp từ tâm tưởng sinh, cho nên ý niệm là rất quan trọng! Quý vị ngày ngày niệm Phật A Di Đà, quý vị ở cảnh giới gì? Cảnh giới thế giới Cực Lạc. Cảnh giới Phật A Di Đà bổn địa phóng quang. Như vậy, không hay quá rồi sao? Vậy chúng ta ngày ngày niệm Phật, vì sao cảnh giới không hiện tiền? Quý vị không biết niệm. Vì sao nói không biết? Trong một câu danh hiệu Phật của quý vị xen tạp, có hoài nghi, có tạp niệm, hơn nữa thường thường gián đoạn, cho nên quý vị cảm thấy không có lợi ích.
Thấu hiểu nguyên do của lục đạo, vì sao có lục đạo? Thì ra, lục đạo từ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, biến hiện ra. Lục đạo gọi là thế gian, gọi là pháp thế gian. Nếu đoạn tận Kiến Tư phiền não, liền vượt thoát lục đạo. Lục đạo không còn, cho nên lục đạo chủ yếu là từ Kiến Tư phiền não. Kiến Tư phiền não từ đâu mà có? Từ phân biệt mà sinh ra, từ vọng tưởng mà sinh phiền não. Không có vọng tưởng và phân biệt, làm gì có Kiến Tư? Kiến Tư, nghĩa là chấp trước.
Chúng ta tự tư, tự lợi, danh văn, lợi dưỡng, tập khí ô nhiễm này là sai! Xem bản thân mình rất cao, xem người khác rất thấp, cũng sai. Sự thật không phải như vậy. Sự thật là bình đẳng, không những mình và người bình đẳng, mà ta với côn trùng, kiến, gián cũng bình đẳng. Nhìn xuống thấp hơn, ta và hạt bụi bình đẳng, bình đẳng với tất cả pháp, bởi tất cả pháp không rời tự tính. Trong kinh điển Đại thừa thường nói: “Ngoài tâm không có pháp. Ngoài pháp không có tâm”. Tâm bình đẳng, sao pháp lại không bình đẳng? Làm gì có chuyện không bình đẳng! Không bình đẳng là do nhân duyên gì? Là không chịu buông bỏ. Buông bỏ tập khí phiền não, tâm bình đẳng lập tức hiện tiền.
Thiện căn là gì? Vấn đề này cần phải hiểu, thiện căn là Thập Thiện Nghiệp Đạo. Trong kinh nói rất rõ ràng, đây là pháp nhân thiên. Thanh Văn Bồ Đề, Duyên Giác Bồ Đề, cho đến Vô Thượng Bồ Đề, đều nương vào nền tảng này mà sinh khởi. Đây gọi là thiện căn. Đầy đủ Thập thiện trong kinh điển mới xưng là “thiện nam tử, thiện nữ nhơn”. Chúng ta thực hành được Thập thiện chăng? Quan trọng hơn tất cả, đây là căn bản của giới luật. Nếu chí tâm, tin, hiểu, ưa thích, trong câu Phật hiệu này sẽ viên mãn Thập Thiện Nghiệp Đạo.
Quý vị phải biết ai là đức Phật? Mỗi chúng sinh chúng ta đều là Phật. Giác ngộ gọi là Phật. Mê gọi là chúng sinh. Do vậy, nên trong Phật pháp nói “sinh Phật không hai”. Sinh là chúng sinh, Phật là đức Phật. Chúng sinh và đức Phật là một không phải hai. Chúng sinh giác ngộ, thì gọi là Phật, mê hoặc thì gọi là chúng sinh. Nó là một vấn đề không phải hai.
“Tự tính không sanh không diệt”. Câu này, rất quan trọng! Hiện nay, chúng ta tham sống sợ chết, quan niệm này sai hoàn toàn. Vì sao vậy? Vì không có sinh tử. Sinh tử là gì? Là thân thể, thân thể có sanh diệt, duyên tụ duyên tán, tự tính không có sanh diệt. Hiểu được đạo lý này, không phải quý vị được trường sanh rồi ư? Quý vị vốn là trường sanh, do mê mà không giác, nên tham sống sợ chết. Nếu giác ngộ được rằng, vốn là trường sanh, người người đều là trường sanh, pháp pháp đều là trường sanh, như vậy có thể buông bỏ được vọng niệm này.
Trong kinh điển Đại thừa, đức Phật dạy: “Tất cả chúng sinh vốn là Phật”, không sai chút nào. Nhưng họ mê muội, mê chứ không mất. Phật tính của chúng ta không mất đi, chỉ là nhất thời mê hoặc mà thôi. Cho dù tạo tội nghiệp như thế nào, đọa địa ngục, biến thành súc sinh, đức Phật đều không để trong lòng. Vì sao vậy? Vì biết rằng quý vị sẽ quay đầu. Quý vị vốn là Phật, tương lai nhất định quay đầu, nên Ngài không hề để những điều này trong lòng, cũng không có ý niệm trách cứ. Quý vị thọ khổ trong 3 đường ác là do quý vị tự làm tự chịu. Làm sai, thì tự mình phải chịu quả báo. Nếu Phật có tâm trách cứ quý vị, vậy là Ngài không có tâm từ bi. Như vậy, sao gọi là đại từ đại bi được?