Trong việc tu hành, quan trọng nhất là điều phục vọng tâm, khởi tâm động niệm của chúng ta. Chữ “hành” này là nói đến hành vi. Hành vi có thiện có ác. Khởi tâm động niệm, do ý niệm chỉ huy ngôn ngữ, tạo tác của chúng ta, cho nên tu hành phải tu từ đâu? Nếu nói là tu từ trên ngôn hành cũng coi là không tệ, nhưng đó không phải là căn bản, vẫn là tu hành trên phương diện cành lá. Căn bản là khởi tâm động niệm tu tốt căn bản, cành lá tự nhiên tươi tốt. Đây là khẳng định, cũng chính là điều phục viên mãn. Thực tế trong pháp Đại thừa nói, khởi tâm động niệm cũng là phiền não. Loại phiền não này, gọi là căn bản vô minh. Danh từ này rất có ý nghĩa, nên gọi là tư nghĩa. Vô minh, minh là thấu hiểu. Vô minh là hiện tại không thấu suốt. Không thấu suốt điều gì? Không hiểu rõ bản thân. Điểm này, chúng ta phải đặc biệt lưu ý.
Đức Phật chia dục vọng thành 5 loại lớn: Tài, sắc, danh, thực, thùy. 5 loại dục vọng này đều khống chế, đều không khởi tác dụng. Trong này, chúng ta phải lưu ý đến, vì sao vậy? Vì tài có thể không cần, sắc cũng có thể viễn ly, danh cũng có thể không cần, nhưng có thể không ăn ư? Có thể không ngủ ư? 2 vấn đề này hình như rất nghiêm trọng, nhưng đích thực nếu sau khi đạt được sơ thiền, nói với chư vị, không cần ngủ nghỉ, luôn luôn tỉnh táo, không cảm thấy mệt mỏi, cũng không cần ăn uống. Không cần ăn uống, dinh dưỡng từ đâu mà có? Trong kinh, đức Phật nói với chúng ta: Thiền duyệt vi thực. Thiền duyệt là gì? Phàm phu chúng ta không thể tưởng tượng được. Ngày nay, chúng ta hiểu được một chút khoa học, có một chút khoa học thường thức. Thân thể con người là một bộ máy, hoạt động của máy móc cần năng lượng. Ẩm thực là năng lượng bổ sung, ngủ nghỉ cũng là năng lượng hoàn nguyên, rất quan trọng. Người có thiền định, họ tiêu hao năng lượng rất ít.
Trong kinh Hoa Nghiêm, nói Bồ tát có 51 địa vị. 51 địa vị từ đâu mà có? Trí tuệ cao thấp khác nhau, đến từ trí tuệ, đến từ công phu thiền định. Giới Đại thừa là giới Bồ tát. Giới Bồ tát có 2 loại lớn. Một loại là vì bản thân, chuyên môn nâng cao cảnh giới của bản thân. Một loại là vì giáo hóa chúng sinh, nên gọi là chỉ trì. Chỉ là cấm chỉ. Vì bản thân rất nhiều, rất nhiều giới không được làm. Hóa độ chúng sinh gọi là tác trì, quý vị nhất định phải làm. Gặp được nhân duyên này, nếu quý vị không giúp chúng sinh, như vậy là phá giới, nên khi gặp được nhất định phải làm. Ta cũng không cần tìm cơ hội khắp nơi, không cần thiết. Tất cả đều thuận theo tự nhiên, như vậy tâm sẽ vĩnh viễn ở trong định. Mặc dù rộng độ chúng sinh, tâm vẫn ở trong định. Ngày nay, chúng ta nói hoằng pháp, hộ pháp đều ở trong định, họ được tự tại.
Trong Phật pháp, định nghĩa thật và giả rất đơn giản. Giả nó sẽ thay đổi, nó có biến hóa. Như vậy, là không phải thật. Ví dụ, trong lục đạo, con người chúng ta có sinh, lão, bệnh, tử, động vật đều có sinh, lão, bệnh, tử, đây là giả, vô thường. Thực vật có sinh, trụ, dị, diệt, thế giới có thành, trụ, hoại, không. Đây là một hiện tượng rất phổ biến trong thiên văn học hiện nay, như tinh cầu, tinh cầu trong hư không, nó là vô thường. Tuy chu kỳ của nó, con người chúng ta không thấy được, vì thọ mạng con người quá ngắn. Thái dương là một hỏa cầu, đốt cháy là năng lượng, cũng có ngày cháy hết. Cháy hết là không còn, nên tinh cầu, tinh hệ đều có thành, trụ, hoại, không. Nó sẽ có một ngày hoại, nên nó vô thường. Chúng ta không thể không biết điều này. Phàm những gì vô thường đều là giả, đều không phải thật. Thật thì sao? Là vĩnh hằng bất biến. Ý nghĩa này rất sâu sắc, chúng ta không thể không biết.
Phật pháp đích thực là triết học cao cấp, không những là triết học cao cấp, mà còn là khoa học cao cấp. Ngày nay, vấn đề mà khoa học và triết học không giải quyết được, trong Phật pháp đều có cả. Khoa học tiến bộ, sau khi có thể thăm dò được cảnh giới này, không có cách nào tiếp tục nâng cao hơn nữa, không cách nào nâng cao thêm nữa. Nếu nâng cao hơn nữa phải dùng phương pháp của Đại thừa, buông bỏ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước. Sau cùng, đức Phật nói một câu: Vấn đề minh tâm kiến tính, chỉ có chứng được mới biết.
Trong kinh Bát Nhã, đức Phật thường nói: “Phàm sở hữu tướng đều là hư vọng”. Tướng này, ngày nay chúng ta nói hiện tượng vật chất, hiện tượng tinh thần và hiện tượng tự nhiên. Tất cả đều không phải thật, không có gì là thật cả. Vì sao vậy? Vì nó thay đổi. Con người có sinh, lão, bệnh, tử. Sanh, lão, bệnh, tử, không phải cứ mỗi 10 năm là khởi biến hóa, cũng không phải mỗi một năm khởi biến hóa. Chân tướng là gì? Chân tướng là biến hóa trong từng sát na. Chúng ta hiện nay là dùng phút giây để tính, mỗi một giây đều đang biến hóa.
3.000 năm trước, trong kinh, Phật đã nói. 3.000 năm sau những nhà khoa học này phát hiện, chứng tỏ những điều Phật giảng là thật không phải là giả dối. Nhưng những nhà khoa học này, vẫn không thể kiến tính, vẫn là một phàm phu, chẳng qua họ rất thông minh, hiểu được chân tướng sự thật, họ vẫn còn tạo nghiệp, nhưng họ không tạo ác nghiệp, mà họ tạo thiện nghiệp. Nói cách khác, đời sau thành phần sanh thiên tương đối nhiều, nhưng họ không thể thành Phật. Vì sao vậy? Những thứ họ hiểu được là giải ngộ, không phải là chứng ngộ, là dùng phương pháp số học để suy lý, sau đó dùng thiết bị khoa học để chứng minh. Đây là thuộc về tri thức, không phải là trí tuệ.
Hiện tại, chúng ta nhìn thấy người học Phật rất nhiều, nhưng không làm! Vì sao họ không làm? Vì họ không hiểu. Đọc kinh đọc rất chăm, ngày ngày đều đọc, kinh đều có thể đọc thuộc, nghĩa là gì lại không biết, không mảy may liên can gì đến cuộc sống hằng ngày của bản thân. Vậy là trở thành mê tín. Chúng ta nghĩ nghĩ xem, Phật Thích Ca Mâu Ni năm xưa tại thế, nếu như giống kiểu Phật giáo hiện nay, thì Phật giáo có thể truyền tiếp xuống được sao? Từ lâu đã bị xã hội đào thải rồi. Trong kinh điển, chúng ta nhìn thấy hành nghi của Phật Đà, trong Thích Ca Phổ, Thích Ca Phương Chí, tức là trong truyện ký của Phật Thích Ca Mâu Ni nhìn thấy hành nghi một đời của Ngài. Ngài không phải là kiểu như thế này, Ngài thật làm, làm ra cho chúng ta thấy. Đây đều là điều chúng ta nên phải học tập.
Người học Phật có cần đoán mệnh hay không? Trong kinh Phật, nói cho chúng ta rất nhiều đạo lý: Tướng do tâm sanh. Cảnh tùy tâm chuyển. Tất cả pháp từ tâm tưởng sinh. Đây đều là những điều trong kinh thường nói. Chúng ta nghe đến nỗi quen tai. Nếu như thực sự hiểu rõ đạo lý này, chúng ta còn cần đoán mệnh hay không? Không cần nữa. Phật, Bồ tát hướng dẫn chúng ta, đây là trong kinh Tiểu thừa thường nói. Trong A Nan Vấn Sự Phật Cát Hung Kinh, đã nói điều này rất rõ ràng. Chúng ta dựa vào điều gì để hiểu rõ cát, hung, họa, phúc? Dựa vào điều gì có thể tránh hung rước cát?
Ngày nay, chúng ta khắp nơi đều chướng ngại, đây đều là lục đạo phàm phu. Vì sao người ta không có chướng ngại, chúng ta lại có chướng ngại? Chướng ngại từ đâu mà có? Chướng ngại từ trong tập khí phiền não của chính mình. Đức Phật dạy chúng ta làm thế nào mới thành Phật? Buông phiền não tập khí xuống, chướng ngại chẳng phải sẽ không còn nữa sao? Tự tại liền hiện ra rồi. Vì sao vậy? Vì Tính đức trong tự tính vốn là tự tại, cho nên tự tại không phải từ bên ngoài mà đến, là chúng ta vốn có vậy.
Thứ gì đang chủ tể tất cả? Phật nói rất hay, là tâm tưởng. Tất cả pháp từ tâm tưởng sinh. Tâm tưởng chủ tể tất cả pháp. Tất cả pháp từ tâm tưởng sinh, cho nên ý niệm là rất quan trọng! Quý vị ngày ngày niệm Phật A Di Đà, quý vị ở cảnh giới gì? Cảnh giới thế giới Cực Lạc. Cảnh giới Phật A Di Đà bổn địa phóng quang. Như vậy, không hay quá rồi sao? Vậy chúng ta ngày ngày niệm Phật, vì sao cảnh giới không hiện tiền? Quý vị không biết niệm. Vì sao nói không biết? Trong một câu danh hiệu Phật của quý vị xen tạp, có hoài nghi, có tạp niệm, hơn nữa thường thường gián đoạn, cho nên quý vị cảm thấy không có lợi ích.
Thấu hiểu nguyên do của lục đạo, vì sao có lục đạo? Thì ra, lục đạo từ vọng tưởng, phân biệt, chấp trước, biến hiện ra. Lục đạo gọi là thế gian, gọi là pháp thế gian. Nếu đoạn tận Kiến Tư phiền não, liền vượt thoát lục đạo. Lục đạo không còn, cho nên lục đạo chủ yếu là từ Kiến Tư phiền não. Kiến Tư phiền não từ đâu mà có? Từ phân biệt mà sinh ra, từ vọng tưởng mà sinh phiền não. Không có vọng tưởng và phân biệt, làm gì có Kiến Tư? Kiến Tư, nghĩa là chấp trước.